Trang chính » Bàn Tròn: Chiến Tranh Việt nam, Dịch Thuật, Diễn từ, Sang Việt ngữ Email bài này

Nhìn xa hơn Việt Nam: Đã đến lúc phá vỡ im lặng

♦ Chuyển ngữ: 0 bình luận ♦ 4.04.2022

 

Lời người dịch: Mục sư Martin Luther King Jr là nhà hoạt động cho dân quyền, chủ trương bất bạo động và chống chiến tranh. Ông đọc bài diễn văn “Beyond Vietnam: A Time to Break Silence” tại buổi họp của tổ chức Giáo sĩ và Thường dân Quan tâm đến Việt Nam ở Riverside Church, New York City, ngày 4/4/1967. Đúng một năm sau, ông bị bắn chết ở Memphis, bang Tennessee. Hơn nửa thế kỷ sau, chiến tranh và những đoàn người bỏ quê hương đi tìm đất sống vẫn thường xuyên diễn ra khắp thế giới. Trong bối cảnh ấy, lời kêu gọi của M.L.K. vẫn còn ý nghĩa: nếu muốn tồn tại, chúng ta cần một cuộc cách mạng về nguyên tắc ứng xử, nhân loại cần một tình yêu vô điều kiện đối với môi trường và đối với nhau, không phân biệt quốc gia hay chủng tộc hay tầng lớp xã hội, để tạo dựng một cuộc sống đích thực cho mọi người và cũng là cho chính mình.


clip_image002



Thưa ông Chủ tịch, thưa quý bà và quý ông,

Tôi không ngần ngại mà nói rằng tôi rất vui được có mặt ở đây tối nay, và tôi rất vui thấy quý vị tỏ lòng quan tâm đến những vấn đề sẽ được thảo luận tối nay bằng cách đến đông như vậy. Tôi cũng muốn nói rằng tôi xem đây là một vinh hạnh lớn được tham gia chương trình này cùng với Tiến sĩ Bennett, Tiến sĩ Commager, và Giáo sĩ Do Thái Heschel, những vị lãnh đạo và nhân cách xuất sắc của đất nước chúng ta. Và tất nhiên về lại Riverside Church vẫn luôn là niềm vui. Tám năm qua, hầu như mỗi năm tôi đều được vinh dự rao giảng nơi đây, và được đến ngôi giáo đường và toà giảng lớn này vẫn luôn là một kinh nghiệm phong phú và bổ ích.

Tối nay tôi đến ngôi nhà thờ phượng nguy nga này vì lương tâm của tôi đã khiến tôi không còn lựa chọn nào khác. Tôi đến với quý vị trong buổi họp mặt này vì tôi đồng ý sâu sắc với mục đích và việc làm của tổ chức đã gắn kết chúng ta lại với nhau, tổ chức Giáo sĩ và Thường dân Quan tâm đến Việt Nam (Clergy and Laymen Concerned About Vietnam). Lời tuyên bố mới đây của ban chấp hành tổ chức cũng là cảm nghĩ trong tim tôi, và tôi hoàn toàn đồng ý khi đọc câu mở đầu của ban chấp hành: “Đã tới lúc im lặng là phản bội.”[1] Thời điểm đó đã đến khi chúng ta bàn về vấn đề Việt Nam.

Chân lý của câu trên thì không có gì để hoài nghi, tuy sứ mệnh mà nó trao cho chúng ta thì khó khăn vô cùng. Dù cho có lúc bị nội tâm thôi thúc, con người ta không dễ gì chống lại đường lối của chính phủ mình, nhất là trong thời chiến. Tâm hồn con người cũng khó cưỡng lại thói tuân phục thụ động trong lòng mình và thế giới xung quanh. Hơn nữa, khi vấn đề trước mắt thường có vẻ rắc rối như cuộc xung đột đáng sợ này, chúng ta luôn đứng bên bờ vực mê muội vì không rõ sự việc. Nhưng chúng ta phải đi tiếp.

Một số người trong chúng ta đã bắt đầu phá vỡ sự im lặng của tăm tối, đã thấy rằng thôi thúc lên tiếng thường là một ơn gọi thống khổ, nhưng chúng ta phải lên tiếng. Chúng ta phải lên tiếng với tất cả sự khiêm tốn trong tầm nhìn giới hạn của mình, nhưng chúng ta phải lên tiếng. Và chúng ta cũng phải vui mừng, vì hẳn nhiên đây là lần đầu tiên trong lịch sử đất nước chúng ta, một số đáng kể các vị lãnh đạo tôn giáo đã vượt ra ngoài lời rao giảng về lòng ái quốc êm ái để chọn vị trí cao cả với kiên quyết bất đồng chính kiến theo sự đòi hỏi của lương tâm và tiếng nói của lịch sử. Có lẽ một tinh thần mới đang trỗi dậy giữa chúng ta. Nếu đúng vậy, chúng ta hãy dõi theo sự chuyển động, và khẩn cầu nội tâm chúng ta đủ bén nhạy để thấy sự hướng dẫn của tinh thần này, vì chúng ta rất cần một đường hướng mới để vượt qua sự tăm tối dường như sát gần quanh chúng ta.

Suốt hai năm qua, khi tôi cố phá vỡ sự im lặng phản bội của chính tôi và lên tiếng từ sự thiết tha của trái tim mình, khi tôi kêu gọi từ bỏ tận gốc việc tàn phá Việt Nam, nhiều người đã hỏi con đường tôi chọn có sáng suốt không. Trong cốt lõi mối quan ngại của họ, câu hỏi thường hiện ra lồ lộ là: “Tiến sĩ King, tại sao ông lên tiếng về chiến tranh?” “Tại sao ông dự vào tiếng nói của phe đối lập?” Họ nói: “Hoà bình và dân quyền đâu có liên can với nhau.” Họ hỏi: “Chẳng phải ông đang làm hại tới chính nghĩa của đồng bào ông đấy sao?” Và khi nghe họ nói, dù tôi thường hiểu nguồn gốc mối quan tâm của họ, nhưng tôi vẫn rất buồn, vì những câu hỏi như thế cho thấy người hỏi đã không thực sự hiểu tôi, ý định của tôi, hay lời kêu gọi của tôi. Thật ra, câu hỏi của họ dường như cho thấy họ không hiểu thế giới họ đang sống. Vì sự hiểu lầm bi thảm ấy, tôi nghĩ điều quan trọng là phải cố trình bày một cách rõ ràng, và tôi tin là [phải cố trình bày] một cách súc tích, tại sao tôi tin rằng con đường từ Dexter Avenue Baptist Church – ngôi nhà thờ ở Montgomery, Alabama, nơi tôi lần đầu làm mục vụ – hẳn nhiên sẽ dẫn tới chốn tôn nghiêm này tối hôm nay.

Tối hôm nay tôi đến diễn đàn này để nói lên lời kêu gọi thiết tha tới đất nước mến yêu của tôi. Bài phát biểu này không nói với Hà Nội hay Mặt trận Giải phóng Dân tộc. Nó không nói với Trung Hoa hay Nga Xô. Nó cũng không có ý định xem nhẹ sự mù mờ của tình hình chung và nhu cầu có một giải pháp chung cho bi kịch Việt Nam. Nó không có ý định biến Bắc Việt hay Mặt trận Giải phóng Dân tộc thành những mẫu mực đạo đức, nhưng cũng không bỏ qua vai trò phải có của họ để có thể giải quyết xong vấn đề. Bắc Việt và Mặt trận Giải phóng có thể có lý do chính đáng để nghi ngờ thiện chí của Hoa Kỳ, nhưng cuộc sống và lịch sử là bằng chứng hùng hồn cho thấy các cuộc xung đột sẽ không bao giờ giải quyết được nếu cả hai phía không tin tưởng, nhượng bộ và thoả hiệp với nhau. Tuy nhiên, tối nay tôi không muốn nói với Hà Nội và Mặt trận Giải phóng Dân tộc, mà là nói với đồng bào người Mỹ của tôi.

Vì tôi là một người được ơn gọi truyền giáo, tôi cho rằng các bạn sẽ không ngạc nhiên khi tôi có bảy lý do chính để đặt vấn đề Việt Nam vào tầm nhìn đạo lý của tôi. Đầu tiên, cuộc chiến ở Việt Nam và cuộc đấu tranh [cho dân quyền] mà tôi và nhiều người khác đang tiến hành ở Mỹ có liên hệ với nhau rất hiển nhiên và hầu như dễ hiểu. Vài năm trước cuộc đấu tranh ấy [cho dân quyền] có lúc sáng ngời. Hình như có một triển vọng đích thực cho người nghèo, cả da đen lẫn da trắng, qua chương trình chống nghèo đói. Đã có những thử nghiệm, những hy vọng, những khởi đầu mới. Rồi xảy ra gia tăng vũ trang ở Việt Nam, và tôi thấy chương trình [chống nghèo đói] bị phá vỡ và móc ruột như thể nó là trò chơi chính trị vớ vẩn nào đó của một xã hội đã điên rồ vì chiến tranh. Và tôi biết nước Mỹ sẽ không bao giờ đầu tư kinh phí hay năng lực cần thiết để vực lại tình trạng của dân nghèo chừng nào những vụ phiêu lưu như ở Việt Nam vẫn còn tiếp tục bòn rút con người và tài năng và tiền bạc bằng cái ống hút tàn phá ma quái nào đó. Vì thế tôi càng phải nhìn chiến tranh như kẻ thù của người nghèo và công kích nó đúng như vậy.

Có lẽ tôi nhận ra thực tế bi thảm hơn khi ngày càng thấy rõ chiến tranh không chỉ phá vỡ hy vọng của dân nghèo ở quốc nội. Chiến tranh đã đưa anh em và chồng con họ ra chiến trường và chết với một tỉ lệ cao vượt bực so với các tầng lớp khác. Chúng ta đưa những thanh niên da đen đã bị xã hội chúng ta làm cho lụn bại đi xa tám ngàn dặm để bảo vệ quyền tự do ở Đông Nam Á, những quyền mà họ không tìm thấy ở tây nam Georgia và East Harlem. Vì thế, chúng ta đối diện triền miên với sự trớ trêu tàn nhẫn khi nhìn thanh niên da đen và da trắng trên màn ảnh TV cùng nhau giết và chết cho một đất nước đã không cho phép họ ngồi chung trường với nhau. Vì thế, chúng ta nhìn họ đồng lòng tàn nhẫn đốt các túp lều ở một làng nghèo, nhưng chúng ta biết rằng họ khó có thể sống trên cùng một khu phố ở Chicago. Tôi không thể im lặng trước trò xảo quyệt tàn nhẫn ấy đối với người nghèo.

Lý do thứ ba của tôi chuyển qua một mức nhận thức sâu hơn, vì nó nảy ra từ kinh nghiệm của tôi tại các khu ổ chuột phía Bắc trong ba năm qua, nhất là ba mùa hè vừa qua. Khi đi giữa những thanh niên tuyệt vọng, bị hắt hủi và giận dữ, tôi nói với họ rằng bom xăng và súng sẽ không giải quyết vấn đề của họ. Tôi cố bày tỏ với họ niềm cảm thông sâu đậm nhất trong khi vẫn tin rằng hành vi bất bạo động sẽ thay đổi xã hội một cách có ý nghĩa nhất. Nhưng họ hỏi, và hỏi rất chính đáng: “Còn Việt Nam thì sao?” Họ hỏi chẳng phải đất nước của chúng ta đang dùng những liều lượng bạo lực khổng lồ để giải quyết các vấn đề của nó, để mang lại những thay đổi theo ý nóđấy sao. Câu hỏi của họ đánh trúng đích, và tôi biết tôi sẽ không bao giờ có thể lên tiếng phản đối hành vi bạo động của những người bị áp bức trong các khu ổ chuột, nếu trước hết tôi không lên tiếng thật rõ với bộ máy bạo lực lớn nhất thế giới ngày nay: chính phủ của chúng ta. Vì những bạn trẻ ấy, vì chính phủ này, vì hàng trăm ngàn người đang run rẩy dưới bạo lực của chúng ta, tôi không thể im lặng.

Với những người đặt câu hỏi: “Ông không phải là nhà lãnh đạo dân quyền hay sao?” và bằng cách đó họ loại tôi ra khỏi phong trào hoà bình, tôi có thêm câu trả lời này. Năm 1957, khi nhóm chúng tôi thành lập Nghị hội Lãnh đạo Kitô giáo Miền Nam (Southern Christian Leadership Conference), chúng tôi chọn khẩu hiệu: “Để cứu linh hồn nước Mỹ.”[2] Chúng tôi tin rằng không thể giới hạn tầm nhìn của mình vào một số quyền nào đó cho người da đen, mà phải khẳng định niềm tin rằng nước Mỹ sẽ không bao giờ tự do hay cứu được chính nó khi các hậu duệ nô lệ của nó chưa hoàn toàn thoát khỏi xiềng xích họ còn đang mang. Một cách nào đó chúng tôi đồng ý với Langston Hughes, nhà thơ da đen ở Harlem, trước kia đã viết:

Ồ, vâng, tôi nói thẳng,
Nước Mỹ chưa bao giờ là nước Mỹ đối với tôi,

Nhưng tôi tuyên thệ điều này –
Nước Mỹ sẽ là![3]

Bây giờ là lúc nên biết rõ rằng, không ai quan tâm tới sự chính trực và cuộc sống của nước Mỹ ngày nay lại có thể làm ngơ cuộc chiến hiện tại. Nếu linh hồn nước Mỹ bị nhiễm độc hoàn toàn, thì một phần của tờ khám nghiệm tử thi phải ghi là “Việt Nam.” Nước Mỹ không bao giờ có thể cứu vãn được khi mà nó hủy hoại niềm hy vọng sâu thẳm nhất của con người trên khắp thế giới. Vì thế, những ai trong số chúng ta chưa khẳng định “Nước Mỹ sẽ là” sẽ buộc phải đi vào con đường phản kháng và bất đồng chính kiến, hành động vì sự lành mạnh của đất nước chúng ta.

Như thể sức nặng của lời cam kết ấy đối với cuộc sống và sự lành mạnh của nước Mỹ là chưa đủ, một trách nhiệm nặng nề nữa đã đặt lên tôi năm 1964. Và tôi không thể quên rằng giải Nobel Hoà bình cũng là lời ủy thác, lời dặn dò tôi phải làm nhiều hơn trước vì tình huynh đệ của loài người. Đây là lời kêu gọi đưa tôi đi xa hơn bổn phận đối với quốc gia.

Nhưng ngay cả khi không có điều này, tôi vẫn phải sống đúng nghĩa với lời cam kết của tôi trong vai trò mục sư của Chúa Jesus. Đối với tôi, vai trò mục sư và việc xây dựng hoà bình gắn bó với nhau hiển nhiên tới nỗi đôi lúc tôi kinh ngạc khi có người hỏi tại sao tôi lên tiếng chống chiến tranh. Chẳng lẽ họ không biết Tin Mừng dành cho chung tất cả mọi người – cho người cộng sản và tư bản, cho con cái họ và con cái chúng ta, cho người da đen và cho da trắng, cho nhà cách mạng và người bảo thủ? Phải chăng họ quên rằng vai trò mục sư của tôi là tuân phục đấng đã yêu kẻ thù của Người hết lòng tới nỗi Người đã chết cho họ? Vậy thì tôi có thể nói gì với Việt Cộng hay với Castro hay với Mao trong vai trò mục sư trung thành của đấng ấy? Có thể nào tôi doạ giết họ, hay tôi không được chia sẻ cuộc sống của tôi với họ?

Cuối cùng, khi cố giải thích cho các bạn và cho chính tôi về con đường từ Montgomery đến nơi này, tôi sẽ đưa ra tất cả những gì có giá trị nhất bằng cách chỉ đơn giản thưa rằng tôi phải chân thật với niềm tin của mình là chia sẻ với mọi người ơn gọi làm con của Chúa hằng sống. Ơn gọi làm con và tình huynh đệ này vượt xa hơn lời kêu gọi của chủng tộc hay quốc gia hay tín điều. Vì tin rằng Chúa Cha quan tâm nhất tới đàn con bị ruồng bỏ đau khổ và vô vọng của Người, tôi đến đây tối nay để lên tiếng cho họ. Tôi tin đó là đặc ân và gánh nặng của tất cả chúng ta, những người tự thấy mình ràng buộc với bổn phận và lòng trung thành sâu rộng hơn chủ nghĩa quốc gia, và vượt xa hơn mục đích và vị thế tự định ra của quốc gia mình. Chúng ta được kêu gọi lên tiếng cho kẻ yếu, cho kẻ không có tiếng nói, cho nạn nhân của đất nước chúng ta, cho những người bị gọi là “kẻ thù” của đất nước, vì không có văn kiện nào từ bàn tay con người có thể làm những người này không phải là anh em của chúng ta.

Và khi suy ngẫm về sự điên rồ của vấn đề Việt Nam và tìm trong chính mình cách để hiểu và đáp lại bằng tình thương, tâm trí tôi luôn hướng tới những người trên bán đảo ấy. Lúc này tôi không nói tới những người lính của các phe, không nói tới ý thức hệ của Mặt trận Giải phóng, không nói tới nhóm sĩ quan cầm quyền ở Sài Gòn, mà chỉ nói tới những người hiện đã sống dưới lời nguyền của chiến tranh trong gần ba thập niên liên tiếp. Tôi cũng nghĩ tới họ, vì tôi thấy rõ là sẽ không có giải pháp nào có ý nghĩa ở đó cho tới khi mọi người phải nỗ lực để hiểu họ và nghe tiếng khóc nức nở của họ.

Họ hẳn phải xem người Mỹ là những người giải phóng kỳ lạ. Nhân dân Việt Nam đã tuyên bố độc lập năm 1954, đúng hơn là từ 1945, sau khi Pháp và Nhật cùng nhau chiếm đóng nước họ và trước khi cách mạng cộng sản ở Trung Quốc thành công. Hồ Chí Minh lãnh đạo họ. Họ trích dẫn bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ trong văn kiện tự do của họ, nhưng chúng ta đã từ chối công nhận họ. Thay vào đó, chúng ta quyết định giúp Pháp tái chiếm thuộc địa cũ của Pháp. Chính phủ chúng ta khi đó cảm thấy dân tộc Việt Nam chưa sẵn sàng độc lập, và chúng ta lại là nạn nhân của thói kiêu ngạo chết người của phương Tây vốn đã đầu độc bầu khí quyển quốc tế từ lâu. Với quyết định bi thảm đó, chúng ta đã bác bỏ một chính phủ cách mạng đang đòi quyền tự quyết và không do Trung Quốc lập ra – một nước mà người Việt không yêu mến gì lắm – nhưng hình thành từ các lực lượng bản xứ hẳn hòi trong đó có một số người cộng sản. Đối với nông dân, chính phủ mới này có nghĩa là cuộc cải cách điền địa đích thực, một trong những yêu cầu quan trọng nhất đời họ.

Trong chín năm sau 1945, chúng ta khước từ quyền độc lập của nhân dân Việt Nam. Trong chín năm chúng ta mạnh mẽ ủng hộ người Pháp trong nỗ lực yểu mệnh của họ để lập lại chế độ thuộc địa ở Việt Nam. Trước khi chiến tranh chấm dứt, chúng ta đã gánh 80% chi phí chiến tranh của Pháp. Ngay cả trước khi thất trận ở Điện Biên Phủ, người Pháp đã bắt đầu hết hy vọng về hành động liều lĩnh của họ, nhưng chúng ta thì không. Chúng ta khích lệ họ bằng nguồn tài chính và quân sự khổng lồ để tiếp tục cuộc chiến ngay cả khi họ đã hết ý chí. Chẳng mấy chốc chúng ta trả hầu như toàn bộ chi phí cho nỗ lực tái chiếm thuộc địa bi thảm ấy.

Sau khi Pháp bị đánh bại, Hiệp định Geneva dường như sẽ lại đưa đến độc lập và cải cách điền địa. Nhưng thay vào đó là Hoa Kỳ đến, khẳng định rằng Hồ không nên thống nhất đất nước tạm thời bị chia cắt, và nông dân lại thấy chúng ta ủng hộ một trong những kẻ độc tài tàn ác nhất thời hiện đại, kẻ được chúng ta chọn, Thủ tướng Diệm. Nông dân quan sát và khép nép khi Diệm tàn nhẫn nhổ rễ hết phe đối lập, ủng hộ địa chủ bóc lột họ, và thậm chí từ chối thảo luận tái thống nhất với miền Bắc. Nông dân thấy ảnh hưởng của Hoa Kỳ trên tất cả những việc ấy, rồi lính Mỹ đến ngày càng đông để giúp dập tắt cuộc nổi loạn mà cách cai trị của Diệm đã khơi dậy. Khi Diệm bị lật đổ, lẽ ra họ có thể vui mừng, nhưng một dãy dài những kẻ độc tài quân phiệt dường như không mang lại thay đổi thật sự nào, nhất là cho nhu cầu về đất đai và hoà bình của họ.

Thay đổi duy nhất mà nước Mỹ đem lại là chúng ta gia tăng cam kết quân sự để ủng hộ các chính phủ tham nhũng phi thường, bất tài và không được quần chúng ủng hộ. Trong khi đó, dân chúng đọc truyền đơn của chúng ta và nghe hứa hẹn thường xuyên về hoà bình, dân chủ và cải cách điền địa. Giờ đây họ mỏi mòn dưới bom đạn của chúng ta và xem chúng ta, chứ không phải đồng bào người Việt của họ, là kẻ thù thực sự. Họ buồn bã và hờ hững khi chúng ta lùa họ ra khỏi mảnh đất của cha ông họ để vào trại tập trung, nơi các nhu cầu xã hội tối thiểu hiếm khi được đáp ứng. Họ biết họ phải ra đi nếu không sẽ bị bom của chúng ta tiêu diệt.

Vì thế họ đi, phần lớn là phụ nữ, trẻ con và bô lão. Họ nhìn chúng ta đầu độc nguồn nước của họ, nhìn chúng ta diệt hàng triệu mẫu mùa màng của họ. Họ phải khóc khi xe ủi đất gầm rú qua vùng đất của họ để chuẩn bị phá hủy cây cối quý giá. Họ lang thang vào bệnh viện với ít nhất hai chục người thương vong vì hoả lực của Mỹ muốn gây thương tích cho một Việt cộng. Cho tới nay chúng ta có thể đã giết một triệu người trong số họ, phần lớn là trẻ em. Họ lang thang vào phố thị và thấy hàng ngàn trẻ em, không nhà, không quần áo, chạy hàng đàn trên đường như bầy thú. Họ thấy trẻ em bị quân lính của chúng ta làm mất phẩm giá khi chúng xin thức ăn. Họ thấy những đứa trẻ bán chị của chúng cho quân lính của chúng ta, chèo kéo cho mẹ của chúng.

Nông dân nghĩ gì khi chúng ta liên minh với địa chủ và khi chúng ta chỉ nói suông rất nhiều về cải cách điền địa mà không làm? Họ nghĩ gì khi chúng ta dùng họ để thử các thứ vũ khí mới nhất của mình, như người Đức đã thử thuốc mới và các đòn tra tấn mới trong các trại tập trung ở Âu châu? Cội rễ của nước Việt Nam độc lập mà chúng ta tuyên bố đang xây dựng là ở đâu? Phải chăng cội rễ đó là những người không có tiếng nói này?

Chúng ta đã phá hủy hai điều cơ bản yêu dấu nhất của họ: gia đình và thôn làng. Chúng ta đã tàn phá đất đai và mùa màng của họ. Chúng ta đã tiếp tay nghiến nát lực lượng chính trị cách mạng không cộng sản duy nhất của đất nước ấy: Giáo hội Phật giáo thống nhất. Chúng ta đã ủng hộ kẻ thù của nông dân Sài Gòn. Chúng ta đã làm băng hoại phụ nữ và trẻ em và giết hại nam giới của họ.

Giờ đây chẳng còn lại bao nhiêu để từ đó xây dựng lên, trừ nỗi cay đắng. Chẳng mấy chốc cơ sở vật chất kiên cố duy nhất còn lại sẽ là các căn cứ quân sự của chúng ta và bê tông ở các trại tập trung mà chúng ta gọi là “ấp chiến lược”. Nông dân rất có thể tự hỏi liệu chúng ta định xây dựng một Việt Nam mới của chúng ta trên các nền móng như vậy hay sao. Làm sao chúng ta có thể trách khi họ nghĩ như vậy? Chúng ta phải lên tiếng cho họ và nêu lên những câu hỏi họ không thể nêu lên. Họ cũng là anh em của chúng ta.

Có lẽ một việc khó hơn nhưng không kém phần thiết yếu là lên tiếng cho những người bị coi là kẻ thù của chúng ta. Mặt trận Giải phóng Dân tộc, cái nhóm nặc danh kỳ lạ mà chúng ta gọi là “VC” hay “cộng sản” thì sao? Họ phải nghĩ gì về Hoa Kỳ khi họ thấy chúng ta cho phép Diệm đàn áp và tàn ác, điều đã biến họ thành một nhóm kháng chiến ở miền Nam? Họ nghĩ gì khi chúng ta dung túng cho bạo lực dẫn tới việc họ phải sử dụng vũ khí? Làm sao họ có thể tin vào sự chính trực của chúng ta khi bây giờ chúng ta nói “miền Bắc xâm lược” như để biện minh cho nỗ lực chiến tranh [của chúng ta] là cần thiết? Làm sao họ có thể tin chúng ta khi bây giờ chúng ta lên án họ bạo động sau triều đại sát nhân của Diệm, và lên án họ bạo động trong khi chúng ta đổ mọi thứ vũ khí chết chóc mới lên đất họ? Đúng vậy, chúng ta phải hiểu cảm nghĩ của họ, dù chúng ta không chấp nhận hành động của họ. Đúng vậy, chúng ta phải thấy chúng ta ủng hộ những người đã ép họ phải bạo động. Đúng vậy, chúng ta phải thấy các kế hoạch hủy diệt được điện toán hoá của chúng ta chỉ làm cho hành vi [bạo động] lớn nhất của họ có vẻ nhỏ bé.

Họ đánh giá chúng ta thế nào khi các viên chức của chúng ta biết là chưa tới 25% thành viên của họ là cộng sản, nhưng cứ khăng khăng chụp cho họ một cái tên chung? Họ phải nghĩ gì khi họ biết chúng ta biết họ kiểm soát các khu vực lớn ở Việt Nam, nhưng chúng ta lại ra vẻ sẵn sàng cho phép bầu cử toàn quốc mà chính phủ song hành có tổ chức chính trị chặt chẽ này [của họ] sẽ không có phần? Họ hỏi làm sao chúng ta có thể nói bầu cử tự do khi báo chí Sài Gòn bị nhóm quân phiệt cầm quyền kiểm duyệt và kiểm soát. Và tất nhiên họ đúng khi tự hỏi chúng ta định giúp thành lập thứ chính phủ mới nào mà không có họ, nhóm duy nhất thực sự gần gũi với nông dân. Họ nghi vấn các mục tiêu chính trị của chúng ta, và họ phủ nhận một giải pháp hoà bình không có họ. Câu hỏi của họ thích đáng một cách đáng sợ. Phải chăng chúng ta lại đang định xây dựng một quốc gia dựa trên huyền thoại chính trị, rồi củng cố nó bằng sức mạnh của một thứ bạo lực mới?

Ý nghĩa và giá trị đích thực của tình thương và bất bạo động là khi nó giúp chúng ta thấy quan điểm của kẻ thù, nghe câu hỏi của họ, biết họ nghĩ gì về chúng ta. Vì từ quan điểm của họ, chúng ta có thể thực sự thấy nhược điểm cơ bản của mình, và nếu chúng ta trưởng thành, chúng ta có thể học hỏi và phát triển và hưởng lợi từ sự khôn ngoan của những người anh em bị gọi là đối lập.

Với Hà Nội cũng thế. Ở miền Bắc, bom của chúng ta bây giờ dội túi bụi lên đất đai, và mìn của chúng ta đe doạ đường thủy, chúng ta bị nhìn bằng con mắt nghi ngờ sâu đậm và điều này hoàn toàn có thể hiểu được. Lên tiếng cho họ là để giải thích sự thiếu tin tưởng của họ bằng từ ngữ phương Tây, và nhất là sự ngờ vực của họ đối với ý định của người Mỹ lúc này. Những người ở Hà Nội đã lãnh đạo đất nước giành độc lập chống lại Nhật và Pháp, họ tìm cách làm thành viên trong Khối thịnh vượng chung Pháp và bị phụ bạc vì lỗi lầm của Paris và ý muốn của đạo quân thuộc địa. Chính họ là những người lãnh đạo cuộc đấu tranh thứ hai chống lại ách thống trị của Pháp với giá rất đắt, rồi bị thuyết phục bỏ vùng đất họ kiểm soát từ vĩ tuyến 13 tới 17 như một biện pháp tạm thời tại Geneva. Sau 1954, họ nhìn chúng ta âm mưu với Diệm để ngăn cản cuộc bầu cử có thể chắc chắn đưa Hồ Chí Minh lên nắm quyền trên một nước Việt Nam thống nhất, và họ nhận thấy họ bị phản bội lần nữa. Khi chúng ta hỏi tại sao họ không nhảy tới thương thuyết, thì chúng ta phải nhớ đến những điều ấy.

Cũng phải thấy rõ rằng giới lãnh đạo Hà Nội xem sự hiện diện của lính Mỹ ủng hộ chế độ Diệm là vi phạm quân sự ngay từ đầu đối với Hiệp định Geneva về quân đội nước ngoài, và họ nhắc chúng ta nhớ rằng chỉ sau khi hàng chục ngàn lính Mỹ đã vào, họ mới khởi sự gửi quân với số lượng lớn và thậm chí tiếp tế vào miền Nam.

Hà Nội không quên việc giới lãnh đạo Mỹ đã không chịu nói sự thật cho chúng ta về các đề nghị hoà bình của Bắc Việt trước kia, tổng thống [Mỹ] tuyên bố rằng không có đề nghị nào, dù rõ ràng là đã có. Hồ Chí Minh đã nhìn nước Mỹ vừa nói về hoà bình vừa củng cố lực lượng, và bây giờ ông ta chắc hẳn đã nghe quốc tế đồn đại ngày càng nhiều về kế hoạch xâm lược miền Bắc của Mỹ. Ông ta biết bom đạn và mìn bẫy chúng ta đang thả là phần mở đầu của chiến lược xâm lăng cổ điển. Có lẽ chỉ có óc khôi hài và mỉa mai mới cứu được ông ta khi ông ta nghe quốc gia mạnh nhất thế giới nói [kẻ khác] gây hấn khi nó thả hàng ngàn trái bom lên một nước nghèo yếu ở cách bờ biển của nó hơn tám ngàn dặm.

Tới đây tôi nên nói rõ rằng mấy phút vừa qua tôi đã cố lên tiếng cho những người không có tiếng nói ở Việt Nam, và cố hiểu lý lẽ của những người bị gọi là “kẻ thù”, trong khi đó tôi cũng quan tâm không kém tới binh lính của chúng ta ở đó. Vì đối với tôi, điều mà chúng ta đang bắt họ trải qua ở Việt Nam không chỉ là sự tàn bạo trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào, khi các đạo quân đối diện nhau và tìm cách tiêu diệt nhau. Chúng ta còn đưa thêm sự nhạo báng cay độc vào diễn biến chết chóc, vì sau một thời gian ngắn ở đó binh lính chúng ta hẳn sẽ biết rằng điều này thật sự chẳng dính dáng gì tới những thứ mà chúng ta tuyên bố là đang chiến đấu cho. Chẳng bao lâu họ phải biết chính phủ của họ đã đưa họ vào cuộc xung đột của người Việt, và kẻ tinh tế chắc hẳn nhận ra rằng chúng ta đứng về phía nhà giàu và an toàn, trong khi chúng ta gây cảnh khốn cùng cho người nghèo.

Bằng cách nào đó sự điên rồ này phải chấm dứt. Chúng ta phải ngưng ngay bây giờ. Tôi nói như một người con của Chúa và anh em của người nghèo đang đau khổ ở Việt Nam. Tôi nói cho những người phải bỏ hoang đất đai của họ, nhà cửa của họ bị phá hủy, văn hoá của họ bị đảo lộn. Tôi nói cho dân nghèo ở Mỹ đang phải trả giá gấp đôi, vì hy vọng bị dập tắt ở quê nhà, và chết và băng hoại ở Việt Nam. Tôi nói như một công dân của thế giới, vì thế giới, khi nó sững sờ trước con đường chúng ta đã chọn. Như một người yêu nước Mỹ, tôi nói với giới lãnh đạo đất nước chúng ta: Chúng ta là kẻ chủ động chính trong cuộc chiến này; chúng ta phải chủ động để chấm dứt nó.

Đây là thông điệp của giới lãnh đạo Phật giáo Việt Nam. Gần đây có người trong số họ viết những lời này, và tôi trích:

Mỗi ngày chiến tranh còn tiếp diễn thì sự oán ghét càng tăng lên trong tim người Việt và trong tim những người có xu hướng nhân bản. Người Mỹ đang buộc ngay cả bạn bè họ trở thành kẻ thù. Thật lạ lùng khi người Mỹ tính toán cẩn thận về khả năng chiến thắng quân sự, lại không thấy rằng khi làm điều đó họ đang gánh lấy thất bại sâu đậm về tâm lý và chính trị. Hình ảnh nước Mỹ sẽ không còn là hình ảnh của cách mạng, tự do và dân chủ, mà là hình ảnh của bạo lực và chủ nghĩa quân phiệt.[4]

Nếu chúng ta tiếp tục thì chắc hẳn tôi và thế giới sẽ nghĩ trong đầu rằng chúng ta không có ý định gì đáng kính ở Việt Nam. Nếu chúng ta không chấm dứt tức khắc cuộc chiến tranh chống lại nhân dân Việt Nam, thế giới sẽ không còn cách nào khác hơn là nhìn việc này như một thứ trò chơi khủng khiếp, vụng về và chết chóc mà chúng ta quyết định chơi. Thế giới hiện đang đòi hỏi một nước Mỹ trưởng thành, là điều mà chúng ta không chắc sẽ đạt được. Nó đòi chúng ta thừa nhận rằng chúng ta đã sai ngay từ đầu trong cuộc phiêu lưu ở Việt Nam, rằng chúng ta đã gây thiệt hại cho cuộc sống của nhân dân Việt Nam. Tình thế đòi chúng ta phải sẵn sàng quay ngoặt khỏi đường lối hiện nay của chúng ta. Để chuộc lại tội lỗi và sai lầm của chúng ta ở Việt Nam, chúng ta nên chủ động chấm dứt cuộc chiến bi thảm này.

Tôi muốn đề nghị năm điểm cụ thể mà chính phủ của chúng ta nên làm ngay để bắt đầu một tiến trình dài và khó khăn nhằm gỡ chúng ta ra khỏi cuộc xung đột ác mộng này:

Thứ nhất: Chấm dứt mọi cuộc ném bom ở Bắc và Nam Việt Nam.

Thứ hai: Tuyên bố ngừng bắn đơn phương với hy vọng rằng hành động này sẽ tạo môi trường dẫn đến đàm phán.

Ba: Từng bước tức khắc ngừng mở thêm các chiến trường khác ở Đông Nam Á bằng cách giảm bớt lực lượng vũ trang của chúng ta ở Thái Lan và cắt sự can thiệp của chúng ta ở Lào.

Bốn: Chấp nhận thực tế rằng Mặt trận Giải phóng Dân tộc có hậu thuẫn đáng kể ở miền Nam Việt Nam và do đó phải có vai trò trong bất kỳ cuộc đàm phán đúng nghĩa nào và trong bất cứ một chính phủ Việt Nam tương lai nào.

Năm: Ấn định ngày chúng ta rút hết binh lính ngoại nhập ra khỏi Việt Nam đúng theo Hiệp định Geneva năm 1954. (Vỗ tay kéo dài)

Một phần trong cam kết đang tiến hành của chúng ta đã thể hiện rõ qua việc đề nghị cho tỵ nạn bất kỳ người Việt nào lo sợ cho sinh mạng của họ dưới chế độ mới với sự tham dự của Mặt trận Giải phóng. Sau đó, chúng ta phải bồi thường trong khả năng của mình vì những thiệt hại mà chúng ta đã làm. Chúng ta phải trợ giúp y tế, một điều hết sức cần thiết, chuẩn bị sẵn sàng tại đất nước này nếu cần. (Vỗ tay) Trong khi đó, tại các nhà thờ và đền thờ, chúng ta có nhiệm vụ liên tục thúc đẩy chính phủ của mình từ bỏ quyết tâm đáng hổ thẹn về cuộc chiến. Chúng ta phải tiếp tục lên tiếng nếu đất nước chúng ta cứ khăng khăng theo đuổi đường lối sai trái ở Việt Nam. Chúng ta phải sẵn sàng để lời nói đi đôi với việc làm bằng cách tìm kiếm mọi phương thức phản kháng khả dĩ mới.

Khi chúng ta góp ý cho thanh niên về vấn đề quân dịch, chúng ta phải nói rõ với họ vai trò của đất nước chúng ta ở Việt Nam và kêu gọi họ chọn cách khác là từ chối nhập ngũ vì lý do lương tâm. (Vỗ tay kéo dài) Tôi vui mừng thưa rằng đó hiện là cách lựa chọn của hơn 70 sinh viên ở trường cũ của tôi, Morehouse College, và tôi đề nghị cách đó cho tất cả những ai thấy đường lối của Mỹ ở Việt Nam là đáng hổ thẹn và bất xứng. (Vỗ tay) Hơn nữa, tôi kêu gọi tất cả mục sư trong tuổi quân dịch hãy từ bỏ quyền miễn dịch vì lý do tôn giáo và nhận vai trò từ chối nhập ngũ vì lương tâm. (Vỗ tay kéo dài) Đây là thời điểm để chọn lựa thật, không phải chọn lựa giả. Chúng ta đang ở giây phút phải đặt sinh mệnh của mình trước hiểm nguy nếu muốn đất nước chúng ta tồn tại qua cơn điên rồ của chính nó. Mọi người có niềm tin nhân bản phải quyết định phản đối theo cách thích hợp nhất với niềm tin của mình, nhưng tất cả chúng ta phải phản đối.

Đến đây có một cám dỗ hấp dẫn là ngừng [buổi nói chuyện này] lại ở đây rồi tất cả chúng ta cùng lên đường với các nhóm đấu tranh ngày càng đông đảo chống lại cuộc chiến ở Việt Nam. Tôi nói chúng ta phải nhập vào cuộc đấu tranh ấy, nhưng lúc này tôi muốn tiếp tục nói về một số điều thậm chí còn gây khó chịu hơn.

Cuộc chiến ở Việt Nam chỉ là triệu chứng của một căn bệnh trầm trọng hơn nhiều trong tâm hồn người Mỹ, và nếu chúng ta làm ngơ thực tế nghiêm trọng này, (vỗ tay) và nếu chúng ta làm ngơ trước thực tế nghiêm trọng này, chúng ta sẽ lại phải tổ chức nhiều ủy ban “giáo sĩ và thường dân quan tâm” cho thế hệ sau. Các ủy ban đó sẽ phải quan tâm tới Guatemala và Peru. Họ sẽ phải quan tâm tới Thái Lan và Cam Bốt. Họ sẽ phải quan tâm tới Mozambique và Nam Phi. Chúng ta sẽ lại phải đi biểu tình cho những danh nghĩa ấy và hàng chục cái tên khác, và lại phải tham dự các buổi mít tinh không bao giờ dứt, trừ phi có một thay đổi đáng kể và sâu sắc trong chính sách và đời sống người Mỹ. (Vỗ tay kéo dài) Những suy nghĩ như thế đưa chúng ta đi xa hơn vấn đề Việt Nam, nhưng không ra ngoài ơn gọi chúng ta làm con cái của Chúa hằng sống.

Năm 1957, một viên chức Mỹ nhạy cảm làm việc ở nước ngoài nói hình như ông thấy đất nước chúng ta đang ở lầm phe trong cuộc cách mạng thế giới. Mười năm qua, chúng ta thấy xuất hiện một kiểu đàn áp mà hiện nay là lý do biện minh cho sự hiện diện của cố vấn quân sự Mỹ tại Venezuela. Nhu cầu ổn định xã hội cho khoản đầu tư của chúng ta là lý do cho hành động phản cách mạng của quân đội Mỹ ở Guatemala. Nó cho thấy tại sao trực thăng Mỹ đang được dùng để chống lại du kích ở Cam Bốt và tại sao bom napalm và lực lượng Green Beret của Mỹ đang ráo riết chống lại quân nổi loạn ở Peru.

Nghĩ tới các hành động đó, thì câu nói của cố tổng thống John F. Kennedy quay trở lại ám ảnh chúng ta. Năm năm trước ông nói: “Kẻ nào không tạo được cuộc cách mạng ôn hoà, kẻ đó sẽ không thể tránh khỏi cuộc cách mạng bạo động.”[5] (Vỗ tay kéo dài) Vì chọn lựa hay vì tình cờ, đất nước chúng ta đã giữ vai trò đó ngày càng nhiều: vai trò của kẻ không cho cuộc cách mạng ôn hoà xảy ra, bằng cách không chịu từ bỏ đặc quyền và lợi lộc có từ món lời khổng lồ của các khoản đầu tư ở ngoại quốc. Tôi tin rằng nếu chúng ta muốn đứng về phe đúng của cuộc cách mạng thế giới, đất nước chúng ta phải trải qua một cuộc cách mạng tận gốc về nguyên tắc ứng xử.[6] Chúng ta phải nhanh chóng bắt đầu (vỗ tay), chúng ta phải nhanh chóng bắt đầu chuyển từ một xã hội chú trọng vật chất sang một xã hội hướng tới con người. Khi máy móc và máy tính, động cơ kiếm lời và quyền sở hữu, được coi là quan trọng hơn con người, thì không còn gì có thể chế ngự được bộ ba khổng lồ là chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa duy vật cực đoan và chủ nghĩa quân phiệt.

Cuộc cách mạng đích thực về nguyên tắc ứng xử sẽ khiến chúng ta đặt ngay câu hỏi về tính công bằng và công lý trong nhiều chính sách trước kia và hiện nay của chúng ta. Một mặt chúng ta được kêu gọi đóng vai người Samaritan bác ái bên đường đời, nhưng đó chỉ là màn mở đầu. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ phải thấy toàn bộ con đường Jericho[7] thay đổi để đàn ông và đàn bà không còn bị đánh đập và cướp bóc triền miên trên hành trình sống. Tình thương đích thực không chỉ là ném một đồng xu cho người hành khất. Tình thương không thể tuỳ tiện và hời hợt. Tình thương ấy đòi hỏi phải thiết kế lại toà dinh thự sản sinh ra kẻ hành khất. (Vỗ tay)

Cuộc cách mạng đích thực về nguyên tắc ứng xử sẽ cảm thấy bất bình vì sự tương phản chói loà giữa bần cùng và giàu sang. Với lòng căm phẫn chính đáng, nó sẽ nhìn qua đại dương và thấy các nhà tư bản phương Tây đang đầu tư khoản tiền khổng lồ ở Á châu, Phi châu và Nam Mỹ chỉ để thu lợi mà không đoái hoài gì tới phúc lợi xã hội của các nước ấy, và nó sẽ nói: “Việc làm này không chính đáng.” Nó sẽ nhìn chúng ta liên minh với địa chủ ở Nam Mỹ, và nó sẽ nói: “Việc làm này không chính đáng.” Thói kiêu ngạo phương Tây cho rằng mình có mọi thứ để dạy dỗ kẻ khác và chẳng cần gì để học lại từ họ, thói nghĩ này là không đúng.

Cuộc cách mạng đích thực về nguyên tắc ứng xử sẽ hiểu rõ trật tự thế giới và sẽ nói về chiến tranh rằng: “Giải quyết sự bất đồng bằng cách này là không đúng.” Dùng bom napalm đốt cháy người, làm cho đất nước chúng ta có đầy trẻ mồ côi và goá phụ, tiêm chất độc hận thù vào huyết quản của các dân tộc vốn dĩ nhân bản, đem người tàn tật thể xác và rối loạn tâm lý về từ các chiến trường tăm tối và đẫm máu, các việc ấy không thể đồng nghĩa với trí tuệ, công lý và tình yêu. Một quốc gia năm này qua năm khác chi tiêu cho quốc phòng nhiều hơn cho các chương trình cải thiện xã hội, quốc gia đó đang tiến gần tới cái chết tinh thần. (Vỗ tay kéo dài)

Nước Mỹ, quốc gia giàu mạnh nhất thế giới, rất có thể dẫn đầu cuộc cách mạng về nguyên tắc ứng xử này. Trừ phi muốn tìm đến một cái chết bi thảm, không điều gì có thể ngăn cản chúng ta sắp xếp lại các ưu tiên của mình, để việc theo đuổi hoà bình sẽ được coi trọng hơn việc theo đuổi chiến tranh. Không gì có thể ngăn bàn tay bầm dập của chúng ta nhào nắn lại hiện trạng chai đá, cho tới khi chúng ta biến nó thành tình huynh đệ.

Loại cách mạng tích cực về nguyên tắc ứng xử này là cách tự vệ tốt nhất của chúng ta để chống lại chủ nghĩa cộng sản. (Vỗ tay) Chiến tranh không phải là giải pháp. Chủ nghĩa cộng sản sẽ không bao giờ bị đánh bại bằng cách dùng bom nguyên tử hay vũ khí hạt nhân. Chúng ta đừng gia nhập các nhóm kêu gào chiến tranh với nhiệt tình sai lạc và thúc giục Hoa Kỳ rút khỏi Liên Hiệp Quốc. Đây là lúc cần khôn khéo tự chế và lý luận tỉnh táo. Chúng ta phải tránh đường lối chống cộng tiêu cực, mà hãy tích cực thúc đẩy dân chủ, (vỗ tay) biết rằng cách tự vệ tốt nhất để chống lại chủ nghĩa cộng sản là tích cực hành động vì công lý. Chúng ta phải tích cực tìm cách xoá bỏ nguyên nhân gây ra nghèo đói, bất ổn và bất công, vốn là mảnh đất màu mỡ để hạt giống của chủ nghĩa cộng sản nảy nở và phát triển.

Đây là thời điểm cách mạng. Trên khắp địa cầu, nhân loại đang nổi dậy chống lại các chế độ bóc lột và áp bức cũ, và từ vết thương của một thế giới bạc nhược, nhiều chế độ công bằng và bình đẳng mới đang ra đời. Những người chân lấm không manh áo trên quả địa cầu đang trỗi dậy chưa từng thấy. Những người ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng.[8] Chúng ta ở phương Tây phải ủng hộ các cuộc cách mạng này.

Điều đáng buồn là vì thói an nhàn, thói tự mãn, nỗi lo sợ bệnh hoạn đối với chủ nghĩa cộng sản, và xu hướng của chúng ta dễ thích nghi với bất công, mà các nước phương Tây vốn là nơi khởi xướng tinh thần cách mạng của thế giới hiện đại, nay lại trở thành những kẻ phản cách mạng sừng sỏ. Điều này khiến nhiều người cảm thấy chỉ chủ nghĩa Marx mới có tinh thần cách mạng. Vì thế, chủ nghĩa cộng sản là bản án cho sự thất bại của chúng ta trong việc biến dân chủ thành hiện thực và theo đuổi đến cùng các cuộc cách mạng mà chúng ta đã đề xướng. Hy vọng duy nhất của chúng ta hôm nay tùy thuộc vào khả năng chúng ta lấy lại tinh thần cách mạng, thẳng tiến vào một thế giới đôi khi thù nghịch; tuyên chiến không ngừng với sự bần cùng, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa quân phiệt. Với quyết tâm mạnh mẽ ấy, chúng ta sẽ mạnh dạn chống lại hiện trạng và tục lệ bất công, và do đó sẽ đi nhanh hơn tới ngày “mọi thung lũng sẽ được lấp đầy, mọi núi đồi sẽ được bạt thấp; (Thính giả: Đúng vậy) khúc quanh sẽ được uốn thẳng, và chỗ mấp mô sẽ được san bằng.”[9]

Cuộc cách mạng đích thực về nguyên tắc ứng xử suy cho cùng có nghĩa là chúng ta phải trung thành với toàn thế giới hơn là cục bộ. Giờ đây lòng trung thành cao cả nhất của từng quốc gia phải mở rộng tới toàn nhân loại như một tổng thể, để gìn giữ những gì tốt đẹp nhất trong xã hội của riêng mình.

Lời kêu gọi hãy dùng tình bằng hữu toàn thế giới để đặt mối quan tâm đối với láng giềng vượt lên trên bộ tộc, chủng tộc, giai cấp và quốc gia, trên thực tế là lời kêu gọi mở rộng vòng tay yêu thương vô điều kiện tới toàn nhân loại. Khái niệm này thường bị hiểu lầm, thường bị diễn dịch sai, rất dễ bị những người theo Nietzsche[10] trên thế giới gạt bỏ coi là yếu đuối và hèn nhát, khái niệm này giờ đây trở nên tuyệt đối cần thiết cho sự sống còn của con người. Khi nói về tình yêu, tôi không nói tới phản ứng ủy mị và yếu đuối nào. Tôi muốn nói tới cái sức mạnh mà mọi tôn giáo lớn đều coi là nguyên tắc hợp nhất tối cao của cuộc sống. Bằng cách này hay cách khác, tình yêu là chìa khoá mở cánh cửa dẫn tới sự thực tối hậu. Niềm tin này của Ấn giáo-Hồi giáo-Kitô giáo-Do Thái giáo-Phật giáo về sự thực tối hậu được tóm tắt tuyệt đẹp trong thư tông đồ đầu tiên của Thánh John: “Chúng ta hãy yêu thương nhau, (Đúng vậy) vì tình yêu là Chúa. (Đúng vậy) Hễ ai yêu thương thì người ấy đã được Chúa sinh ra và biết Chúa. Ai không yêu thương thì người ấy không biết Chúa, vì Chúa là tình yêu.” “Nếu chúng ta yêu thương nhau thì Chúa ở trong chúng ta, và tình yêu của Người nơi chúng ta mới hoàn hảo.”[11] Chúng ta hãy hy vọng rằng tinh thần này sẽ trở thành mệnh lệnh của thời đại.

Chúng ta không còn có thể thờ phượng vị thần thù hận hay cúi đầu trước bệ thờ trả oán nữa. Biển cả lịch sử bị xáo động vì dòng thủy triều thù oán ngày càng dâng cao. Lịch sử ngổn ngang tàn tích của các quốc gia và những kẻ theo đuổi con đường oán thù tự thân thất bại này. Như Arnold Toynbee nói:

Yêu thương là lực tối hậu để được cứu vớt qua hành động lựa chọn sự sống và điều thiện, nhằm chống lại quyết định lựa chọn sự chết và điều ác đáng nguyền. Do đó, niềm hy vọng đầu tiên trong hành trang của chúng ta phải là hy vọng rằng tình yêu thương sẽ nói lời cuối cùng.[12]

Thưa các bạn, giờ đây chúng ta đối diện với thực tế rằng ngày mai là hôm nay. Chúng ta đối mặt với sự cấp bách khốc liệt của hiện tại. Trong câu hỏi hắc búa của cuộc sống và lịch sử đang diễn ra này, có một điều hình như đã quá muộn. Sự chần chừ vẫn làm lãng phí thời gian. Cuộc sống thường để chúng ta trơ trọi, trần trụi, và chán nản khi cơ hội vuột đi. Dòng thủy triều trong đời người không cứ mãi ngập lụt – nó rút dần. Chúng ta có thể tuyệt vọng kêu gào thời gian dừng lại, nhưng thời gian chai đá với mọi lời cầu xin và cứ dấn tới. Những bộ xương bạc màu và tàn tích ngổn ngang của nhiều nền văn minh nói lên lời thống thiết: “Quá muộn.” Cuốn sổ vô hình của cuộc đời[13] ghi lại một cách trung thực sự cảnh giác hay lơ là của chúng ta. Omar Khayyam nói đúng: “Ngón tay cử động đang viết, đã viết và cứ viết.”[14]

Hôm nay chúng ta vẫn còn một lựa chọn: bất bạo động để cùng tồn tại hay bạo động để cùng bị hủy diệt. Chúng ta phải vượt qua nỗi do dự để hành động. Chúng ta phải tìm những cách thức mới để lên tiếng cho hoà bình ở Việt Nam và công lý ở khắp thế giới đang phát triển, một thế giới sát bên cửa chúng ta. Nếu chúng ta không hành động, chúng ta chắc chắn sẽ bị sa vào vũng lầy của thời gian[15]dằng dặc, tối tăm và đáng hổ thẹn dành riêng cho những kẻ có thế lực mà thiếu tình thương, có cường quyền mà thiếu đạo đức, có sức mạnh mà thiếu tầm nhìn.

Giờ đây chúng ta hãy bắt đầu. Giờ đây chúng ta hãy lại hiến mình cho cuộc đấu tranh lâu dài và cay đắng, nhưng đẹp đẽ, cho một thế giới mới. Đây là ơn gọi dành cho con cái Chúa, và anh em chúng ta nôn nóng chờ chúng ta trả lời. Chúng ta sẽ nói rằng cán cân tình thế quá chênh lệch hay sao? Chúng ta sẽ nói với họ là cuộc đấu tranh quá khó khăn hay sao? Chúng ta sẽ nhắn với họ là thế lực của cuộc sống Mỹ sẽ ngăn cản họ trở thành những con người trọn vẹn, và chúng ta rất tiếc về điều này? Hay sẽ có một lời nhắn khác – về nỗi khao khát, về niềm hy vọng, chia sẻ ước muốn với họ, tận tụy với công việc của họ, bất kể giá nào? Sự lựa chọn là tự nơi chúng ta, và cho dù chúng ta có thể không muốn, chúng ta phải lựa chọn vào thời điểm quyết định này trong lịch sử nhân loại.

Như nhà thơ cao quý của thời trước, James Russell Lowell[16], đã hùng hồn tuyên bố:

Mỗi người và mỗi quốc gia đều có một thời điểm để quyết định,
Chọn bên thiện hay ác trong cuộc xung đột giữa Chân lý và Giả trá;

Đấng Cứu tinh cao cả của Chúa sẽ trao sinh lực hay tai hoạ cho mỗi bên,
Và chọn lựa này sẽ theo mãi mãi trong bóng tối và ánh sáng ấy.

Dù cái ác có lý do nảy nở, nhưng duy nhất chân lý này mạnh mẽ,
Dù chân lý mãi mãi trên đoạn đầu đài, và cái ác mãi mãi ngự trên ngôi,

Nhưng đoạn đầu đài ấy lay chuyển tương lai, và sau cõi vô định mịt mờ,
Chúa đứng trong bóng tối, từ trên cao dõi nhìn theo.

Và nếu chúng ta lựa chọn đúng, chúng ta sẽ có thể biến khúc bi thương vô hạn đang chực chờ xảy ra này thành bài thánh ca sáng tạo của hoà bình. Nếu chúng ta lựa chọn đúng, chúng ta sẽ có thể biến những tiếng bất hoà om xòm trên thế gian thành bản giao hưởng đẹp ngời của tình huynh đệ. Nếu chúng ta lựa chọn đúng, chúng ta sẽ có thể tiến nhanh tới ngày, trên khắp nước Mỹ và khắp thế giới, công lý sẽ như nước tuôn trào, và lẽ chính trực sẽ như dòng suối dũng mãnh[17]. (Vỗ tay kéo dài)





[1] Nguyên văn: “A time comes when silence is betrayal”.

[2] Nguyên văn: “To save the soul of America”.

[3] Langston Hughes (1902-1967) trong bài “Let America Be America Again”.

[4] Đoạn trích dẫn này có thể từ cuốn Vietnam: Lotus in A Sea of Fire (1965) của Thích Nhất Hạnh. Xem Hoa sen trong biển lửa, Chương 5, trang 95, bản in lần thứ tư, Paris, 1967.

[5] Trích trong “Address on the First Anniversary of the Alliance for Progress”, tổng thống Kennedy đọc tại White House khi tiếp đoàn ngoại giao châu Mỹ Latinh, ngày 13/3/1962.

[6] Nguyên văn: “a radical revolution of values”.

[7] Luke 10:25-37, Jesus kể câu chuyện một người xứ Samaria tận tình giúp một người bị cướp trên đoạn đường từ Jericho tới Jerusalem trong khi một thầy tu và những kẻ khác làm ngơ.

[8] Sự tích Jesus đi lánh nạn qua Galilee như một biến cố chứng nghiệm lời của ngôn sứ Isaiah 9:1, ghi trong Matthew 4:16, “Người ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng, và kẻ ngồi trong bóng tối của tử thần được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.”

[9] Isaiah 40:4 và Luke 3:5.

[10] Friedrich Nietzsche (1844-1900) là triết gia Đức. Khái niệm Übermensch (siêu nhân) và lời tuyên bố “Gott ist tot! Gott bleibt tot!” (Thượng đế đã chết) của ông ảnh hưởng tới mọi phe phái ở phương Tây, từ cực hữu tới cực tả, và lại trở nên thời thượng vào thập niên 1960 trong các phong trào hiện sinh, hậu hiện đại, hậu cấu trúc…

[11] Thư 1 của Thánh John 4:7-8 và 4:12.

[12] Arnold Joseph Toynbee (1889-1975) là sử gia người Anh nhìn lịch sử bằng con mắt triết học và tôn giáo. Đoạn trích dẫn này không rõ từ đâu.

[13] Nguyên văn: “an invisible book of life”, theo truyền thống Do Thái giáo và Kitô giáo, đây là cuốn sổ Chúa ghi tên những người sẽ được lên thiên đường. Cổ tích Việt Nam cũng có câu chuyện tương tự về hai vị thần Nam Tào và Bắc Đẩu giữ cuốn sổ sinh tử và đầu thai của loài người.

[14] M.L. King trích khổ thơ bốn câu của Omar Khayyám (1048-1131), nhà bác học và thi sĩ Ba Tư, do Edward FitzGerald (1809-1883) dịch qua Anh ngữ như sau: “The Moving Finger writes; and, having writ, / Moves on: nor all your Piety nor Wit / Shall lure it back to cancel half a Line, / Nor all your Tears wash out a Word of it.” Trong mạch văn này “ngón tay cử động” ngụ ý bàn tay của lịch sử sẽ ghi chép mọi điều mà không điều gì có thể làm nó dừng lại hay sửa lại.

[15] Nguyên văn: “corridors of time”, cách nói văn vẻ có tính chất tôn giáo để chỉ nơi liệt kê mọi điều con người đã làm trong đời, và Thượng đế trên cao sẽ nhìn xuống để phán xét.

[16] James Russell Lowell (1819-1891), thi sĩ và chính trị gia Mỹ, viết bài thơ dài “The Present Crisis” (1845), phản đối việc cho phép Texas giữ chế độ nô lệ khi gia nhập vào liên bang. Bài thơ gồm nhiều đoạn 5 câu, mỗi câu 15 âm tiết, và MLK sửa vài chỗ trước khi trích lại thành hai đoạn bốn câu.

[17] Amos 5:24, trong đoạn này, tiên tri Amos khuyên dân Do Thái bỏ lối thờ cúng phù phiếm: “Hãy bỏ đi tiếng hát om xòm của ngươi. Ta sẽ không nghe tiếng đàn của ngươi. Hãy để công lý như nước tuôn trào, và lẽ chính trực như dòng suối không bao giờ cạn.”

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2022 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Đăng nhập | Entries (RSS) | Comments (RSS)