Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

Cuộc Xổ Số


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 18.10.2021

Chuyển ngữ: Phạm Mỹ Châu

 

 

Shirley Jackson (1916-1965) là nhà văn Hoa Kỳ, nổi tiếng qua những tác phẩm thuộc loại huyền bí và kinh dị. Sự nghiệp văn chương của bà kéo dài hơn hai thập niên gồm sáu tiểu thuyết, hai hồi ký và hơn 200 truyện ngắn. Cuộc Sổ Số (The Lottery) là một trong những truyện ngắn xuất sắc của bà, đăng lần đầu trên The New Yorker ngày 25 tháng Sáu, 1948.

 

 

Sáng ngày 27 tháng Sáu. Bầu trời quang đãng. Những tia nắng ấm áp của một ngày hè trọn vẹn chiếu xuống các bông hoa đang nở rộ trên thảm cỏ xanh mướt.

Khoảng mười giờ, dân làng bắt đầu tụ họp ở quảng trường giữa bưu điện và ngân hàng. Ở một vài thị trấn đông người, cuộc xổ số kéo dài tới hai ngày và phải bắt đầu từ ngày 26 tháng Sáu. Nhưng ở thị trấn chỉ chừng ba trăm người này, cuộc xổ số chỉ kéo dài khoảng hai giờ đồng hồ, bởi vậy nếu bắt đầu xổ số lúc mười giờ sáng thì chỉ đến khoảng giữa trưa là dân làng có thể trở về nhà để kịp ăn trưa.

Đám trẻ con tụ tập trước tiên, dĩ nhiên. Chúng đã được nghỉ hè; và cái tư tưởng được tự do suốt mấy tháng đang nhảy múa lao xao trong lòng chúng. Chúng thường túm năm tụm ba một chút trước khi bắt đầu những trò chơi táo bạo, và những câu chuyện của bọn chúng vẫn còn liên quan đến lớp học, thầy cô, sách vở và các hình phạt nhớ đời.

Bobby Martin nhét đầy đá vào hai túi quần, rồi những đứa trẻ khác bắt đầu làm theo nó. Chúng chọn những viên đá tròn trịa nhất, trơn láng nhất. Bobby, Harry Jones và Dickie Delacroix—dân làng gọi nó là “Dellacroy”—cuối cùng đã chất được một đống đá to ở góc quảng trường và đứng gác để những thằng bé khác không đến lấy mất. Bọn con gái đứng bên cạnh trò chuyện, làm điệu làm bộ và lâu lâu liếc mắt nhìn đám con trai. Những đứa trẻ nhỏ nhất bò lê la trên đất hay bám theo anh chị của chúng.

Chẳng bao lâu, cánh đàn ông đã tề tựu đông đủ, vừa dõi mắt trông chừng đám con nhỏ vừa trò chuyện về mùa màng, mưa nắng, xe cộ và thuế má. Họ đứng tụm lại với nhau, cách xa đống đá ở trong góc. Họ đùa giỡn rất khẽ và chỉ cười mỉm thay vì cười phá lên. Cánh đàn bà ăn mặc giản dị, cũ kỹ và đến sau cánh đàn ông. Họ chào hỏi nhau và trao đổi những câu chuyện vặt vãnh rồi đến đứng gần các ông chồng của mình.

Vài bà đứng cạnh chồng và bắt đầu cất tiếng gọi các con đến cạnh. Bọn trẻ lần lữa mãi, phải đợi nghe gọi bốn năm lần mới chịu đến bên mẹ. Bobby Martin cúi người tránh được bàn tay mẹ nó đang muốn tóm lấy nó. Nó chạy ra xa, cười phá lên. Bố nó quát to lên một tiếng. Bobby sợ hãi vội chạy đến đứng ngay giữa bố và anh trai.

Cuộc xổ số bắt đầu trong khi các vũ công trong câu lạc bộ thiếu niên đang nhảy điệu vũ hình vuông truyền thống. Ông Summer đã bỏ thời gian và công sức tổ chức những sinh hoạt này. Ông có khuôn mặt tròn vui vẻ, có cơ xưởng sản xuất và buôn bán than. Tuy vậy, người ta thấy tội nghiệp cho ông vì vợ chồng ông không có con, còn vợ ông luôn bẳn gắt, cáu kỉnh. Khi ông bước chân vào quảng trường, trên tay có mang một chiếc hộp gỗ màu đen, tiếng xì xào bắt đầu nổi lên trong dân làng. Ông đưa tay vẫy chào và cất tiếng: “Xin lỗi vì tôi đã đến hơi trễ!”

Ông Graves, viên quản lý bưu điện theo sau, tay cầm một chiếc ghế đẩu có ba chân và đặt nó ngay giữa quảng trường. Ông Summers đặt chiếc hộp đen lên ghế.

Dân làng đứng xa ra, chừa một khoảng trống giữa họ và chiếc ghế.

Ông Summers hỏi: “Có ai giúp tôi một tay được không?”

Ông Martin và Baxter, con trai lớn của ông lưỡng lự một chút rồi bước đến giữ chiếc hộp cho ngay ngắn trên chiếc ghế đẩu trong lúc ông Summers trộn lẫn những tờ giấy bên trong hộp.

Những tục lệ linh tinh cho cuộc xổ số đã dần tàn lụi từ nhiều năm trước, chỉ còn có chiếc hộp giờ đây đang nằm trên chiếc ghế đẩu đã được dùng từ trước khi ông cụ Warner, người già nhất làng, ra đời. Ông Summers đã nhiều lần yêu cầu dân làng làm một chiếc hộp mới, nhưng không ai muốn động chạm đến chiếc hộp, cũng như không muốn động đến phong tục mà chiếc hộp đen này thể hiện.

Người ta đã rỉ tai nhau câu chuyện về sự linh thiêng của chiếc hộp và mối liên quan giữa chiếc hộp với những người dân đầu tiên đến đây và tạo dựng lên ngôi làng này. Hàng năm, sau cuộc xổ số, ông Summers đều bàn về chuyện làm một chiếc hộp mới, nhưng lần nào đề tài này cũng dần dần bị bỏ quên. Chiếc hộp đen trở nên xơ xác theo năm tháng; đến giờ, nó không còn hoàn toàn là màu đen nhưng đã nhạt màu và đầy những vết bẩn.

Ông Martin và cậu cả Baxter vẫn kính cẩn giữ chiếc hộp sao cho ngay ngắn trên ghế trong khi ông Summers khoắng tay trộn kỹ những mẩu giấy trong hộp. Trước đây người ta dùng những thanh gỗ nhỏ để rút xổ số, nhưng giờ đây, ông Summers đã thay chúng bằng các mẩu giấy. Ông phân trần rằng hồi xưa dân làng chỉ có ít người thì dùng thanh gỗ nhỏ được, nhưng giờ dân số đã lên đến hơn ba trăm người và còn lên nữa, nên cần thiết phải dùng thứ nào có thể để vừa trong hộp.

Đêm trước hôm xổ số, ông Summers và ông Graves đã làm các mẩu giấy và bỏ chúng vào hộp. Sau đó chiếc hộp được đem đi cất ở một nơi an toàn trong xưởng than của ông Summers và khoá lại cho đến khi ông Summers sẵn sàng mang nó đến quảng trường vào sáng hôm sau. Suốt năm, người ta không màng đến nó và chiếc hộp bị mang đi lung tung. Có năm nó nằm lăn lóc trong vựa lúa của ông Graves; có năm lại nằm trong một góc bưu điện. Đôi khi, có ai đó đã bỏ quên chiếc hộp trong tiệm thực phẩm của ông Martin rồi quên béng đi mất.

Có rất nhiều việc phải được thực hiện trước khi ông Summers tuyên bố bắt đầu xổ số. Người ta phải lập danh sách—chủ nhà, rồi chủ mỗi gia đình trong từng nhà, rồi từng người trong mỗi gia đình. Sau đó, đến lượt ông quản lý bưu điện làm chứng cho ông Summer tuyên thệ, để chính thức bắt đầu buổi xổ số. Có người nhớ là hồi xưa, trước khi chính thức mở xổ số, người tổ chức thường có màn trình diễn gì đó, như là ê a đọc văn tế chẳng hạn, nhưng qua thời gian, những màn này đã được giản lược bớt đi.

Thời xưa người ta cũng có tục lệ là người tổ chức xổ số phải chào hỏi người đến rút thăm từ chiếc hộp. Nhưng giờ thì tục lệ này cũng thay đổi và người ta thấy người tổ chức chỉ cần gọi tên người đang tiến tới là đủ.

Ông Summers làm việc này rất thành thạo. Trong chiếc áo sơ mi trắng sạch sẽ và quần jean xanh, một tay đặt hờ lên chiếc hộp đen, ông tỏ vẻ rất quan trọng trong khi thỉnh thoảng quay sang nói chuyện với ông Graves và cha con ông Martins.

Ngay khi ông Summers vừa hoàn thành bài nói chuyện chán ngấy, bà Hutchinson hối hả chạy đến, áo len vắt ngang vai và lủi ngay vào đám đông.

“Tôi quên bẵng hôm nay là ngày gì,” bà thì thào với bà Delacroix đang đứng bên cạnh, rồi cả hai cười khẽ. “Tôi tưởng là lão nhà tôi đang chất củi ở sau vườn, nhưng khi nhìn ra cửa sổ, tôi thấy bầy trẻ đi đâu mất biệt. Tôi chợt nhớ hôm nay là ngày hai mươi bảy và vội vã chạy đến đây ngay.” Bà vừa nói vừa chùi tay vào tạp-dề. Bà Delacroix nói: “Đừng lo, cũng còn sớm chán. Mấy ông trên kia còn đang lải nhải kìa.”

Bà Hutchinson nghểnh cổ nhìn qua đám đông. Bà tìm ra ông chồng bà và lũ con đang đứng phía trước. Bà vỗ nhẹ lên tay bà Delacroix để chào rồi chen lấn về phía họ. Đám đông tránh ra để bà đi qua; hai ba người nói vừa đủ cho mọi người khác cùng nghe: “Mụ Hutchinson đến kìa,” và: “Cuối cùng cũng tới rồi.”

Bà Hutchinson đến đứng gần chồng. Ông Summers, nãy giờ vẫn theo dõi bà, cười vui vẻ: “Chúng tôi tưởng là sẽ mở xổ số mà không có bà rồi chứ, Tessie.” Bà Hutchinson toét miệng cười giả lả: “Tôi mới rửa xong đống chén mới đi được.” Những tiếng cười khẽ vang lên trong đám đông, rồi người ta lại đứng vào vị trí cũ.

Ông Summers nói một cách hoan hỉ: “Giờ thì bắt đầu được rồi chứ. Chúng ta làm cho xong để còn trở về làm việc nữa. Còn thiếu ai nữa không?”

Nhiều người la lên: “Dunbar, còn thiếu Dunbar nữa.”

Ông Summers xem lại danh sách: “Đúng rồi. Clyde Dunbar. Hắn bị gẫy chân mà phải không? Ai rút thăm cho hắn đây?”

Một người đàn bà rụt rè lên tiếng: “Tôi rút thăm được không?” Ông Summers quay lại nhìn và nói: “Vợ rút thăm cho chồng à? Thế trong nhà không có thằng con trai lớn nào có thể làm việc này sao, Janey?”

Dù ông Summers và dân làng thừa biết câu trả lời, nhưng việc phải hỏi thì phải hỏi thôi, cho đúng thủ tục. Ông Summers lịch sự chờ bà Dunbar cất tiếng nói:

“Thằng Horace con tôi chưa đủ mười sáu tuổi mà. Tôi nghĩ là tôi phải rút thăm thế cho lão nhà tôi năm nay.”

“Thôi được,” ông Summers vừa nói vừa hý hoáy viết vào bản danh sách đang cầm trên tay rồi hỏi: “Năm nay con trai nhà Watsons rút thăm phải không?”

Một chàng trai cao ráo giơ tay lên: “Có tôi đây. Tôi sẽ rút thăm cho tôi và cả mẹ tôi nữa.” Cậu nheo mắt một cách bối rối và cúi đầu trong khi nhiều tiếng nói trong đám đông vang lên đại để như: “Giỏi lắm Jack.” “Thế mới đáng mặt đàn ông chứ.”

Ông Summers nói: “Tôi nghĩ là thủ tục đã xong rồi. Mình bắt đầu được rồi chứ? Bây giờ tôi sẽ đọc tên—chủ các gia đình trước—các ông sẽ tiến lên đây và bốc một mẩu giấy ra khỏi hộp. Nhưng vẫn giữ nguyên mẩu giấy trong tay đừng mở ra cho đến lúc tất cả mọi người đều có tờ giấy hết nhé. Mọi người hiểu rõ chưa?”

Dân làng đã làm việc này quá nhiều lần rồi, do đó họ chỉ lắng nghe một cách lơ đãng; hầu hết đều yên lặng, liếm môi, không nhìn chung quanh.

Thế rồi ông Summers giơ cao một tay và nói: “Adams.”

Một người đàn ông tách khỏi đám đông và bước tới trước.

Hai người nhìn nhau, mỉm cười xã giao. Adams bỏ tay vào chiếc hộp đen và lấy ra một mẩu giấy đã gấp làm tư. Ông nắm chắt mẩu giấy trong tay rồi bước vội về chỗ cũ, cách xa gia đình một chút, và không nhìn xuống tay mình. 

Ông Summers gọi tiếp: “Allen. Anderson… Bentham.”

Bà Delacroix thì thào nói với bà Graves ở hàng sau: “Sao tôi thấy nhanh quá. Dường như là cứ xổ số liên tiếp thì phải. Tôi có cảm tưởng là lần xổ số trước mới diễn ra hồi tuần trước.”

Bà Graves trả lời:

“Thời gian qua nhanh thật.”

“Clark… Delacroix”

Bà Delacroix nói: “Đến lượt ông lão nhà tôi đây.” Bà nín thở trong khi ông chồng tiến về trước.

Ông Summers gọi tiếp: “Dunbar.”

Bà Dunbar bước thẳng về phía chiếc hộp trong khi có tiếng một bà cất lên: “Mạnh dạn lên Janey,” và người khác nói tiếp: “Rút thăm đi.”

Bà Graves nói: “Đến lượt gia đình tôi.” Bà quan sát trong khi ông Graves đi đến từ phía bên kia. Bà mạnh dạn chào ông và lấy một mẩu giấy từ chiếc hộp.

Giờ thì tất cả mọi người đàn ông trong đám đông đều có một tờ giấy gấp tư trong tay. Họ hồi hộp lật qua lật lại mẩu giấy gấp. Bà Dunbar và hai thằng con trai đứng gần nhau, tay bà giữ chặt mẩu giấy đại diện cho chồng mình.

 “Harburt… Hutchinson.”

 “Đến lượt ông kìa, Bill!” Bà Hutchinson nói, và những người đứng gần đó cười ồ lên.

“Jones”

Ông Adams nói với Cụ Warner: “Người ta bảo với tôi rằng ở làng phía bắc đã ngưng tục lệ xổ số rồi.”

Cụ Warner nạt nộ: “Một lũ khùng điên. Cứ nghe lời cái bọn trẻ thì hỏng. Đối với chúng thì tập tục cũ của ông bà chẳng có cái gì là tốt cả. Chúng nó được voi đòi tiên cho mà xem. Xong rồi bọn chúng nó sẽ đòi đi trở lại sống trong rừng rú, chẳng phải làm việc gì cả mà tối ngày chỉ biết đi lông bông. Ông bà ta đã dạy: ‘Có xổ số vào tháng Sáu thì vụ mùa mới thu hoạch tốt được.’ Từ xưa đến nay, năm nào cũng có xổ số.”

Ông Adams vẫn tiếp tục:

“Nhưng nhiều nơi người ta đã bỏ tục lệ xổ số rồi.”

“Cái bọn trẻ ngu dốt… chỉ biết gây phiền phức thôi,” cụ Warner nói.

“Martin.” Và Bobby Martin nhìn theo cha mình tiến về trước.

“Overdyke… Percy.”

Bà Dunbar thì thầm với đứa con trai lớn: “Ước gì nhanh lên cho xong!”

Đứa con trai trả lời: “Sắp xong rồi!”

Bà Dunbar nói: “Chừng nào xong thì chạy về báo cho bố mày biết nhá.”

Ông Summers tự gọi tên mình rồi tiến đến một bước và chọn một mẩu giấy trong hộp. Rồi ông gọi lớn: “Warner.”

Cụ Warner vừa lẩm bẩm vừa tiến ra khỏi đám đông: “Ta đã rút thăm bảy mươi bảy năm qua rồi. Bảy mươi bảy lần.”

Bây giờ đến lượt bọn trẻ con trai.

“Watsons.” Đứa con trai cao nghều vụng về đi lên trước. Ai đó nói: “Đừng hồi hộp, Jack.” Bà Summers nói: “Từ từ thôi, con trai.”

“Zanini.”

Sau đó là một sự yên lặng dài, sự yên lặng nghẹt thở, cho đến khi ông Summers cầm một mẩu giấy giơ lên trời và nói: “Tất cả mọi người nghe tôi nói đây.”

Bất ngờ, cánh đàn bà cùng bật lên nói: “Ai thế?” “Ai trúng số?” “Có phải nhà Dunbars không?” “Hay là nhà Watsons?”

Rồi người ta ồ lên: “Chính là Hutchinson. Chính là Bill.” “Bill Hutchinson trúng số rồi.”

Bà Dunbar bảo đứa con trai:

“Chạy về báo cho bố mày biết đi.”

Đám đông bắt đầu nhìn quanh để tìm gia đình Hutchinson. Bill Hutchinson đứng yên, cúi gầm mặt xuống nhìn trân trối vào tờ giấy trong tay. Bất ngờ, Tessie Hutchinson cất tiếng lanh lảnh: “Ông Summers. Ông không cho lão nhà tôi đủ thời gian để chọn tờ giấy ông ta muốn. Tôi thấy tận mắt mà. Thật là không công bằng!”

Bà Delacroix nói: “Có tinh thần thượng võ chút đi Tessi.”

Bà Graves nói thêm: “Mọi người đều có cơ hội đồng đều như nhau thôi.”

“Im đi, Tessie,” Bill Hutchinson nói.

Ông Summers khoát tay: “Mọi người nghe đây. Chúng ta phải làm cho xong việc đi để kết thúc cho đúng giờ.” Ông cúi xuống nhìn danh sách kế tiếp: “Bill. Ông đã rút thăm được tên nhà Hutchinson. Trong nhà ông có mấy gia đình?”

Bà Hutchinson la to: “Có Don và Eva nữa. Phải bắt chúng rút thăm chứ!”

Ông Summers ôn tồn: “Con gái bà rút thăm chung với gia đình chồng của chúng, Tessie. Bà biết rõ luật lệ mà.”

Tessie nói: “Thật là không công bằng.”

Bill Hutchinson nói một cách hối hận: “Biết làm sao được. Con gái mình rút thăm chung với gia đình chồng của chúng. Trong nhà mình không có gia đình nào khác nữa ngoài mấy đứa con nít thôi.”

Ông Summer trịnh trọng hỏi: “Ông có mấy đứa con nhỏ, Bill?”

“Ba đứa. Bill Jr, Nancy và Dave. Tessi và tôi.”

Ông Summers nói: “Harry, lấy lại mấy tấm vé của những người đó chưa?”

Ông Graves gật đầu và đưa mấy mẩu giấy lên cao cho mọi người đều nhìn thấy. Ông Summers bảo: “Bỏ hết vào trong hộp đi.”

“Tôi nghĩ là phải rút thăm lại hết,” bà Hutchinson rên rỉ. “Tôi đã bảo là không công bằng chút nào. Ông không cho lão nhà tôi đủ giờ để chọn. Ai cũng thấy vậy hết!”

Ông Grave đã chọn năm mẩu giấy và để chúng vào hộp, và ông bỏ hết các mẩu giấy khác xuống đất và gió thổi chúng bay tứ tán khắp nơi.

Bà Hutchinson van vỉ đám đông chung quanh: “Mọi người làm ơn nghe tôi nói đây.”

Nhưng ai chẳng ai buồn để ý đến bà.

Ông Summers hỏi: “Sẵn sàng chưa Bill?”

Bill Hutchinson liếc mắt nhìn vợ con thật nhanh và gật đầu.

Ông Summers nói: “Nhớ là mỗi người bốc một thăm và không ai được mở ra cho đến lúc mọi người trong nhà đều có vé đấy. Harry, ông giúp cho thằng bé Dave nhé.”

Ông Graves nắm tay thằng bé nhất. Thằng bé lưỡng lự mốt chút rồi đi theo ông ta. “Lấy một tờ thôi đấy nhé.” Davy thò tay vào hộp và phá lên cười. “Lấy một tờ thôi, thằng nỡm!” Ông Summers nói: “Harry, giữ tờ giấy cho nó.” Ông Graves chộp lấy nắm tay thằng bé đang giữ chặt lấy mẩu giấy rồi giật lấy mẩu giấy trong khi thằng nhóc Dave đứng đó, nhét một ngón tay vào miệng và đang ngước mắt nhìn ông đầy ngạc nhiên.

Ông Summers gọi to. “Nancy kế tiếp.”

Nancy lên mười hai tuổi. Đám bạn học chung lớp của nó nín thở khi nó tiến về trước, hai tay xoắn lấy chiếc váy dài và bẽn lẽn lấy một mẩu giấy trong hộp. Ông Summers gọi tiếp: “Bill, Jr.”, rồi “Tessie.” Bà lưỡng lự một phút, nhìn quanh một cách phản kháng rồi mím môi và tiến đến chiếc hộp. Bà giật lấy một mẩu giấy rồi giấu nó vào sau lưng.

“Bill” Ông Summers nói. Bill bỏ tay vào hộp và cuối cùng rút tay ra với một mẩu giấy.

Đám đông yên lặng. Một đứa con gái thì thào: “Mong là không phải Nancy,” và nhiều tiếng xầm xì lan ra trong đám đông.

Cụ Warner gằn giọng: “Hồi xưa người ta đâu có như vậy. Con người bây giờ thay đổi nhiều quá!”

“Thôi được rồi. Mở giấy ra!” Ông Summers nói: “Harry, mở giùm cho thằng Dave.”

Ông Graves mở mẩu giấy và cả đám đông thở phào khi ông giơ mẩu giấy lên cao cho mọi người đều nhìn thấy. Mẩu giấy trống trơn. Nancy và Bill, Jr. mở cùng lúc và cả hai toét miệng ra cười, nhẩy cẫng lên và đưa cao hai mẩu giấy trắng qua khỏi đầu.

“Tessie,” Ông Summers nói rồi ngưng lại một chút, nhìn Bill Hutchinson. Ông Bill mở tờ giấy của mình ra và thở phào khi thấy mẩu giấy trống.

“Chính là Tessie! Tessie trúng số rồi. Đưa giấy cho mọi người coi.”

Bill tiến đến gần vợ và giằng lấy tờ giấy khỏi tay bà. Mẩu giấy có một chấm đen bên trong. Chấm đen mà đêm trước ông Summers đã vẽ thậm đậm nét bằng cây bút chì to nhất trong xưởng than của mình. Bill Hutchinson giơ cao mẩu giấy lên và một tiếng ồ vang lên trong đám đông.

Ông Summers nói:

“Thế là xong! Kết thúc cho nhanh chóng đi.”

Mặc dù đám dân làng ngu ngốc đã quên đi nhiều lề thói và mất đi chiếc hộp đen nguyên thuỷ, họ vẫn còn nhớ cách dùng những hòn đá. Chồng đá mà bọn con trai làm nên trước đây đã sẵn sàng; trên mặt đất vương vãi những viên đá đủ cỡ cùng với những mẩu giấy từ chiếc hộp bị gió thổi bay lung tung. Bà Delacroix chọn một hòn đá lớn đến nổi bà phải dùng hai tay mới bưng nổi nó lên. Bà quay lại nhìn bà Dunbar: “Nhanh lên. Ở nhà còn nhiều việc phải làm lắm.”

Hai tay bà Dunbar ôm một đống đá nhỏ. Bà thở hổn hển và nói: “Tôi mệt quá, chạy không nổi. Bà cứ bắt đầu trước đi rồi tôi sẽ theo kịp ngay đây.”

Bọn trẻ cầm trong tay mấy viên đá và sẵn sàng để ném. Có đứa còn đưa cho Davy Hutchinson vài hòn đá nhỏ.

Giờ thì Tessie Hutchinson đã bị đám đông vây quanh. Bà tuyệt vọng đưa hai tay lên ôm lấy đầu và van nài đám dân làng đang tiến đến gần: “Thật là bất công mà.”

Hòn đá đầu tiên ném trúng một bên đầu của bà. Một giòng máu đỏ ứa ra từ vết thương.

Ông cụ Warner thúc giục: “Tiếp tục đi, tiếp tục đi các ông các bà.”

Steven Adams dẫn đầu đám dân làng và bà Graves đứng bên cạnh hắn.

Bà Hutchinson hét lên và khuỵu người xuống trong khi đám đông bắt đầu trút trận mưa đá lên người bà: “Thật không công bằng! Không công bằng chút nào.”

 

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)