Trang chính » Bàn Tròn, Bàn Tròn: Nghệ Thuật & Chính Trị, , Tư Liệu Email bài này

Về Một Quãng Đời của Trịnh Công Sơn – trích đoạn hồi ký

LTS: Tạp chí Da Màu vừa nhận được tập hồi ký Về Một Quãng Đời của Trịnh Công Sơn của tác giả Nguyễn Thanh Ty cùng với một số văn kiện khác liên quan đến một “vụ án văn học” trong đó nhiều nghi vấn nhắm vào một bài viết của tác giả Nguyễn Đắc Xuân, “Trịnh Công Sơn với cao nguyên bụi đỏ sương mù” vì có nhiều chi tiết sự kiện trùng lập khít khao với hồi ký  Về Một Quãng Đời của Trịnh Công Sơn.

Tác giả Nguyễn Thanh Ty, trong một thời gian khá lâu, có cơ hội sống chung với nhạc sĩ họ Trịnh. Đó là thời gian hai người học chung khóa 1 trường Sư Phạm Qui Nhơn (1962-64). Không những thế, do sự tình cờ của cuộc đời đưa đẩy, cả hai đều được bổ dụng về nhận việc tại Ty Tiểu Học Lâm Đồng, thị xã Bảo Lộc (B’Lao), lại thuê nhà ở chung, ăn chung, vui chơi với nhau qua một thời gian dài từ 1964 đến 1967.

Tạp chí Da Màu sẽ đưa toàn bộ hồi ký Về Một Quãng Đời của Trịnh Công Sơn vào thư viện Trên Kệ Sách trong vài ngày tới để bạn đọc có cơ hội biết về một quãng thời gian quan trọng trong đời sống của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Phần trích đoạn dưới đây, Sinh Tử Phù, kể lại thời gian trong đó tác giả Nguyễn Thanh Ty chứng kiến những sự kiện chung quanh lần chào đời của tập “Ca Khúc Da Vàng.”

Sinh Tử Phù

Sau vụ rao tìm trên Đài phát thanh Đà Lạt và bị quở trách tại Ty, Sơn trở nên cần mẫn hơn, khuôn phép hơn. Ít đi lại Sài Gòn, Đà Lạt hơn. Thỉnh thoảng có đi cũng về kịp sáng thứ hai để đi dạy. Trong thời gian này, Sơn nhận được rất nhiều thư từ. Phong nào cũng dày cộm. Sơn dạy buổi sáng, nên người nhận thư là tôi. Nhìn con dấu bưu điện, tôi biết được là thư gửi đi từ Huế. Đó là thư của bạn Sơn. Cái tên người gửi ở góc trái phong bì lần đầu tôi được nghe, được thấy, lạ lắm. Đó là Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Từ lúc nhận được những thư đó, Sơn bỗng nhiên thay đổi hẳn tâm tính. Lúc nào cũng có vẻ bồn chồn, lo lắng. Ít đi lang thang những buổi chiều nữa. Có lúc ngồi thẩn thờ, mắt đăm chiêu nhìn qua cửa sổ hằng giờ, yên lặng với khói thuốc. Có khi điếu thuốc từ lúc châm đến lúc tàn, Sơn chỉ rít một hai hơi, rồi quên bẵng đi để nó cháy trên hai ngón tay đến lúc rụi đi. Chiếc gạt tàn chưa hết ngày đã đầy ứ lên, tràn ra cả bên ngoài. Sơn đi mua khóa về khóa chặt vali để cất kỹ những bức thư ấy. Có thư vừa đọc xong, Sơn đem đốt ngay. Không ngăn nổi tò mò, một hôm tôi hỏi Sơn:

– Dạo này tôi thấy ông không được vui. Có chuyện gì vậy?

Sơn lãng tránh:

– Đâu có gì! Chuyện nhà mà.

– Sao dạo này ông có quá nhiều thư của ông Phủ, ông Tường gì đó, mà mỗi lần nhận thư, đọc thư xong, tôi thấy ông có vẻ lo lắng thế?

– À! Bạn tôi đó. Ảnh báo cho tôi biết những chuyện không vui của gia đình tôi.

Thấy nói chuyện gia đình, tôi không tiện hỏi thêm. Trước kia Sơn hay kể cho tôi nghe về gia đình anh, về hai đứa em. Em trai là Trịnh Quang Hà, em gái là Trịnh Vĩnh Thúy. Sơn mấy lần rũ tôi về Huế chơi để biết thú ngủ đò trên sông Hương, bánh bèo Âm phủ, cơm hến Vĩ Dạ… Tôi cũng muốn biết cố đô Huế một lần. Hẹn mãi. Nhưng lần nào về Nha Trang, mê sóng nước và thú săn bắn dưới biển tôi lại quên mất chuyện ngủ đò trên sông Hương. Đến nay tôi cũng chưa biết cầu Trường Tiền ‘sáu vài, mười hai nhịp’ ra sao. Bây giờ, đọc báo thấy nói Sơn có bảy anh em. Cô ca sĩ Vĩnh Trinh là út. Nếu cứ tính sinh năm một, năm 1957 ba Sơn mất, thì Vĩnh Trinh phải năm mươi tuổi hoặc hơn.

Sau đó, Sơn lại thường xuyên đi Đà Lạt hơn. Nhưng không phải đến Đà Lạt. Sơn kể cho tôi nghe về một trang trại nào đó ở Phim Nôm, gần Đức Trọng, một quận của tỉnh Tuyên Đức. Sơn ở đó có khi hai, ba ngày với vài người bạn để bàn chuyện làm ăn. (Sơn không nói tên những người đó). Có lần Sơn rủ tôi làm ăn chung. Lương mỗi tháng mười ngàn. Tối trố mắt kinh ngạc:

– Công chuyện gì mà lương mỗi tháng mười ngàn? Họa là làm cho Việt Cộng ?

Sơn xua tay, gạt ngang:

– Nhảm! Ông không làm thì thôi. Nói bậy chết có ngày!

Tôi cười hì hì rồi quên đi. Một lần, Sơn về sau hai ngày bàn chuyện làm ăn, khoe với tôi mọi việc đều tốt đẹp và được đãi một chầu ‘Cà phê cứt chồn’ nhớ đời. Sơn vui vẻ kể:

– Hồi giờ nghe nói cà phê chồn, mấy tiệm đều quảng cáo cà phê cứt chồn, giờ mới biết là láo hết. Làm gì có mà bán. Một đồn điền cà phê mênh mông, cho người đi nhặt cả tuần lễ, chưa chắc có được một ký. Chồn nó lựa những trái cà phê chín đỏ để ăn, rồi ỉa ra hột lẫn trong phân. Chủ đồn điền biệt phái một hay hai người đi lượm những hột đó, đem về phơi khô, rang, tẩm. Sau nhiều giai đoạn chế biến mới thành cà phê uống được. Không đủ biếu quan đầu tỉnh, đầu quận thì làm gì có mà bán ra thị trường .

Tôi vẫn thắc mắc:

– Cả một rừng cà phê bạt ngàn mà ông nói lượm không được một ký?

– Đúng vậy! Người ta không đợi cà phê chín mới hái. Nó sẽ rụng xuống đất hết. Trái vừa già có màu xanh đen là người ta đã hái rồi. Nói là hái chứ thật ra tuốt hay suốt. Trái cà phê mọc thành từng chùm dài như tiêu hay chùm ruột.

– Ông uống thấy mùi vị nó ra sao? Có bay mùi chồn không?

– Không! Nó có mùi thơm đặc biệt lắm. Cái mùi nó quyện trong hơi nóng bốc khói là là trên miệng chén, tỏa hương chầm chậm, thơm lâu lắm. Tôi nhâm nhi từng chút một để cho cái lưỡi và cái lổ mũi tôi thưởng thức hết cái ngon của nửa tách cà phê. Chỉ có nửa tách thôi, suốt một đêm hai con mắt tôi thao láo, không nhắm được. Đến bây giờ, (lúc Sơn về kể) tôi vẫn tỉnh táo mà không cảm thấy mệt.

Nghe nói, tôi đâm thèm và ao ước:

– Ông có xin họ một ít không? Đem ra pha thử cho tôi uống một chút?

– Ở đó mà ham! Tôi lên xuống cả tháng nay, giờ mới được đãi có nửa tách. Một tách còn chưa có thì làm gì họ cho một ít mang về. Vả lại, ai mở mồm xin, ‘ốt dột’ chết!

Hè năm 1965, tôi mãi mê vui đùa với nắng gió, sóng nước ở bãi biển Nha trang nên quên lời hẹn với Sơn ra Huế để Sơn dẫn tôi đi thăm thú các nơi. Hết hè, tuy vẫn còn luyến tiếc những ngày vui trôi qua quá mau, tôi cũng phải trở về Bảo Lộc để kịp ngày khai giảng niên học mới.

Trở lại ngôi nhà trọ, tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy Sơn đã có mặt ở đây rồi. Căn phòng bừa bộn, bẩn thỉu. Toàn là tàn thuốc lá. Chỗ nào cũng đầy tro tàn. Bao thuốc lá Bastos xanh trống không xếp đầy chung quanh tường, cao gần tới đầu gối. Sơn nằm dài trên đi văng. Mùng vẫn buông, ám khói vàng khè. Dưới gầm bàn giỏ rác đầy ứ. Giấy loại quay ronéo vàng xỉn, vo tròn, xé nát vất đầy mặt đất. Xác cà phê khô đóng mốc xanh, trắng vương vãi chỗ này một nhúm, chỗ kia một tụm. Tôi la lên:

– Ông không về Huế nghỉ hè sao?

– Không! Tôi ở lại đây luôn. Cũng không về Sài Gòn. Sơn uể oải vừa chui ra khỏi mùng vừa nói.

– Còn lại một mình bà Phi có nấu cơm cho ông không? Tôi hỏi thêm.

– Không! Sơn lắc đầu. Tôi ăn cơm bữa ở Ngọc Sơn. Tám đồng một bữa. Siêng thì đi ăn, làm biếng thì ở nhà gặm bánh mì. Bà Phi về Sài Gòn cả tháng nay rồi. Cô người làm cũng về quê luôn. Tôi nhìn Sơn ái ngại. Sơn xanh hẳn. Mặt hốc hác. Tóc râu bờm xờm. Người đã ốm o sẵn, nay lại càng gầy thêm. Gầy rạc. Bộ đồ pijama trở nên rộng thùng thình, nhàu nát, đen xỉn. Có lẽ ba tháng nay không giặt. Nhưng đạc biệt nét mặt Sơn rất vui và rạng rỡ. Vừa xếp dọn lại chỗ nằm của mình, tôi vừa trò chuyện:

– Ông làm gì mà nằm ép rệp ở đây tới ba tháng lận! Không buồn à?

Sơn phấn khích chìa tập nhạc ra khoe với tôi:

– Công trình ba tháng đó!

Tôi cầm xấp bản thảo, liếc qua trang đầu có nhan đề ‘CA KHÚC DA VÀNG’. Lật thêm mấy tờ bên dưới thấy những bản nhạc có tựa đề rất lạ như ‘Gia tài của Mẹ’- ‘Đàn bò vào thành phố’- ‘Người già và em bé’- ‘Người con gái Việt Nam da vàng’… với những lời ca lạ lẫm, khác hẵn với những lời trong tình ca đến 180 độ. Tôi ngờ vực có một cái gì đó đã thay đổi con người Sơn. Sơn đã lột xác. Tôi chăm chú nhìn Sơn để tìm xem cái gì khác trên khuôn mặt xương xương kia. Nhưng tôi không nhìn thấy gì cả. Chỉ trong đôi mắt, sau lần kính cận, ánh lên vẽ khác thường. Tôi chưa xác định được rõ ràng là cái gì. Có một cái gì đó mơ hồ lấp ló trong trí tôi rồi vụt biến mất. Cái mơ hồ đó tôi chưa kịp đặt tên cho nó, và cũng chưa nghĩ ra được một chữ thích hợp cho trạng thái đó trong lúc này. Thấy tôi im lặng lật hết tờ này qua tờ khác, Sơn hỏi:

– Ông thấy sao? Được chứ?

– Tôi mới đọc lời thôi! Chưa biết nhạc ra sao! Chưa có ý kiến được. Thôi bây giờ ta đi ăn cơm. Tối nay ông hát cho tôi nghe thử vài bài được không?

Sơn đồng ý. Chúng tôi ra Ngọc Sơn ăn cơm chiều. Cơm nước xong, chúng tôi lững thững đi ngược về hướng bờ hồ để lên Câu lạc bộ uống cà phê, ngắm lại cảnh sương chiều bốc dần lên từ chân cầu nhà Thủy Tạ hình bát giác sơn màu đỏ chói và cái cây chết khô giữa hồ. đứng một mình, cô độc.

Tối đó Sơn hát cho tôi nghe một vài bài tiêu biểu trong tập ‘Ca khúc da vàng’. Đến những đoạn như ‘Gia tài của Mẹ: một bọn lai căng… một lũ bội tình’ hay như ‘Đại bác đêm đêm dội về thành phố! Người phu quét đường dừng chỗi lắng nghe’ hoặc như ‘Tôi có người yêu chết trận đêm qua, chết thật tình cờ…’ tôi bỗng nổi da gà. Lời ca thật xúc động. Nó xoáy sâu vào tim người nghe rồi chuyền lên óc làm cho rúng động tâm can, tỏa lan dần cơ thể làm cho tứ chi bãi hoải. Sơn ngừng hát, đưa mắt hỏi tôi. Đột nhiên trong óc tôi lóe lên một tia chớp: tôi đã thấy rõ hình dáng của nó và tìm ra được cái tên của nó mà buổi chiều tôi chỉ cảm biết mà không nghỉ ra được. Tôi buột miệng la lên: Sinh tử phù.

Sơn ngạc nhiên trố mắt nhìn tôi, chặp lâu mới hỏi:

– Ông nói ‘sinh tử phù’ là ý nghĩa gì?

Thời gian đó Sơn chỉ đọc sách Pháp. Hình như đang đọc ‘Cánh cửa hẹp’ và ‘Buồn nôn’. Tôi thì mê luyện chưởng Kim Dung. Tôi giảng giải sơ lược về môn pháp cấy sinh tử phù cho Sơn nghe. Sơn càng thắc mắc:

– Vậy thì cái chuyện cấy sinh tử phù của ông ăn nhập gì đến tôi?

Tôi chậm rãi, buồn rầu trả lời Sơn:

– Ông đã bị cái ông Hoàng Phủ Ngọc Tường nào đó cấy ‘sinh tử phù’ vào người rồi. Ông còn nhớ có lần ông rủ tôi làm việc với nhóm của ông ở Phim Nôm, trả lương tháng mười ngàn không? Tôi nói đùa: họa may làm cho Việt Cộng, ông giãy nãy la oai oái. Và những lần ông đốt những xấp thư của ông Tường không? Bây giờ trong vòng ba tháng, ông đã sáng tác một đống nhạc, chẳng bù với hai bài ‘Chiều một mình qua phố’ và ‘Lời buồn thánh’ phải mất hơn sáu tháng? Bây giờ trong nhạc ông không còn những sợi nắng thủy tinh, những lá me bay, những tay gầy guộc nhỏ, những sõi đá biết nhớ biết đau mà toàn những xác chết, những bom đạn, mìn chông, bội phản… Những loại từ này không hợp với con người ông. Tôi e rằng ông đã bị tiêm nhiễm sinh tử phù Việt Cộng của ông Tường cấy vào người ông quá lậm rồi!

Sơn phản đối kịch liệt:

– Thôi đừng giỡn cha nội! Cha giỡn kiểu đó chết tôi nghe!

Từ đó, chúng tôi im lặng không ai nói với ai lời nào nữa cho đến lúc tắt đèn đi ngủ.

Dần dà trong bọn chúng tôi ai cũng biết Sơn vừa sáng tác một tập nhạc mới. Lại chia làm hai phe. Lúc đó đâu đã có từ ‘phản chiến’ để chỉ loại nhạc này. Chúng tôi cứ ngâm nga mỗi bài vài câu. Phe thích thì cứ khoái… ‘Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm đô hộ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày…’ ca cẩm suốt ngày. Phe chê thì:

– Xí! nhạc Việt Cộng! Cha nội Sơn theo Việt Cộng rồi!

Tuy nhiên, sau đó lại quên lãng đi. Chúng tôi vẫn lại bù khú cà phê, bi da, xập xám, vui vẽ ồn ào như trước. Nhưng không ai để ý thấy rằng khi đám nhà binh như Vĩnh, Ngự, Tinh, Thành nhập bọn là Sơn tìm cách lãng tránh. Nhất là lúc có mặt hai chàng Thành, chi khu phó và Tinh, an ninh quân đội. Có lần trong bữa nhậu vui vẽ, không biết vô tình hay hữu ý, trung úy Thành vừa cười vừa nói:

– Này mấy ông giáo! Tôi xin nói trước, bạn thì bạn, chơi thì chơi, nhưng ông nào theo Việt Cộng thì chúng tôi vẫn cứ bắt như thường đó!

Nói xong, anh ta cười hì hì, rồi giơ cao ly lên:

– Nào dô! Dô!

Lúc về, Sơn nói riêng với tôi:

– Chơi với mấy cha nhà binh, ghê thấy mẹ!

Thời gian sau, Sơn rất bận rộn. Đi đi, về về, Sài Gòn, Đà Lạt liên tục. Thường xuyên bỏ trường, lớp hơn trước. Nhưng thời gian đi không lâu. Có khi hai ngày. Có lúc ba ngày. Ông già Thống từ ngày được ông trưởng giáo hào phóng cho 100 điểm, há miệng mắc quai, không còn biết than thở với ai, đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Sơn cho tôi biết là đang chuẩn bị in tập ‘Ca khúc da vàng’ và khoe với tôi là giới sinh viên thích lắm. Họ đang yêu cầu có những buổi hát ngoài trời gọi là ‘du ca’. Và Sơn cũng hé cho tôi biết một vài sinh viên có nhiệt tâm đấu tranh như Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Văn Toại… sẵn sàng giúp Sơn thực hiện những buổi trình diễn ấy.

Những điều Sơn kể và những cái tên xa lạ không ăn nhập gì đến đời sống đang tươi đẹp của tôi nên nó từ tai này qua tai kia trôi tuột đi, chốc lát tôi quên hết. Khi Sơn đi vắng, tôi còn vô khối bạn bè để vui chơi. Nào Tín, nào Bạch, Đạo, Lãng, Tâm mập, Tâm lùn, Hinh, Sang, Hiện, Thao, Rầm, Nhượng… Tuần này xuống Tân Hà, đến nhà ông Hiệu trưởng Ngọc hạ cờ tây. Tuần sau kéo nhau vào ấp Lam Sơn. Hai bên đường vào ấp trồng toàn hoa anh đào, nên còn có tên gọi rất thơ mộng là Đào Hoa thôn. Chúng tôi vào đây để đến nhà ông Tề ngắm phong lan. Ông Tề tuy là nhà nông nhưng có tâm hồn nghệ sĩ. Trên gác Nghinh Phong của ông có đủ loại phong lan mà ông sưu tầm được. Trăm màu, trăm vẻ. Tuần khác lại cùng các cô giáo trẻ Nghiên, Châu, Hải, Trang… đi dạo suối Đại Bình, cách Bảo Lộc chừng vài cây số.

Cứ thế, ngoài việc dạy dỗ các em học sinh, tuổi trẻ của tôi đã trải qua những ngày tháng tươi vui, đáng sống trong cái quận lỵ bé nhỏ, mà mới ngày nào tôi gặp Sơn ở bến xe đò một buổi chiều cuối tuần đìu hiu có mưa rã rích. Buồn thúi ruột.

Tháng sáu năm 1966, Tâm nhập ngũ. Sơn chuyển qua phòng Tâm. Hai chúng tôi ở hai phòng riêng biệt. Trừ những lúc đi ăn cơm, uống cà phê, chơi bi da chung với nhau, Sơn ở lì trong phòng. Sơn không còn thú ngồi trước hiên nhà, chờ ngắm cô Ngà đi lễ mỗi buổi chiều với chiếc áo dài lụa màu mỡ gà sáng lóa trong ánh nắng xiên khoai sắp tắt. Bây giờ chỉ còn tiếng chuông nhà thờ quyện bước chân đi và gió chiều nhẹ đuổi theo, khẻ rung tà áo. Hai bên đường, đám lau trắng đã nở hết bông chỉ còn lại những thân xương khô quắt chỉa lên trời.

Giáng sinh năm đó tôi cưới vợ và thuê căn lầu của nhà may Tân Việt để ở. Sơn vẫn ở một mình trong căn nhà bà Phi. Mỗi buổi sáng đi dạy, đi ngang nhà chúng tôi, thỉnh thoảng Sơn tạt vào xin vợ tôi ly sữa dằn bụng. Nhất là những ngày cuối tháng. Bây giờ Sơn không còn tươi vui như xưa. Sơn mệt nhọc trong dáng đi và nhiều suy tư, âu lo hằn trên vầng trán.

Nguyễn Thanh Ty

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

1 Bình luận

  • Minh Đức says:

    Trích: “Và Sơn cũng hé cho tôi biết một vài sinh viên có nhiệt tâm đấu tranh như Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Văn Toại… sẵn sàng giúp Sơn thực hiện những buổi trình diễn ấy.” Phải chăng tác giả muốn nhắc đến Đoàn Văn Toại nhưng viết lộn thành “Nguyễn Văn Toại”? Đây là một đoạn văn nói về các chi tiết liên quan đến sự ra đời của Ca Khúc Da Vàng. Phản chiến, đòi hòa bình là một trong những chiến thuật của phe Cộng Sản trong cuộc Chiến Tranh Lạnh, giữa hai khối CS và tư bản. Phe Cộng Sản sử dụng chiêu bài phản đối chiến tranh, đòi hòa bình như là sợi dây trói tay phe tư bản, để cho phe tư bản khỏi chống trả lại trong khi Cộng Sản tấn công tư bản tới tấp. Trong lòng xã hội Cộng Sản thì CS cấm tuyệt đối tư tưởng phản chiến nhưng đồng thời cho cán bộ đi reo rắc tư tưởng phản chiến trong lòng xã hội địch. Yêu chuộng hòa bình là tình cảm cao đẹp, nhưng chỉ nhìn vào những gì trước mắt mà phản đối chiến tranh, ca ngợi hòa bình mà không thấy được chiêu bài phản chiến, hòa bình là một phần trong chiến dịch bành trướng bằng quân sự của bộ máy chiến tranh khổng lồ bên phía Cộng Sản thì vô tình trở thành một con rối cho người giựt dây, cuối cùng thì từ lòng yêu chuộng hòa bình lại biến thành một cái bánh xe trong guồng máy chiến tranh khổng lồ đó, lại đi phục vụ cho kẻ hiếu chiến, gây ra chiến tranh. Ngay từ lúc mới thành lập, năm 1922 Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản đã đưa ra tài liệu nói rằng nghệ sĩ và giáo sự đại học là đối tượng họ nhắm vào trong xã hội tư bản để lôi kéo, biến những người này làm công cụ tuyên truyền cho họ. Nghệ sĩ và giáo sư đại học là giới thích theo đuổi các lý tưởng cao đẹp, mà lại không bị quyền lợi cá nhân chi phối việc họ ưa thích lý tưởng, đồng thời là những người có ảnh hưởng đến quần chúng. Nghệ sĩ có ảnh hưởng đến khán giả, giáo sư đại học có ảnh hưởng đến sinh viên, lại được xã hội kính trọng.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)