Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Nhận Định, Phê Bình Email bài này

VĂN CẦM HẢI: NGƯỜI ĐI TÌM QUÁ KHỨ MỚI TỪ NHỮNG CUỘC CHIẾN TRANH

 

vchai-o-taytang - nguon nguyen trong tao
Nhà văn Văn Cầm Hải trong lần thăm viếng Tây Tạng

Những cuộc chiến xưa không bao giờ cũ được nhà văn-học giả Văn Cầm Hải thể hiện trong các tác phẩm văn học và lịch sử của mình. Khác với các học giả truyền thống vốn nhìn chiến tranh qua góc nhìn hoài niệm và đau thương quá khứ trong không gian hạn hẹp từ một phía, tác giả sinh ra và lớn lên ở miền Đại Uyên xứ Quảng Bình này lại tìm kiếm quá khứ mới góp phần giải mã và cung cấp hiểu biết mới về chiến tranh từ nhiều phía. Kiến thức lịch sử và cách tiếp cận sự thật khác lạ, cùng với sự dồi dào kinh nghiệm thực tế trong quá trình hấp thụ trực tiếp những nền văn hóa và tôn giáo của các miền đất trên thế giới anh đặt chân đến, là một trong những nền tảng quan trọng làm nên thành công của 3 công trình sáng tác văn học và khảo cứu lịch sử của anh: Trên Dấu Chim Di Thê, Tây Tạng-Giọt Hoa Trong Nắng, và Miền Như Lai Hoang Dại.

Văn Cầm Hải đã tạo ra một sự dị biệt trong cách tiếp cận lịch sử chiến tranh bằng cái nhìn khai phóng của triết học Phật giáo. Chiến tranh không chỉ là cuộc đấu súng đẫm máu trên chiến trường. Chiến tranh được tái hiện thông qua khái niệm và nhận thức mới mà Văn Cầm Hải xiển dương trong luận án tiến sĩ của anh là “ký ức chân như” (organic memory) làm nên “lịch sử biện chứng nội tâm” (introspective history).[1] Nyanaponika Thera nói rằng ký ức là một phần của nhận thức. Chính vì lẽ đó, ký ức và ấn tượng, nhận thức và quán tưởng của lịch sử cá nhân đóng một vai trò quan trọng trong việc bổ sung và thậm chí là viết lại lịch sử tập thể. Khai thác ký ức cá nhân đồng nghĩa với khai thác và tái hiện chân thực mà họ trải nghiệm quá khứ, nhận thức hiện tại, và viễn kiến tương lai. Ký ức nối liền quá khứ, hiện tại, và tương lai. Ký ức chuyển tải được các sự kiện cá nhân và tập thể, mang lại nhận thức mới, đa chiều về lịch sử. Một trong những đặc điểm nổi trội tạo nên sự hấp dẫn và thuyết phục trong tác phẩm của Văn Cầm Hải là không chỉ dựa vào nguồn tư liệu gốc mà anh còn đưa ra trải nghiệm thực tế từ chính bản thân anh trực tiếp dấn thân khám phá bất chấp nguy hiểm tính mạng như anh từng sống ở Tây Tạng hay vùng đất khói lửa Pakistan, Aghanistan, và sa mạc Gobi.

Nghiên cứu về lịch sử chiến tranh Việt Nam bằng cái nhìn từ bi khách quan và thấm đẫm tính dân tộc, Tác giả mang đến một nhận thức mới về quá khứ. Anh tiếp cận với với một vị tướng Việt Nam Cộng Hòa bằng tâm thế của người khám phá sự thật hơn là kẻ bị bó buộc bởi thiên kiến lịch sử. Chính vì lẽ đó, trong cơn binh lửa đẫm máu tháng ngày bạo tàn ấy, tác giả vẫn tìm thấy nét đẹp của tình yêu thương dân tộc trong hoàn cảnh bi thương. Anh viết:

Tướng D.L.M tâm sự với tôi rằng trong trận chiến ác liệt cuối cùng giành giật nhau từng tấc đất máu lửa những ngày cuối cùng tháng Tư năm 1975 tại Xuân Lộc, quân ông bắt được mấy người lính trẻ miền Bắc. Thay vì xử bắn hay bị bỏ đói, ông yêu cầu lính mình chia khẩu phần thức ăn, bón đút từng thìa cơm cho những người tù bị trói và hai mắt bịt kín dưới làn pháo dữ dội. Ông nói rằng vì nhìn thấy quân lính cả hai bên tuổi còn non trẻ mà phải lâm vào cảnh binh đao chết chóc. Những người lính có thể gục chết trong khi đút cơm cho tù binh vì chính làn pháo chính đồng đội họ bên kia chiến hào. Ông nhìn tay lính run rẩy, rung lên theo nhịp đạn cày xới không trung nhưng ông vẫn ra lệnh người lính của mình thực thi mệnh lệnh trái tim. Đánh nhau thì đánh nhau nhưng cách hành xử ấy minh chứng một chân lý căn để rằng nghĩa tình đồng bào với sức mạnh cao nhã và bền vững truyền thống dân tộc vượt lên súng đạn chiến chinh.[2]

Vượt lên lối tư duy sáo mòn “ta thắng địch thua”, tác giả chỉ cho người đọc thấy được sự ray rứt của một cuộc nội chiến đang diễn ra trong lòng người, rằng chiến tranh không chỉ giết chết bao nhiêu thanh xuân trên chiến địa mà còn làm hư hao nội lực của một đất nước trong thời bình. Không một dân tộc nào thoát được bi kịch và sự khủng khoảng xã hội trong và sau chiến tranh. Với vai trò là nhà văn và nhà nghiên cứu, Văn Cầm Hải đã đi tìm và đưa lên trang viết của mình những sự thật cho dù buồn bã, nhưng chắc chắn, người đọc sẽ biết ơn những trang văn đậm chất sử học của đời sống dân tộc như thế.

Xuyên suốt Trên dấu chim di thê, từ khảo cứu thực tế tại các trung tâm lưu trữ tư liệu lịch sử trên thế giới và phỏng vấn trực tiếp các nhân vật, Văn Cầm Hải luận giải rằng vượt qua đói khổ, mất mát, hi sinh, chiến tranh còn để lại một sự thật tàn khốc hơn nhiều, đó là nội chiến lòng người. Nỗi đau lãnh thổ của dân tộc bị ngoại bang xâm lược sẽ có ngày nguôi ngoai khi cuộc chiến đó chấm dứt. Nhưng nỗi đau của lòng người ly tán vĩnh viễn để lại một vết sẹo không bao giờ lành khi con người sống trong hoàn cảnh tha hương. Nội chiến lòng người thực sự là cuộc chiến thảm khốc nhất trong tâm hồn thế hệ. Con người ly hương mà biểu tượng huyền sử là cánh chim Hamsa luôn sống trong sự giằng xé giữa trách nhiệm cá nhân và cộng đồng, dân tộc và thế giới, tự do và lao khổ trên con đường kiếm tìm cho đời sống dải đất mới, nơi mà họ được giải thoát quá khứ chiến tranh, nghèo đói và tủi nhục thân phận. Thanh- một cựu đảng viên, cựu binh, nhân vật tác giả gặp trong Người Chị Miền Đông Đức đã chấp nhận bội bạc với quá khứ của mình để mưu cầu cuộc sống khá hơn ở Đông Đức trong chuyến đi xuất khẩu lao động thời hậu chiến.

Để níu lấy nước Đức, Thanh đã phải khai dối mình là kẻ tỵ nạn chính trị, không hồi hương, không chịu đựng được chế độ Cộng sản ở Việt Nam. Vì miếng cơm manh áo, Thanh đã từ bỏ tấm thẻ đảng viên mà anh từng phấn đấu bằng máu và nước mắt ở chiến trường Campuchia.[3]

Văn Cầm Hải là người đầu tiên ở Việt Nam đề cập thẳng thắn đến thảm kịch người Việt di cư sau năm 1975. Dành nhiều năm nghiên cứu lịch sử chiến tranh Việt Nam qua hàng ngàn hồ sơ thuyền nhân tại Trung tâm Việt Nam, Viện Đại học Công nghệ Texas, tác giả đã đau đớn thừa nhận:

Buồn thương thay tôi chưa bao giờ thấy phận đời nào cay đắng, buồn đau, bạo lực, kinh hoàng, bất khuất như đồng bào tôi con dân nước Việt phải chịu đựng trên dặm trường sóng gió biển khơi rời xa quê hương trong mười lăm năm nửa cuối thập kỷ bảy mươi đến đầu thập kỷ chín mươi thế kỷ hai mươi.[4]

Có thể nói, với câu chuyện về thuyền nhân Việt Nam, nạn nhân trực tiếp của chiến tranh Việt Nam, phải trải qua sau những tháng năm hậu chiến, anh đã phản ánh chân thật và rõ ràng một trong những trang sử đen tối nhất của người dân Việt khi họ buộc phải sống chết trong môi trường RPM (Raping, Hãm Hiếp; Pillaging, Cướp Bóc; và Murdering, Sát Hại).[5] Tác giả tập trung vào bi kịch của thuyền nhân nữ như “Nhung, người phụ nữ bị hai mươi bốn tên cướp Thái thay nhau hãm hiếp cô trong suốt hai mươi tiếng đồng hồ trên biển vượt biên” mong tìm được người chồng ở Michigan.[6] Cùng chung số phận với Nhung, không biết bao nhiêu thiếu nữ sinh ra và lớn lên trong thời hậu chiến cũng phải gánh chịu những hệ luỵ của cuộc chiến và hậu quả của nó như “Lynn, nữ sinh mới hai ba tuổi quê ở Sài Gòn, bị mười lăm tên cướp biển kéo vào trong thuyền hiếp suốt ba tiếng đồng hồ. Vài tháng sau Lynn đã thỏa mãn giấc mơ đặt chân lên xứ tự do nhưng cô đã tự tử vì không thể nào chịu đựng nỗi ám ảnh dục tính man rợ bọn cướp.”[7] Cái đói đã làm con người thành dã thú ăn thịt đồng loại. Đăng, một thuyền nhân, thú nhận với tác giả:

“Sáng dậy em điểm tâm bằng đôi mắt. Đêm về em ngậm ngùi gặm khúc xương tay!” Ấy là đói quá mà ăn thịt nhau! Hiểu chưa em? Đói! Đói quay quắt, đói cạn kiệt, đói quên cả máu mủ, đói quên cả đồng loại người. Đói! Phải cắt thịt nhau mà ăn không thì chết hết. Biết chưa? Đói…Đói…Đói![8]

Từ góc nhìn chiến tranh của lịch sử dân tộc mình, Văn Cầm Hải nhìn thấy được nỗi đau của dân tộc bạn. Không chỉ đề cập đến nỗi buồn hậu chiến của Việt Nam, tác giả còn mở rộng liên kết và so sánh với các cuộc chiến tranh khác từ góc nhìn quốc tế. Tập Trên dấu chân di thê của anh cho bạn đọc thấy được sự tàn khốc của cuộc thảm sát tàn độc đẫm máu quân đội Hitler thanh trừng người dân Do Thái khi anh đến thăm ngôi nhà 263 Prinsengracht nơi cô bé Anne Frank 14 tuổi viết từng trang nhật ký trước khi bị giết trong trại tập trung Bergen-Belsen. Số phận của Anner Frank được liên kết với câu chuyện tình thảm khốc của hai người bạn anh, Khan và Mary, là đôi vợ chồng mang hai quốc tịch Palestine và Israel luôn “nằm trong tầm ngắm của những họng súng hằn thù hướng vào nhau”.[9] Từ những cuộc chiến giữa các nước vùng Trung Đông, tác giải lý giải chính trị hoá tôn giáo là nguồn cơn sinh ra chiến tranh trong quá khứ và hiện tại:

Chiến tranh bắt nguồn từ xung đột chính trị dưới màu áo tôn giáo, đã đẩy người dân Trung Đông trở thành cộng đồng vong quốc lớn nhất nhì thế giới. Trong dòng máu người Trung Đông, lưu vong dường như trở thành một định mệnh lưu chảy từ đời này sang đời nọ kể từ khi Abraham vâng lời Chúa bỏ xứ ra đi bảo vệ thiên khải của Người. [10]

Chính trị hoá tôn giáo với tư tưởng Hồi giáo cực đoan đã buộc hàng triệu người dân vô tội ở các nước Hồi giáo, trong đó có Aghanistan phải rời bỏ quê hương. Nazifa, nữ phóng viên của Đài phát thanh Kabul, lưu lạc khắp mọi miền bởi không nơi nào cấp cho cô một chỗ đứng trú thân. Tác giả khắc hoạ cuộc đời lưu vong của Nazifa trong bối cảnh chiến tranh chống chủ nghĩa khủng bố toàn cầu của Mỹ:

Hơn 20 năm dằng dặc nội chiến vẫn không đủ sức đánh bật Nazifa ra khỏi biên giới đất nước vậy rồi chỉ cần một bước tiến của phe Taliban, thậm chí vì một vụ nổ khủng bố xa xăm bên kia bầu trời nước Mỹ mà người ta nghi ngờ Afghanistan là một nghi can, Nazifa và hàng triệu người Afghanistan đành phải lìa xa nơi chôn nhau cắt rốn.[11]

Từ Châu Âu và Trung Đông, Văn Cầm Hải đến nghiên cứu lịch sử tôn giáo và chiến tranh ở Tây Tạng và Trung Á trong hai tác phẩm Tây Tạng-Giọt Hoa Trong NắngMiền Như Lai Hoang Dại. Khác với nhiều sử gia, anh không chỉ hiểu biết sâu sắc triết học và lịch sử hạnh đạo siêu việt của Phật giáo Tây Tạng mà còn vén lộ trang sử đẫm máu của vùng đất tráng lệ tâm linh bị chia cắt bởi các cường quốc Anh-Nga-và Trung Hoa, đặc biệt là sự tàn sát tôn giáo và sắc tộc trong tiến trình “Hán hoá” của chính quyền của Mao:

Panchen Lama viết năm 1962 cáo buộc rằng trong vòng ba năm 1959-1962 chỉ có mười bảy trong số hai ngàn bốn trăm tám mươi ba tu viện được mở cửa. Không có cuộc pháp nạn nào mà tốc độ bi thương trong lịch sử có thể so sánh với tỷ lệ suy vong diễn ra nhanh đến như vậy. Tàn phá Phật giáo dưới thời Langdarma cũng không thể ví được với cuộc cách mạng văn hóa do Mao khởi xướng trong những năm sáu mươi thế kỷ hai mươi. Sáu ngàn hai trăm sáu mươi bảy tu viện được dựng lên bằng máu trộn tuyết của tăng sĩ và Phật tử trong ngàn năm phút chốc thành đống đổ nát. Chừng một triệu ba trăm ngàn mầm non Phật tương lai trở thành oan hồn từ khi Mao trở thành hung thần Vajrapani tàn phá đạo Pháp. Văn Thành đang thiên niên kỷ ngự trong hồng cung Potala hay hóa thân vào thiên hành nữ trong tập vân hội Dakini bay khỏi Tây Tạng vì từ ngày mang tượng Đức Hạnh Cao Quý Jowo Rinpoche lên Lhasa, nàng không thể ngờ, vùng đất vợ chồng nàng xây đắp với niềm hy vọng người Tạng sẽ sống hạnh phúc với vùng đất vĩ đại của Tây Tạng và người Hán sẽ sống hạnh phúc trên vùng đất vĩ đại của Trung Hoa trong hòa ước năm 823 khắc ghi trụ đá đứng trước đền Jorkang bị tàn phá bởi chính hậu duệ đồng hương Hán tộc.[12]

Từ chiến tranh giữa Phật giáo và cộng sản trên cao nguyên Tây Tạng, Văn Cầm Hải đến với sa mạc Gobi, nơi diễn ra những xung đột huynh đệ tương tàn giữa cộng đồng người Hồi giáo Uyghur Những Ngọn Núi Đá Đen và người Hồi giáo Uyhur Những Ngọn Núi Trắng trong thế kỷ 16, giữa người Hồi giáo Uyghuir và người Hán trong thế kỷ 20 và 21. Vượt lên tất cả, sự tàn khốc của xung đột sắc tộc là lịch sử sống đau thương của cộng đồng Uyghuir phải chịu đựng dưới gót sắt đô hộ của người Hán. Khảo cứu lịch sử từ góc nhìn xã hội và nhân chủng học, tác giả thấy rằng:

Làn sóng di cư ồ ạt với tỷ lệ bảy ngàn người một ngày đã làm cho cộng đồng Uyghur và các cư dân thiểu số Mông Cổ, Dongan, Kazakh, Kirghiz cảm thấy mình bị tước đoạt lịch sử và đất đai, trở thành đứa con xa lạ trên chính quê hương Altishahr. Tham vọng gia tăng ít nhất là hơn hai mươi triệu người Hán vào năm 2020 trong khi cắt giảm sự sinh đẻ của người bản địa Uyghur còn lại một phần tư vào năm 2030 là kế hoạch diệt chủng nhân khẩu học dài hơi trong lịch sử hiện đại Trung Á.[13]

Trong các công trình khảo cứu của mình, Văn Cầm Hải luôn nhìn lịch sử trong sự liên kết sự kiện diễn ra từ quá khứ đến hiện tại cùng với kinh nghiệm thực tế của chính bản thân. Chính điều này giúp anh có cách tiếp cận so sánh sâu sắc, toàn diện, dữ liệu kiến thức dồi dào và khách quan về nguyên nhân, diễn biến, và hậu quả của những cuộc chiến mà nhân loại phải chịu đựng. Nghiên cứu về sự xung đột hiện tại ở miền Tân Cương, tác giả đã miêu tả rõ nét tiến trình xâm lược lãnh thổ, diệt chủng văn hoá và tôn giáo, đàn áp sự nổi dậy đòi độc lập của dân cư Uyghuir của người Hán. Tác giả minh chứng:

Bước sang những năm đầu thế kỷ hai mươi mốt, phong trào mở rộng các lớp học tôn giáo do thanh niên tổ chức gọi là meshrep bị đàn áp dữ dội. Chỉ trong tháng Hai đến tháng Sáu (năm 2000) có một trăm sáu mươi hai người bị bắn chết bởi lực lượng an ninh Trung Quốc, hàng trăm nạn nhân khác vướng án tử hình, hàng ngàn thanh thiếu niên thành thương phế do tra tấn hoặc đạn bắn, hơn một ngàn sáu trăm người mất tích. Lợi dụng sự kiện 11/9, phong trào đòi độc lập và tự do cho người Uyghur bị Bắc Kinh liệt gán tổ chức khủng bố Hồi giáo liên quan đến al-Qaeda, tạo cớ cho chính quyền sở tại đàn áp không nương tay bất kỳ phản ứng nổi dậy nào từ miền sa mạc.[14]

Là một dân tộc yếu thế ngay trên chính quê hương của mình, người Uyghurs phải kháng cự lại sự hung hãn của người Hán, bảo vệ ‘chủ quyền độc lập” của dân tộc bằng việc lưu giữ ngôn ngữ và lịch sử nhưng những sử liệu đó cũng bị thiêu trụi vì chính quyền Bắc Kinh sợ rằng “ký ức trở thành phương tiện chính trị của hiện tại và tương lai hơn là hồi tưởng quá khứ.” Văn Cầm Hải viết:

Tiểu thuyết Afaq Khoja của tác giả Abduwali Ali trở thành hiện tượng văn học sử được đọc giả Uyghur trong và ngoài Đông Turskestan đón nhận nồng nhiệt. Ali dẫn dắt người đọc đến cảm nhận lịch sử rằng Yarkan Khanate ở cuối thế kỷ thứ mười bảy là quốc gia Uyghur lý tưởng có chủ quyền. Ali dùng từ ngữ milliy chỉ dân tộc, watan nói về quốc gia, và ana makan hay ana watan thể hiện tình yêu với quê mẹ Altishahr- đất nước Đông Turkestan độc lập chủ quyền lãnh thổ, lịch sử và ngôn ngữ, chủng tộc khác biệt Trung Hoa. Ngôn ngữ Ali chỉ đôi lời giản dị trở thành nguồn sức mạnh lay chuyển lòng người Uyghur, đe dọa đến cái gọi là chủ nghĩa đa chủng tộc trong một quốc gia thống nhất theo lý thuyết đại Hán cộng sản. Năm 2001, chính quyền nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa tại Kashgar dựng giàn thiêu đốt sống tác phẩm của Ali.[15]

Lịch sử chiến tranh trong tác phẩm của Văn Cầm Hải, dù là chiến tranh Việt Nam hay là chiến tranh ở Trung Đông, Tây Tạng hay Trung Á, luôn gắn liền với lịch sử thân phận con người. Chính những câu chuyện cá nhân và đời sống hằng ngày của họ được soi chiếu từ hai điểm nhìn: ký ức tự nhiên và lịch sử hướng nội đã lộ ra những sự thật lịch sử bị chôn kính, thanh lọc, hay tẩy rửa sau bức màn lộng lẫy che dấu quá khứ. Trong một loạt các bài viết nghiên cứu mới của Văn Cầm Hải, lần đầu tiên sau năm 1975 kể từ khi Sàigòn sụp đổ, cả hai phía Việt Mỹ mới thấy được cái nhìn thực chất và đa dạng của đối phương người Việt về cựu thù của mình trong chiến tranh. Hình ảnh người lính Mỹ được nhìn bằng cái nhìn rất nhân văn từ một nữ du kích ở Củ Chi khi bà sẵn sàng chịu kỷ luật, không màng đến ân hưởng huân chương để không bắn hạ người lính Mỹ trong một trận phục kích khi thấy họ khóc khi đọc thư nhà. Theo bà, họ cũng là “những thanh niên tốt bị bắt đi lính, họ cũng có cha mẹ anh em, họ bước vào cuộc chiến không phải tự nguyện cầm súng.”[16] Chiến tranh không chỉ tàn bạo mà giữa cảnh binh lửa ấy, nhà văn vẫn tìm ra “những khoảnh khắc hòa bình và nhân loại” trong tâm hồn người lính. Là một người lính an ninh có anh trai bị chết vì bom đạn Mỹ nhưng Vũ Quang vẫn thừa nhận một sự thật về những người lính Mỹ mà hằng ngày ông đương đầu. “Anh trai tôi bị giết bởi người Mỹ dĩ nhiên là tôi căm thù nhưng không vì thế mà mình vơ đũa cả nắm. Lính Mỹ vẫn có cái tốt của họ. Khi tôi bị thương họ chăm sóc rất cẩn thận. Cứu sống và đưa tôi về quê.”[17] Bằng cách tiếp cận khách quan, kể lại những câu chuyện sinh động như vậy, Văn Cầm Hải tìm thấy những “quá khứ mới” của chiến tranh Việt Nam để góp phần vào công cuộc hoà giải giữa hai cựu thù. Con người của chiến tranh vừa là anh hùng vừa là nạn nhân của các chính sách lựa chọn bạo lực. Chiến tranh không phải là kẻ thắng người thua, chiến tranh diễn ra không có mặt trận trong lòng người dân có con cái anh em cầm súng từ hai chiến tuyến. Lê, một cựu du kích nói với tác giả rằng “Trong máu tôi trộn lẫn nhiều cuộc chiến, gia đình tôi bị giằng xé giữa phía bên này bên kia. Bao nhiêu cuộc chiến nồi da nấu thịt tôi.[18]

Chiến tranh biến đổi phận người nhưng dù li hương, rời bỏ thể chế đất đai nhưng không rời bỏ được tổ tiên và dân tộc. Văn Cầm Hải tìm thấy Lê Bùi, người đàn ông mấy lần thay đổi theo vận nước trên tấm giấy cư trú, vẫn không bao giờ thay đổi tính Việt ngằn ngặt trái tim và tâm hồn. Mỗi lần thay đổi tên nước, mỗi lần chuyển đổi quốc tịch nhưng họ và tên, máu và xương, quê hương và gia đình vẫn không đổi thay. Niềm nhớ thương bất hoại ấy tôi cũng đọc được từ một người miền Nam lưu vong trong Major Problems in the History of the Viet Nam War [Những Vấn Đề Chính Yếu Lịch Sử Chiến Tranh Việt Nam] của Robert McMahon:

Hằng đêm tôi khóc về Việt Nam quê hương tôi.
Tôi khóc trong nhớ thương
Nước mắt tuôn trào ký ức với Cha Mẹ, anh em tôi và tất cả
những ai chưa ra đi. Tôi không muốn ký ức tôi như nước
mắt cuốn đi trong mưa![19]

Chỉ có sự thật mới phá vỡ thiên kiên lịch sử. Văn Cầm Hải đang dũng cảm phá vỡ những thiên kiến bằng cách giải mã những bí ẩn quá khứ từ ký ức hữu cơ và lịch sử hướng nội. Đó là một hành trình khó khăn nhưng anh đang vượt qua bằng những tác phẩm có giá trị sử học và giàu sức sống văn chương trên hành trình khám phá những quá khứ mới cho dân tộc mình tìm thấy tương lai mới.

*Lê Thường Xuân, Thạc sĩ Ngữ văn và Giáo viên Văn chương, hiện đang sống và làm việc tại Huế.

 


[1] Văn Cầm Hải, “Ký Ức và Luận Sử Phật giáo,” Công trình nghiên cứu của tác giả tại Đại học Công Nghệ Texas, Hoa Kỳ, 2017.

[2] Văn Cầm Hải, Trên Dấu Chim Di Thê, Nhà Xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2003, tr. 92.

[3] Sđd, tr.83.

[4] Sđd, tr. 88.

[5] Sđd, tr. 89.

[6] Sđd, tr. 91.

[7] Sđd, tr. 141.

[8] Sđd, tr. 124.

[9] Sđ d, tr. 41.

[10] Sđd, tr. 41.

[11] Văn Cầm Hải, Miền Như Lai Hoang Dại, Công trình nghiên cứu Phật giáo ở vùng Trung Á, 2015, tr. 125.

[12] Văn Cầm Hải, Tây Tạng Giọt Hoa Trong Nắng, Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2004, tr. 128.

[13] Văn Cầm Hải, Miền Như Lai Hoang Dại, tr. 119.

[14]Sđd, tr. 123.

[15] Sđd, tr. 124.

[16] Văn Cầm Hải, Họ Vẫn Kiên Cường Khi Mặt Đất Rung Chuyển, Thời báo New York, 1/2017.

[17] Báo đã dẫn.

[18] Văn Cầm Hải, Nội Chiến Lòng Người, Thời báo New York, 1/2018.

[19] Văn Cầm Hải, Trên Dấu Chim Di Thê, tr. 95.

bài đã đăng của Lê Thường Xuân


1 bình luận »

  • huyvespa viết:

    Xin cho hỏi quyển “Miền Như Lai Hoang Dại” đã xuất bản chưa và có thể mua ở đâu ah?

    Thanks,

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)