Gwendolyn MacEwen (1941-1987): thi sĩ người Canada, tác giả của 26 tác phẩm, trong đó tuyển tập thơ The Shadow Maker đã đoạt giải Governor General’s Award vào năm 1969. Ít lâu sau khi qua đời vào năm 1987, bà lần nữa đoạt giải Governor General’s Award cho tập thơ Afterworlds.
‘Tĩnh mịch, tôi đặc biệt liên tưởng đến
những người Ai Cập, sự tĩnh mịch của đợi chờ, không phải của cái chết.’
– Henry Moore
Em mong mỏi được trở về bên anh biết bao,
vào trong thế giới chói lòa của tuổi trẻ chúng ta.
Em đeo những chiếc nhẫn ở ngấn đầu của ngón tay
như các cô nàng ở Pompeii. Em đeo
màu đỏ và xanh và vàng kim của Ur*,
Em đeo trang sức bạo tàn của Babylon.
Năm tháng bò qua như những con bò cạp.
Trong choạng vạng và những cái bóng dài ngoằng của quá khứ em đã
nằm bên dưới xương sườn anh, em đã
ở giữa cặp chân anh, em đã
ở trong tâm tư anh.
Em mong mỏi được cảm giác hành trình thấm đẫm
của bàn tay anh vuốt dọc sống lưng em.
Em mong mỏi được trở về bên anh biết bao,
vào trong thế giới đen huyền của chiếc miệng anh.
Em mong mỏi anh lắm, người anh em, linh hồn em.
*một thành phố thời trung cổ, vị trí đó là một thành phố ở Iraq hiện thời
Trong trận mưa dường như không bao giờ ngớt
Em ôm nỗi cô đơn độc nhất
Và chung sống với nó cho đến khi thành bè bạn
Và ném bài thơ man rợ này vào khối nước.
Yêu dấu, em không thể nào cứu anh khỏi đời sống anh
hoặc anh khỏi đời sống em, nhưng em hứa với anh những lời này
thật thà như tên của chúng ta, như đau đớn mình đã biết
của sự đến và đi, bơi và đuối của chúng ta.
Thế giới kiếp sau là kiếp trước, là kiếp này,
Là rạng đông khi anh kéo căng như dây cung
hoặc rời rạc như chiếc cầu di động, hoặc quả thực
lỏng và trữ tình như cái thương ném vào trong nước.
Nên em ném đồng xu cổ này vào khối nước—
(Giá trị của nó đã bị hủy từ xa xưa)—
Lễ vật cho Charon*, người biết rõ ngọn ngành
của sự đến và đi, bơi và đuối của chúng ta.
Và sẽ dẫn dắt hai ta qua khối nước cuối cùng.
*Charon: theo truyền thuyết Hy Lạp, là người đưa đò dẫn dắt linh hồn kẻ mới chết qua sông vào cõi âm.
Chuyển ngữ từ “A Stillness of Waiting” và “A Coin For The Ferryman” trong tuyển tập Exile, tập san hàng quý, bộ 16, số 4, trang 84-5.
.