Trang chính » Dịch Thuật, Đông Âu/Bức Tường Bá Linh, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Sang Việt ngữ, Thơ Email bài này

thơ Durs Grünbein: Bá Linh sau thống nhất


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 1.12.2009

 

durs grunbein

 

 

Ba đoạn thơ trích từ:

Những Biến Tấu Không Đề (Variations Without a Theme)
Chân Dung cùa Nhà Thơ như Chó Canh Biên Giới (Portrait of the Artist as a Young Border Dog) (Not Collie)
Ở Những Vùng Quê (IV) (In the Provinces IV) (Campagna)

Trích từ tập thơ tuyển Tro Ăn Sáng (Ashes for Breakfast) của Durs Grünbein (nxb Farrah, Straus and Giroux: 2005)
Đinh Từ Bích Thúy chuyển ngữ từ bản dịch tiếng Anh của Michael Hofmann.

 

 

Lời  Giới Thiệu của người dịch:  Sinh năm 1962 ở Dresden và sống ở Đông Bá Linh thời thanh niên, Durs Grünbein đuợc coi là một nhà thơ sắc sảo và thành công nhất trong nhóm nghệ sĩ xuất thân từ Đông Đức, nơi mà ông nhận xét, “chỗ bình an nhất là cái miệng ngậm kín.” Thơ của Durs Grünbein vừa sống thực vừa siêu thực, vừa chính xác vừa đầy nghi vấn, vì quá khứ sống dưới một chế độ độc tài quá “thật,” quá ác nghiệt đến nỗi mọi trải nghiệm đều đượm sắc thái hoang tưởng. Sự sụp đổ của bức tường Bá Linh không giúp cái nhìn của nhà thơ được lạc quan hơn.  Những bài thơ trong Những Biến Tấu Không Đề, sáng tác năm 1994, với những bài thơ không đề, không hoàn toàn có vần, tuy theo thể sonnet với 13 giòng (thay vì 14 giòng), (ảnh hưởng bởi bài “A Part of Speech” của Brodsky), như bài về nhà tắm chia riêng khu “đàn ông” và “đàn bà” biểu hiện sự đọa đầy của nhà thơ: sau khi Bá Linh thống nhất, người dân với quá khứ Đông Đức vẫn sống trong sự chia cách giữa “giới tính” Đông và Tây, trong sự lú lẫn của những vết thương lịch sử. Tương tự, những đoạn trong Chân Dung cùa Nhà Thơ như Chó Canh Biên Giới, nhà thơ so sánh mình như một con chó canh biên giới, đứng trên “giải đất tự sát giữa Đông và Tây.” Ông nhận xét, “thời thanh niên tôi như nửa cái xác chết không hồn, nửa enfant perdu.” Sau khi bức tường đã sụp đổ, ngay cả biến chuyển lịch sử này cũng là một đe dọa, một phủ định cho những ngăn cách không thể lấp trống, vì khi “hai hay ba cái tên cho địa giới của chia cách” đã biến vào quên lãng, “không còn gì để nhớ lại trò ảo thuật/ khi một giải đất bị trở thành một lỗ hoác của thời gian.”  Những biểu tượng trong thơ của Durs Grünbein, như bức tường lúc trước ở giữa Đông và Tây Đức, cũng ác hiểm như những con dao hai lưỡi. “Con ếch mang hình thập tự” không mang đến niềm hy vọng như một hứa hẹn cứu rỗi, mà có thể là sự phục sinh của Phát-xít (cũng có biểu tượng như hình thập tự), với “bọc trứng/của đám ruồi sẽ sinh nở từ xác ếch.” Giấc mơ của con người bị đầy đọa, như vậy, chỉ có thể là “nước chảy rỉ” từ một cái xác.

Tóm lại, thơ của Durs Grünbein, như bữa tro làm điểm tâm buổi sáng, tuy đắng ngắt và làm người ăn bị ho, sặc, là một cách đánh thức tâm trạng, là sự nghi vấn chân thực về mọi hứa hẹn của chính trị, lý thuyết và lịch sử. Cái nhìn khắt khe của Durs Grünbein về quá khứ và hiện tại Đức quốc cũng là một cách “tu chỉnh” những nhận định quá khả quan, hay quá “trung tính” của những nhà chính trị và lịch sử học.

Vì không biết tiếng Đức, tôi đã dùng bản dịch Anh ngữ của Michael Hofmann để chuyển dịch sang tiếng Việt. Hofmann tin vào cách dịch “làm cho những bản dịch thành ‘tự nhiên’ và ‘thoải mái,’ như những bài sáng tác nguyên thủy.” Ông nói, “cái tệ nhất trong chuyện dịch là tính chất guợng ép, thụ động, như ‘bị điều khiển’ của ngôn ngữ dịch mà người Đức gọi là ferngesteuert. Tôi muốn dịch những bài thơ thực sự như những bài thơ … Chúng không thể cứng ngắc, xa lạ, hay chết.” Cùng trong ý thức này, tôi cũng hy vọng rằng những bài thơ dịch sang tiếng Việt của Durs Grünbein giữ được tính chất linh động và “đắng” của nguyên bản.

 

ashes for breakfast cover

 

 

 

Những Biến Tấu Không Đề

(Trích từ Nếp Gấp và Bẫy – Falten Und Fallen) (1994)

 

Phòng lạnh nhất thành chỗ tắm hơi
khi mình đi lạc. Những bậc thang dốc thẳng
xuống lòng trái đất, mùi nồng nặc
làm nghẹt thở, sự chia cách nghiêm túc
giữa Đàn Ông và Đàn Bà … Cánh cửa đẩy lầm,
chỉ có thế, làm mình đi lạc
sang những khu cấm ngặt, đến những bức tường
nguệch ngoào những giòng chữ thâm, dâm ở bên kia.
Không có gì khắc nghiệt hơn giới tính.
Giam hãm trong từng gian, lỗ tai nghe
tiếng giật nước từ âm phủ, ruột già, lòng cầu chuyển,
Một mình ngồi, tởm, nứng, dồn
xác thân mơ màng đếm gạch lát sàn nhà.

 

 

Variations Without a Theme

(From Falten Und Fallen) (1994)

 

The coldest room becomes a sauna
To your straying. How steeply the steps
Lead down into the earth’s interior, how choking
The smell, how strict the separation
Of Ladies and Gentlemen … The wrong door,
No sooner touched, leads you astray
To forbidden zones, to walls scribbled
With the witty obscenities of the other side.
Nothing so confining as gender.
Locked into cubicles, all ears to the pump,
The Stygian flush, the bowels and bowls,
Alone with disgust and desire,
The body pressed dreaming to the tiles.

   – trans.  Michael Hofmann

 

 

 

Chân dung của nhà thơ như con chó canh biên giới

(Trích từ Bài Học Đáy Sọ – Schadelbasislecktion) (1991)

 

Là chó như bãi đậu xe trống lúc giữa trưa.
“Đồ ăn hại ….” và những đợt say sóng trên đất liền.
Là chó như thế này thế nọ, học lời răn dạy từ đống rác,
cú đấm cho bữa tối, cái cực sướng từ vũng bùn.
Là chó như bất cứ điều gì sẽ tiếp diễn, chuyện bất thường
là mẹ của mọi chán nản và đời sống vô nghĩa.
Là chó như phải đối diện với địch thủ lớn hơn mình–
Thời gian giết chết mình với những khoanh xiềng bất tận.
Quá nhiều cái thừa mứa trong không gian không thể cựa ….
Là chó như trò leo lên con tàu ma ngôn ngữ
chạy trên đường rầy của tráo trở chắn lối đi.
Là chó như phải theo khi không muốn, muốn
khi không được, lúc nào cũng bị nhòm, rình.
Là chó?
Như mùi hôi dính liền với ngôn từ.

 

 

 

Portrait of the artist as a young border dog (not Collie)

(From Schadelbasislektion) (1991)

 

Being a dog is an empty car park at noon.
"Nothing but trouble …” and seasickness on land.
Being a dog is this and that, taking instruction from garbage heaps,
A knuckle sandwich for dinner, mud orgasms.
Being a dog is whatever happens next, randomness
The mother of boredom and incomprehension.
Being a dog is being up against a bigger opponent
Time, which does you in with endless chain-links.
So much of too-much in a tiny space …
Being a dog is a ride on the ghost train of language,
Which keeps throwing their clever obstructions your way.
Being a dog is having to when you don’t want to, wanting to
When you can’t, and always somebody watching.
Being a dog?
It’s the bad smell attaching to your words.

   – trans.  Michael Hofmann

 

 

 

Ở Những Vùng Quê IV

(Campagna)

 

Con ếch hình thập tự
nằm bẹt trên đoạn đường quê
còn nóng hổi. Miệng há hốc
quăn queo hướng trời, khốc khô nắng
như vệt giầy ai, mới thoạt nhìn—
di tích lưỡng cư từ thời đại cũ
mắc kẹt dưới bánh xe.
Không có phục sinh, trừ bọc trứng
của đám ruồi sẽ sinh nở từ xác ếch.
Giấc mơ chảy rỉ từ khiếu nào?

 

 

 

In The Provinces IV

(Campagna)

 

A cruciform frog
Lay flattened against the hot macadam
Of the country lane. Mouth gaping
It curled heavenwards, dried out by the sun,
The sole of a shoe, as first appeared—
An amphibious holdout from an older era
Now caught under the wheels.
No resurrection, save in the form of the larvae
Of the flies that will hatch from it tomorrow.
The dream leaks out from which orifice?

   – trans.  Michael Hofmann

 

 

 

.

bài đã đăng của Durs Grunbein


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)