Trang chính » Dịch Thuật, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Ngôn Ngữ, Song ngữ, Thơ Email bài này

Thơ song ngữ của Duy Đoàn

♦ Chuyển ngữ: 0 bình luận ♦ 24.08.2023
We-Play-A-Game-cover_thumb.jpg

*Đinh Từ Bích Thúy giới thiệu và hiệu đính

clip_image002Duy Đoàn
(Photo: Jess X Snow – Nguồn: Poetry Foundation)

Duy Đoàn là tác giả tuyển tập thơ We Play a Game được giải thưởng Yale Younger Poets năm 2017. Tác phẩm của anh đã xuất hiện trên các tạp chí Poetry, Slate, The Cortland Review, và những nơi khác. Duy Đoàn được học bổng danh dự của Trung tâm Văn hóa Kundiman, và tốt nghiệp bằng Thạc sĩ Sáng tác Thơ (Master of Fine Arts in Poetry) từ Đại học Boston, nơi anh hiện đảm trách Favorite Poem Project (Dự Án Bài Thơ Yêu Chuộng).

“Three Tongue Twisters” là bài thơ song ngữ của Duy Đoàn trong thi tập We Play a Game (*chỉ có những chỗ có chữ viết đỏ trong ngoặc [ ] là được Da Màu dịch sang tiếng Việt.) Những bài thơ của Duy Đoàn thiên về thử nghiệm và những đối chiếu cấu trúc trong hai ngôn ngữ Việt, Anh. Thơ của anh thoạt nhìn tưởng ngô nghê, nhưng thật ra tinh tế trong cách chất vấn cấu trúc, âm điệu ngôn ngữ, hao hao giống cách chơi chữ của Nhóm Mở Miệng cách đây gần hai mươi năm.

We Play A Game cover

Nhà thơ Carl Phillips, trong Lời Mở cho tập thơ, phân tích trò chơi điệp âm (alliteration) của Duy Đoàn. Trong Anh ngữ, sự điệp âm, gọi là tongue twister (vấp lưỡi) khi nói liền một hơi, như câu “Peter Piper picked a peck of pickled peppers” (“Thằng Peter Piper nhặt một mảnh ớt muối”) sẽ gây ra chuyện “xô xát” phần nhiều cho phụ âm (tương tự như những chiếc xe trong tai nạn xa lộ đụng nhau rồi dồn lên một ụ), nhưng khi chuyển qua Việt ngữ, trò chơi vấp lưỡi nói nhanh sẽ làm người chơi bị vấp ở nguyên âm và cũng có thể làm sai trật / dồn đụn âm điệu, tước đi ngữ nghĩa, dần biến ngôn ngữ thành nhạc điệu hay âm vọng của thuở sơ khai.

Three Tongue Twisters [Ba Bài Vấp Lưỡi]

Bốn bạn bán bốn bàn bẩn

Four friends sell four dirty tables


i. Personal Ad [Tìm Bạn Bốn Phương]

Con chim tim tím tìm

con chó trẻ trẻ.

Con chó trẻ trẻ chê

con chim tim tím.

Purple-hearted bird

seeks

youngish dog.

Youngish dog is

not impressed by

Purple-hearted bird.

ii. Dessert [Tráng Miệng]

Cô con cần cắt trái cây.

Trái cây cần cất con cây.

Auntie has to slice up the fruit.

The fruit had better hide the children

of the tree.

iii. Breakup [Bồ Bố Bỏ Bố]

Bồ Bố bỏ Bố hôm qua

Hôm qua bồ Bố hôn con,

hôn con hôn con hôn con hôn con.

Daddy’s girlfriend left him yesterday.

Yesterday

daddy’s girlfriend kissed me,

kissed me kissed me kissed me kissed me

Hai bài “Spelling My Name, or Proof of the Military Industrial Complex” (“Cách Đánh Vần Tên Tôi, Hoặc Bằng Chứng của Dịch Vụ Công Nghiệp Quân Đội”) và “Spelling My Name in Vietnamese, or Proof of the Military Industrial Complex” (“Cách Đánh Vần Tên Tôi Theo Tiếng Việt, Hoặc Bằng Chứng của Dịch Vụ Công Nghiệp Quân Đội”) nhại tục lệ đánh vần tên người qua điện thoại ở Mỹ, bằng cách dùng nguyên âm và phụ âm ghép vào những khái niệm hoặc ẩn dụ thông thường của văn hóa Mỹ, quân đội Mỹ. Bài trước đánh vần tên Duy Doan (Duy Đoàn) với tên gọi (Duy) đi trước tên họ (Doan/Đoàn), và bài sau với tên họ (Doan/Đoàn) đi trước tên gọi (Duy). Nghĩa của bài thơ ở đây dựa trên những thành kiến văn hóa đã in sâu vào tâm thức (từ sự giao tiếp hàng ngày của dân Mỹ bản xứ, từ những phim Hollywood về chiến tranh Việt Nam) nên không cần/không thể dịch xuôi chảy sang tiếng Việt, với những chữ như “delta” (vừa là chữ D của Hy Lạp, vừa có nghĩa là đồng bằng), “yankee”(lính Mỹ, dân Mỹ), “alfa” (vừa là A của Hy Lạp, vừa ám chỉ alpha male – người đàn ông có khả năng chinh phục hoặc lấn lướt, sai khiến người khác.) Nhưng nếu bị tách rời ra khỏi ngữ cảnh, những chữ được dùng để đánh vần tên người – nói chung là tạo nên bản sắc của một người – đọc lên sẽ giống như một bài tụng kinh, một bản rap, hoặc sẽ trở nên vô nghĩa, biến thành “âm thanh và cuồng nộ.”

spelling my name, or proof of the military industrial complex
[cách đánh vần tên tôi, hoặc bằng chứng của dịch vụ công nghiệp quân đội]

delta uniform yankee

bravo alfa

delta oscar alfa november

spelling my name in vietnamese, or proof of the military industrial complex
[cách đánh vần tên tôi theo tiếng việt, hoặc bằng chứng của dịch vụ công nghiệp quân đội]

delta oscar alfa November

bravo alfa

delta uniform yankee

 

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)