Trang chính » Bàn Tròn: Tôn Giáo & Chính Trị, Chuyên Đề, Coronavirus, Dịch Thuật, Nhận Định, Quan Điểm, Sang Việt ngữ Email bài này

ĐGH Francis: Hãy mở lòng ta trước cái đau của tha nhân trong cơn đại dịch


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 30.11.2020

 

 

clip_image002


 

Trong năm vừa qua với thật nhiều biến chuyển, tim óc tôi tràn ngập hình ảnh của mọi người. Những con người tôi nghĩ tới và cầu nguyện cho họ, và đôi khi cùng khóc với họ, những người với cả tên tuổi và mặt mũi, những người chết mà không nói được lời giã từ với người thân yêu, những gia đình trong cơn khó khăn, cả đói khát, vì không có việc làm.

Đôi khi, nếu nghĩ sâu rộng hơn, ta có thể bị tê liệt: Có quá nhiều những xung đột vô tận, hiển nhiên và đầy rẫy ở mọi nơi; có quá nhiều khổ đau và nhu cầu. Tôi thấy thật hữu ích nếu chỉ chú tâm vào các hoàn cảnh cụ thể: ta thấy những khuôn mặt khao khát sự sống và tình thương trong thực tại của mỗi cá nhân, của mỗi dân tộc. Bạn thấy hy vọng ghi khắc trên câu chuyện của mỗi quốc gia, có sự vinh quang bởi vì đấy là câu chuyện của cuộc tranh đấu thường nhật, của những mảnh đời gẫy đổ vì hy sinh chính mình. Do đó, thay vì để bị chìm đắm, ta hãy suy ngẫm và đáp ứng với niềm hy vọng.

Đây là thời điểm chín mùi để đổi thay và hoán cải trong đời sống. Mỗi người trong chúng ta thảy đều có lúc phải ngừng lại theo cách riêng, hay nếu chưa từng, thì một ngày nào đó ta cũng sẽ phải đối mặt: bệnh hoạn, thất bại trong một cuộc hôn nhân hay thương nghiệp, một nỗi thất vọng lớn lao hay sự phản bội. Như trong tình trạng cấm cửa do đại dịch Covid-19, đây là giai đoạn dẫn đến sự căng thẳng, một cơn khủng hoảng giúp biểu lộ những gì chứa chất bên trong trái tim mỗi người chúng ta.

Trong mỗi “Covid” riêng tư, tạm gọi như thế, ở mỗi lúc ngừng lại để suy ngẫm này, điều được bộc lộ cũng chính là điều cần thay đổi: sự thiếu sót tự do nội tại, những thần tượng ta vẫn thường tôn thờ, những ý thức hệ ta vẫn gắng sống theo, những liên hệ ta đã thờ ơ, lơ là.

Khi bị ốm nặng ở tuổi 21, lần đầu tiên tôi biết được thế nào là giới hạn của mình, thế nào là sự đau đớn và niềm cô đơn. Nó đã thay đổi cách tôi nhìn đời. Trải qua nhiều tháng trời, tôi không còn biết tôi là ai hay tôi sẽ sống sót hay sẽ chết. Các bác sĩ cũng không biết là tôi có qua khỏi được hay không. Tôi nhớ đã ôm lấy mẹ tôi và nói, “Hãy cho con biết có phải con sắp chết không.” Hồi ấy tôi đang học năm thứ hai để trở thành linh mục tại một chủng viện ở Buenos Aires.

Tôi nhớ đó là ngày 13 tháng 8, 1957. Tôi được một vị giám thị trong chủng viện đưa tới nhà thương khi ông nhận ra bệnh của tôi không phải là một trường hợp cúm có thể điều trị bằng thuốc aspirin. Ngay lập tức họ rút ra nguyên một lít rưỡi nước từ trong phổi của tôi, và tôi tiếp tục ở đó điều trị, tranh đấu cho sự sống trong tôi. Tháng Mười Một kế đó họ giải phẫu và cắt đi một phần trên của lá phổi bên phải. Tôi hiểu phần nào cảm giác của bệnh nhân Covid-19 khi phải chống chỏi bằng máy trợ thở.

Tôi đặc biệt nhớ tới hai y tá trong thời kỳ này. Một là bà trưởng khu trị bệnh, một nữ tu Dòng Dominican đã từng dậy học ở Athens trước khi đổi tới Buenos Aires. Sau này tôi được biết, là sau khi bác sĩ khám tôi đi khỏi, vị nữ tu này bảo các y tá dưới quyền tăng gấp đôi liều thuốc bác sĩ cho – đúng ra chỉ là thuốc penicillin và streptomycin – vì bà biết, theo kinh nghiệm, là tôi đang chết. Và Dì Cornelia Craglio đã cứu mạng tôi. Bởi vì, qua sự tiếp xúc thường nhật của bà với các bệnh nhân, bà hiểu hơn các bác sĩ những điều mà bệnh nhân cần, và bà đã có cái can đảm hành xử với sự hiểu biết của bà.

Một y tá khác tên Micaela cũng đã làm tương tự khi thấy tôi bị đau đớn cùng cực, bà đã bí mật cho tôi thêm thuốc giảm đau. Các bà Cornelia và Micaela nay đã ở trên trời, song tôi vẫn còn mang nợ họ thật nhiều. Họ chiến đấu cùng với tôi tới phút cuối, cho tới khi tôi phục hồi. Họ đã dạy tôi thế nào là sử dụng khoa học song đồng thời phải biết vượt lên trong những trường hợp đặc biệt. Chính căn bệnh hiểm nghèo mà tôi trải qua đã dạy tôi tin tưởng vào lòng tốt và sự hiểu biết của tha nhân.

Chủ đề giúp đỡ tha nhân này đã theo tôi những tháng vừa qua. Trong dịp cấm phòng vì đại dịch tôi thường cầu nguyện cho những vị đang tìm mọi cách để cứu mạng sống của bao người khác. Quá nhiều y tá, bác sĩ, nhân viên y tế đã trả giá bằng tình thương, cùng với các linh mục, các vị giáo sĩ, dân thường mà thiên hướng là phục vụ. Ta đáp lại tình thương ấy của họ bằng lòng tiếc thương và vinh danh họ..

Dù họ ý thức hay không, sự lựa chọn của họ minh chứng một niềm tin: đó là thà sống một đời ngắn ngủi phục vụ tha nhân hơn là có một đời sống lâu dài chống lại với lời kêu gọi đó. Vì vậy mà, tại nhiều quốc gia, dân chúng đã đứng bên cửa sổ hay trên thềm nhà hoan hô họ với lòng biết ơn và nể trọng. Họ là những vị thánh bên hàng xóm, những người đã đánh thức một điều quan trọng trong trái tim ta, đã thêm một lần nữa xác quyết điều chúng ta muốn gieo rắc bằng lời rao giảng

Họ chính là kháng thể chống lại con vi khuẩn thờ ơ. Họ nhắc nhở rằng đời sống chúng ta là một tặng phẩm và ta trưởng thành qua việc cho đi chính chúng ta, không phải là bảo tồn bản thân mình mà là quên mình trong phục vụ.

Với vài ngoại lệ, các chính phủ nói chung đã nỗ lực tối đa để đặt lợi ích của dân họ lên trên hết, đã hành động quyết liệt để bảo vệ sức khỏe và cứu vớt mạng sống. Vài ngoại lệ gồm các chính phủ đã bỏ ngoài tai các dữ kiện về số người chết ngày một chồng chất, mà hệ quả là đau thương không tránh được. Tuy vậy phần lớn các chính quyền đã hành xử với tinh thần trách nhiệm, áp đặt các biện pháp nghiêm ngặt để ngăn ngừa bệnh dịch lây lan.

Vậy mà vẫn có những nhóm chống đối không chịu giữ khoảng cách an toàn, họ diễn hành chống lại các hạn chế di chuyển – như thể việc các chính quyền phải đặt ra những biện pháp vì lợi ích của tha nhân là một tấn công chính trị vào sự tự trị hoặc quyền tự do cá nhân! Việc hướng tới lợi ích chung thì quan trọng hơn hẳn những cái tốt cho riêng từng cá nhân gộp lại. Có nghĩa là quan tâm tới mọi công dân và tìm cách hỗ trợ hữu hiệu các nhu cầu của những kẻ thiếu may mắn nhất.

Thật dễ dàng khi một số người lạm dụng một ý tưởng — chẳng hạn như sự tự do cá nhân, ở trường hợp này – và biến nó thành một ý thức hệ qua đó họ dùng để phán xét mọi sự.

 

clip_image004 minh họa của The NYT


Cơn khủng hoảng Covid đặc biệt vì nó ảnh hưởng tới phần lớn loài người. Song nó chỉ đặc biệt ở chỗ nó hiển hiện trước mắt ta. Hiện có hàng ngàn các cuộc khủng hoảng khác cũng ghê gớm nhưng ở khá xa nhiều người trong chúng ta nên ta có thể coi như chúng không hiện hữu. Hãy nghĩ, chẳng hạn, đến những cuộc chiến rải rác đó đây khắp thế giới; đến việc sản xuất và buôn bán vũ khí; đến hàng trăm ngàn dân di cư trốn chạy nghèo khó, đói khát và thiếu vắng cơ hội; đến nạn khí hậu thay đổi. Những thảm kịch này có thể xa xôi đối với ta, là một phần của bản tin hàng ngày mà, đáng buồn thay, chúng không khiến ta phải xúc động để thay đổi chương trình và các quan tâm hàng đầu của ta. Thế nhưng, cũng như khủng hoảng Covid-19, chúng ảnh hưởng tới toàn thể loài người.

Hãy nhìn lại chúng ta lúc này: Chúng ta mang khẩu trang để bảo vệ mình và mọi người khỏi bị nhiễm con vi khuẩn mắt ta không nhìn thấy. Thế còn bao nhiêu những con vi khuẩn khác mà ta không thấy và cần phải ngăn ngừa? Làm thế nào để đối phó với những cơn đại dịch tiềm ẩn đó đây trên thế giới, cơn đại dịch của đói khát, và bạo lực, và khí hậu thay đổi?

Để chúng ta thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng này và trở thành những con người bớt ích kỷ so với lúc ban đầu, ta cần để lòng mình xúc động trước nỗi đau của tha nhân. Trong cuốn “Hyperion” của [thi sĩ, triết gia Đức] Friedrich Hölderlin có một câu khiến tôi nghĩ đến một cuộc khủng hoảng mà sự nguy hiểm không bao giờ có thể bao trùm hết; rằng luôn luôn có một lối thoát: “Ở đâu có nguy hiểm, ở đó có mãnh lực giải thoát.” Đó là thiên bẩm của lịch sử nhân loại: ta luôn có cách thoát ra khỏi sự tàn phá. Nơi nhân loại hành động chính là nơi đây, ngay trong chính sự đe dọa; chính đó là lúc cánh cửa mở ra.

Đây là lúc ta mơ giấc mộng lớn, suy ngẫm lại các ưu tiên của mình – cái chúng ta trân quý, cái chúng ta mong muốn, cái chúng ta tìm tòi – và quyết tâm hành động trong đời sống hàng ngày để thực hiện điều ta mơ ước.

Thượng Đế thách thức ta sáng tạo nên cái mới mẻ. Chúng ta không thể trở về với những an toàn giả tạo của các hệ thống chính trị và kinh tế trước khi xẩy ra cuộc khủng hoảng hiện nay. Chúng ta cần những nền kinh tế cho phép mọi người cùng được hưởng các kết quả của công trình sáng tạo, để ai cũng đạt tới các nhu cầu căn bản của cuộc sống: đất đai, nơi trú ẩn và việc làm. Ta cần các thể chế có thể kết hợp và đối thoại với giới nghèo, những con người bị gạt ra ngoài lề và các kẻ cô yếu, một thể chế cho phép người dân tham dự vào những quyết định ảnh hưởng tới đời sống của họ. Ta cần đi chậm lại, ghi nhận và thiết lập các phương cách để cùng chung sống tốt đẹp hơn trên trái đất này.

Cơn đại dịch đã phơi bày một nghịch lý, đó là chúng ta càng nối kết với nhau bao nhiêu thì đồng thời chúng ta lại càng chia rẽ bấy nhiêu. Chủ nghĩa tiêu thụ chóng mặt đã phá vỡ các ràng buộc thân thiết. Nó làm ta chỉ chú trọng tới việc tự bảo tồn và khiến ta lo âu. Nỗi sợ hãi của ta thêm tăng trưởng và bị khai thác bởi thứ chính trị ngụy dân đang tìm cách nắm quyền thao túng xã hội. Thật khó mà xây dựng một nền văn hóa tương hợp, trong đó chúng ta gặp gỡ những người cùng chia sẻ đức tính tự trọng, khi chúng ta sống trong một nền văn hóa đang gạt bỏ đi mối quan tâm đối với người già cả, những kẻ thất nghiệp, tàn tật và thai nhi như những thứ ngoại vi của sự an lành trong đời sống chúng ta.

Để ra khỏi cơn đại dịch khấm khá hơn, ta cần phải phục hồi sự hiểu biết rằng cùng là con người thì chúng ta cùng chung một nơi đến. Cơn đại dịch đã nhắc nhở ta rằng không ai là người duy nhất được cứu sống. Điều ràng cột chúng ta lại với nhau là cái mà ta thường gọi là tình liên đới. Liên đới là một hành động hơn cả những hành xử độ lượng, dù điều này cũng quan trọng; đó là lời kêu gọi hãy nhìn nhận thực tại rằng chúng ta được ràng buộc với nhau bởi những sự nhân nhượng có đi có lại. Trên nền tảng vững vàng này ta sẽ xây dựng một tương lai tốt hơn, khác hơn và thắm đượm tình người.

— Trùng Dương chuyển ngữ
Mùa Tạ Ơn 2020



(*) Bài trên rút ra từ cuốn sách mới của Đức Giáo Hoàng Francis, “Let Us Dream: The Path to a Better Future,” cùng viết với Austen Ivereigh.

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)