Tôi quen bé năm ngoái. Lúc đó nền trời chưa được nhợt nhạt như bây giờ, nó có những đốm sao sáng như những hột kim tuyến xúm xít với nhau, rải đầy trên một cái bớt mọc đầy lông. Ngôi sao nhiều vô kể – Tôi toàn nghĩ vậy. Nhưng bé thì kể được hết những ngôi sao đó. Có tới khoảng hai tỉ ngôi sao nếu bé muốn, và cũng có thể chỉ có vài triệu hột kim tuyến nếu bé vội chết đi. Bé đã chết thật rồi. Bầu trời chỉ vẻn vẹn một ngàn ba trăm mười bốn ngôi sao, dù tôi có sống thêm mười bảy vạn năm, cũng không kể được nhiều hơn. Ngày bé chết, tôi bỏ đi như một khúc củi sổng chuồng. Con đường trước ngôi nhà cũ kĩ ánh lên những sắc vàng nhõng nhẽo. Những cây sắn, cây xoài ghì lấy vành tai nhau. Một cây Kơ Nia thả tóc đứng sựng đầu đường, cái bóng rũ rượi của nó đang tan vào một màu thức uống dang dở. Tôi nhìn thấy những ngọn gió lam nhạt, nhưng thật ra đó là những ngọn cỏ lau đang tự nguyện rùng mình.
Ngày bé gần chết, tôi im lìm thấp thoáng như một buổi trưa hè, với những mái nhà ngỗ ngáo ngoạm lấy những miếng tường gỗ đầy cam chịu. Nền đất tím như mực, nước dưới thủy lợi đỏ ngầu cá biệt với các loại đồ uống đang bị tạm giam quanh đó. Dưới thủy lợi có một thân cây to xác, già cỗi, nằm đo ngang mặt nước, dường như đã chết rồi, nhưng luôn ẩm và cục cựa mơ hồ. Bé ngồi chơi trên thân cây, tươi tắn như một con cóc con với lớp da trơn màu lá ướt. Bé khẽ hát: "Tao là con chim giấy, tao bay gần mặt trời, mặt trời sẽ chết cháy, còn tao hóa thành người". Chỉ hát tới đó. Rồi thân cây già cỗi vội vàng tỏa ra một thứ không gian bồi hồi trống trải, và buổi trưa là tôi, thì im bặt.
Tôi ghé sát mặt bé, sát lớp da không thể nào mượt lông hơn, và tự đẩy tâm tưởng mình tới một cánh đồng kì quặc. Đó là một đồng lúa không có lấy một chỗ nham nhở, là nơi đã đánh cắp khỏi tôi những đặc điểm khác nhau của lúa non và lúa chưa non. Tôi đi vào con đường thẳng tắp như một cây thước kẻ nằm chặn giữa cánh đồng. Phía trước là những hàng cây luôn ra vẻ bí hiểm, ghê sợ, nhưng khi đến gần chúng đều để lộ một chút gì đó ngồ ngộ. Nhưng con đường quá dài, vẻ bí hiểm lông lá không thể hoàn toàn biến thành cái gì ngồ ngộ chỉ trong vài trăm ngàn khoảnh khắc háo hức nối nhau. Tôi bắt đầu mệt mỏi pha lẫn lo lắng. Tôi đã bỏ quên một nỗi trăn trở mịn màng phía sau lưng, nhưng tôi lại hiểu rằng nếu tôi quay lại nó sẽ hư mất. Nơi đó chỉ có mình tôi, nghĩa là không có bé, và cũng không còn ai biết đến bé nữa, kể cả bé. Tôi dừng lại, lượm lấy một cành cây khô, tôi sẽ vẽ lại hình thù của bé ngay dưới đất này. Cành cây khô sẽ đâm vào cổ chai kí ức của tôi để tạo ra những cái lỗ Chân trời. Lỗ Chân trời. Lỗ Chân trời…
Tôi thử hình dung những đường nét đầu tiên giành cho cái lỗ Chân trời của bé. Nhưng khi cành cây vừa chạm vào đất, một tiếng kêu khẽ vụt lên, nó là một tiếng rên của mặt đất nếu như tôi không cố gắng huyền hoặc nó. Tôi liền vứt cành cây xuống ruộng. Tâm trí của tôi rớt xuống dòng nước mát lạnh, kêu "BÕM…" một tiếng. Tôi chợt nhận ra là gương mặt và lớp da kia đã không còn kề cận mình nữa. Dòng nước thủy lợi đang bơi về phía mặt trời lặn, còn tôi tưởng tượng ra một con cóc màu xanh lá ướt đang nằm nghiêng trong dòng nước đó.
Tôi nuốt vội cái viên thuốc tưởng tượng vừa chua vừa đắng và vừa bỡn cợt kia để trôi về nhà. Nền trời đã xuống sắc. Mặt trăng chỉ đủ sức tỏa ra thứ ánh sáng lạnh lẽo lên con đường hẹp với hai dãy cây cối nhô cao hơn đầu bò. Tôi trôi thẳng một mạch, dậm lên những tiếng bước chân tò mò và rỗng tuếch của mình. Đường về nhà phải trôi qua một nghĩa địa của người dân tộc thiểu số. Tôi luôn bị đớ lưỡi mỗi lần phải đọc tên của dân tộc này, nhưng tôi biết bé thuộc nòi dân đó. Ánh mắt bé nhìn vào tôi, đâu có khác gì những ánh mắt vô hình vẫn dội ngược vào mắt tôi khi tôi nhìn qua khu nghĩa địa. Và cái vẻ im ắng, thành khẩn, đơn độc, chết chóc của bé, của một giống người đang trang sức mình bằng cái nguy cơ tuyệt chủng, đâu có dễ tìm thấy ở những nơi khác ngoài cái nghĩa địa rụt rè không dám trang sức mình dù chỉ bằng một đóa hoa kia. Hai con mắt tròn lựng ngây dại và hút hồn, tới mức khi đã nhìn vào đó thì không còn đủ ngờ vực để cảm nhận một chút cử chỉ nhợt nhạt đang rành rành trước mặt.
Buổi sáng sau hôm đó, tôi được tin bé chết. Một cái chết mê man tuyệt vọng trong dòng nước thủy lợi đỏ đục. Người ta nhìn thấy thi thể của bé sau khi nó bị vướng vào những rễ cây dại đang hả hê uống nước. Người ta đã ẵm bé lên, dùng nước đái bò nguyên chất rửa sạch bùn đất trên mình bé, đem nước mắm pha loãng bôi khắp người bé, lấy bột mì nhão dán kín hai mí mắt của bé, rồi chôn bé vào một cái lỗ mốc meo trong nghĩa địa. Chỗ đó tôi sẽ không được ngửi. Mộ ở đó nhiều vô kể và không ai đang sống muốn tỏ ra rằng mình là người có tham dự vào một trong những cuộc lấp lại những cái lỗ mà thậm chí còn chưa có tên chính thức: khi thì lỗ Định mệnh, khi thì lỗ Chui về, lỗ Cực lạc, lỗ Chân trời, lỗ Nước mắm. Những người báo cho tôi tin bé chết, thì sau giây phút đó, đã hoàn toàn rời khỏi buôn làng.