Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác giả, Phỏng vấn Email bài này

phỏng vấn herta mueller: qua ngôn ngữ tìm thấy chân lý


♦ Chuyển ngữ:
1 bình luận ♦ 12.10.2009

Ghi chú của dịch giả Thái Kim Lan: Lothar Schroeder phỏng vấn Herta Mueller (HM) nhân dịp bà được trao bằng danh dự của Hội Henrich Heine ở Duesseldorf vào cuối tháng 9. 2009. (Nguồn: RPOnline). Quyển tiểu thuyết mới nhất Atemschaukel (Xích đu hơi thở) của bà vào thời điểm này đang được xếp vào lược bình chọn cuối cho giải thưởng sách Đức năm 2009.

Lẽ ra cuốn tiểu thuyết này có hai tác giả. Tuy nhiên sau khi nhà thơ Oskar Pastior (OP) qua đời cách đây 3 năm, HM đã tiếp tục viết một mình: Xích đu hơi thở, một tác phẩm về số phận và sự phát vãng của những người Đức gốc Lỗ mã ni sau cáo chung của Đại thế chiến thứ hai. Quyển tiểu thuyết được ca ngợi như là bản “Trần tình của hoài niệm” đã nằm trong danh sách tuyển chọn đợt cuối cho Giải thưởng sách Đức 2009. Nhưng bất ngờ H. M. được giải Nobel văn chương ngày 08. 10. 2009 với tác phẩm này.

Tuy cuộc phỏng vấn đề cập đến sự kiện trao bằng danh dự Heinrich Heine nhưng nội dung phát biểu của HM về sự hình thành của tác phẩm đã đem giải văn chương cao nhất cho bà vẫn còn thời sự để tham khảo.

herta-mueller-atemschaukel-150

LS: Số phận của những người Đức gốc Lỗ mã ni (Rumanien) ngay sau chiến tranh không phải là một sự bí mật, tuy thế ở nước Đức, hầu như không ai biết đến vấn đề ấy. Theo Bà, có phải văn chương là kẻ trung gian của quá khứ?

Mueller: Chỉ có văn chương cho ta khả thể trổi lên từ lịch sử của mỗi con người riêng lẻ. Văn chương đạt được chân lý qua sáng tạo, văn chương hình dung chân lý qua ngôn ngữ. Nhưng chỉ có sự nghiên cứu lịch sử mới có thể tài liệu hóa một biến cố và giới thiệu nó như một hình ảnh toàn thể. Nghiên cứu lịch sử có thể khám nghiệm truy cứu và dựa vào sự phân tích để đưa ra những kết luận trên phương diện xã hội, chính trị và tâm lý. Cả hai, văn chương và nghiên cứu lịch sử đều cần thiết như nhau – chúng bổ túc lẫn nhau.

LS: Thỉnh thoảng Bà có nghĩ đến trường hợp Oskar Pastior sẽ nói gì về “Xích đu hơi thở” không? 

Mueller: Tôi nghĩ đến OP mỗi ngày – với và không với “Xích đu hơi thở”. Bởi vì tôi thiếu anh như một người bạn thân. Anh ấy đã ước mơ nhiều về quyển sách này và đã bỏ ra nhiều thì giờ trong những năm cuối để kể cho tôi nghe về những năm trong trại lao động. Đối với anh, kể lại cho người khác nghe về điều ấy thật là quan trọng. Và càng gặp nhau thường xuyên hơn thì điều đó lại trở nên càng quan trọng hơn. Đối với tôi quả là một may mắn được anh ấy sẵn sàng đặt mình vào trong khoảng thời gian trại tập trung một lần nữa. Tôi tin rằng, đối với anh, điều ấy đã là một sự cần thiết vừa hành hạ anh mà cũng vừa làm anh hạnh phúc. Đến phút cuối cùng OP vẫn còn giữ vẻ trẻ trung (OP sinh năm 1927 và mất lúc 79 tuổi, ghi chú của người dịch), tôi quên luôn sự khác biệt tuổi tác khi chúng tôi ngồi với nhau. Anh ấy vừa lém lỉnh, vừa ưu phiền, vừa tỉnh lẻ mà cũng vừa toàn cầu trong cùng một lúc và trong cùng một cách chỉ riêng của anh. Và như thế OP vừa trực tính mà vừa kín đáo trong cùng một con người

LS: Bà sẽ diễn tả phần tham gia của ông ấy vào quyển sách như thế nào? 

Mueller: Tất cả những chi tiết của đời sống hàng ngày ở trại, những tài liệu và những qui trình công việc, những tưởng tượng về cái đói như “thiên thần đói” – đối với anh ấy, một chữ hoàn toàn bình thường cho “ thời điểm không” như anh ấy nói. Cũng cụ thể như chữ “trại”. Anh ấy đã rất tin tưởng ở tôi. 

LS: Để tìm một ngôn ngữ xứng tầm với nỗi khổ trong quyển tiểu thuyết ấy, đã khó khăn cho Ba như thế nào? 

Mueller: Đề tài tự tìm lấy ngôn ngữ cho nó, và chính ngôn ngữ buộc ta phải chính xác từng li. Người ta phải dấn thân vào trong sự kể chuyện thế nào cho những sự kiện vỡ vụn ra. Chỉ như thế chúng mới có thể diễn đạt được tận trong những phần nhỏ nhất và tận trong chi tiết. Một cơn chấn thương phải được xé ra trong từng chi tiết, nguyên nhân đã gây ra hội chứng ấy. Một văn bản chẳng bắt đầu được điều gì với duy khái niệm “chấn thương” hay “tổn thương”.

LS: Heinrich Heine có vai trò gì đối với bà – trong lúc nhân danh thi hào này Bà được vinh danh – và lần đầu tiên bà biết tác phẩm của ông ấy vào lúc nào?

Mueller: Trong một sách giáo khoa đã có bài thơ “Lorelay” – tôi còn nhớ rõ. Nhưng khi tôi bắt đầu viết, Heine đã không đóng vai trò gì cả. Thời ấy tôi là thông dịch viên ở trong một xưởng chế tạo máy móc và đã cưỡng lại không chịu làm kẻ chỉ điểm cho mật vụ. Tôi ngồi trong bẫy của những sách nhiễu hàng ngày cho đến khi tôi bị đuổi ra khỏi xưởng. Sau đó hết thẩm vấn này đến thẩm vấn khác không dứt, và chính cái cơ quan mật vụ đã đuổi tôi ra khỏi xưởng lại mệnh danh tôi là phần tử ăn bám.

LS: Và đó đã là nguyên do để viết? 

Mueller: Trong thế gọng kìm này tôi bắt đầu với một số đoản thiên văn xuôi của tập Những vùng đáy (Niederungen) để tự mình quyết chắc cho mình. Tôi sục sạo quãng đời của mình, thời thơ ấu trong tấm làng nhỏ bé, quá khứ SS của cha tôi, sự dính líu của thiểu số người Đức trong tội ác của Nazis, sự độc đoán của chế độ độc tài trong đó bấy giờ tôi đang sống. Heine đã không đứng một chỗ nào trong quãng đời bị đẩy đưa qua lại ấy.

LS: Và hôm nay? 

Mueller: Người ta e ngại làm một cuộc so sánh những nỗi sợ hãi riêng, sự tróc nã, vu khống, lưu đày với số phận của Heine, khi người ta – như tôi – có người cha làm lính SS. Tôi không có mặc cảm tội lỗi; lúc ấy tôi chưa chào đời. Tuy thế một người cha vẫn là một thành phần của tiểu sử riêng; điều đó không thay đổi được. Người ta nhìn thẳng vào mắt thời gian của chính mình, nhưng đâu đâu cũng đều có một kính chiếu hậu. Và trong đó an tọa quảng đời của song thân. Nhưng cái kính chiếu hậu cũng biết rõ, Heine đã đau khổ đến thế nào dưới chủ nghĩa bài Do Thái thời ông. Nhưng nếu không có hơi thở của cha tôi thì mỗi so sánh giữa thời của Heine và thời của tôi trong một quốc gia kiểm soát theo cách xã hội chủ nghĩa sẽ khó đặt ra.

bài đã đăng của Lothar Schroeder


1 Bình luận »

  • Pantan says:

    Người ta đang giết dần mòn sự trong sáng và đẹp đẻ của Tiếng Việt( Tiếng mẹ đẻ của người Việt) bằng những bài viết chuyển ngữ, dịch thuật thiếu cân nhắc khi dùng từ, vì quá ham muốn sự sáng tạo ra những ngôn từ đẹp.

    Tôi đã đọc rất nhiều bài viết của dịch giả Thái Kim lan. Nhưng thật là đến một lúc nào đó sự yên lặng của suy tư của tôi bổng dưng cũng muốn viết một vài câu trăn trở để nói lên cái sự thật rằng: Chuyển ngữ mà dùng những từ có âm vang phô trương, trình điễn cái hãnh tiến cao độ về sự thấu hiểu bản chất của ngôn từ và khoa trương cái sở học bí ẩn của mình thông qua ngôn từ trong các bài chuyển ngữ hay dịch đã làm cho người đọc không thể nào có thể hiểu được nghĩa của những từ này: “PHÁT VÃNG”( từ này nằm ở cuối dòng thứ hai của đoạn văn thứ hai ở phần đầu tiên có tiêu đề:GHI CHÚ CỦA DỊCH GIẢ THÁI KIM LAN_ “Xích đu hơi thở, một tác phẩm về số phận và sự phát vãng của những người Đức gốc Lỗ mã ni sau cáo chung của Đại thế chiến thứ hai.”). Rồi đến từ: “KHẢ THỂ” (chỉ có văn chương cho ta khả thể trổi lên từ lịch sử của mỗi con người riêng lẻ. Văn chương đạt được chân lý qua sáng tạo, văn chương hình dung chân lý qua ngôn ngữ.)

    Qủa thật tôi không thể hiểu được nghĩa của những từ mà dịch giả Thái Kim lan dùng, với tôi nó thật tối nghĩa. Bởi có lẻ cái mục tiêu cuối cùng mà dịch giả mong muốn ở người đọc thông qua những bài chuyển ngữ của dịch giả mà biết được cái sở học bí ẩn khổng lồ của dịch giả chăng.

    Cũng giống như trong bài viết lời nhận định về thơ của nhà thơ Đức HOELDERLIN nói chung và riêng bài thơ HEIDELBERG cũng của nhà thơ này nói riêng thì dịch giả cũng dùng những từ HÁN VIỆT Đà BỊ DỊCH GIẢ BẺ GÃY ĐI RỒI LẤY RÂU ÔNG NỌ CẮM VÀO CẰM BÀ KIA để ngôn ngữ mình diễn đạt được mặc một chiếc áo lấp lánh những ánh sáng kêu rổn rảng, mà tiếng kêu này làm cho người đọc không thể hiểu nổi nghĩa của các từ này muốn diễn đạt điều gì, ví dụ như: “NGÔN THI, KHẢI NGHIỆM…”đó là chưa kể mở đầu bài viết cảm nhận của dịch giả thì người đọc cảm thấy giống như mình đang bước vào một ngôi nhà mang không khí của một bà thầy cúng, với “chạm đỉnh thần linh ngôn ngữ Đức” rồi “sức mạnh sáng tạo của thần linh nhập thể con người”.

    “Hậu bối” này cũng là một “tín đồ chính tông” của văn chương nhưng đọc những bài viết của “tiền bối” dịch giả Thái Kim Lan. Bài nào tôi cũng thấy lạnh xương sống vì cấp độ sáng tạo ngôn ngữ Việt của dịch giả thật là lênh láng bằng phương pháp chặt đứt, bẻ gãy, và ráp nối tùm lum giữa các từ đã chặt, đã bẻ ra sao cho nó thật kêu rổn rảng mới thôi.

    Những từ đó kêu thì có kêu, đẹp thì có đẹp, uyên thâm thì có uyên thâm nhưng làm cho các hậu bối đọc không hiểu được.

    Vẻ đẹp của tiếng mẹ đẻ nằm ở nơi nào trong các trang chuyển ngữ, dịch thuật của các tác giả nói chung và của dịch giả Thái Kim Lan nói riêng.

3 Pingbacks »

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)