Trang chính » Dịch Thuật, , Sang Việt ngữ Email bài này

Đầu Hàng

0 bình luận ♦ 17.06.2016

 

 

Đọc và viết, như những kỹ năng khác, đến với tâm trí ta một cách từ tốn, lần hồi, từng mẩu, từng miếng. Nhưng đối với tôi, một học trò mà Anh ngữ là ngôn ngữ thứ hai, tới từ một gia đình làm nông, thất học, một gia đình mà việc đọc là một trò xa hoa với những nông dân, hay tệ hơn thế, kinh nghiệm dò dẫm đọc cho hết một cuốn sách, dù là một cuốn truyện tranh đơn giản kiểu “Where the Wild Things Are” / “Nơi Có Những Thứ Hoang Dã”, cũng ngang ngửa với cảnh bạn rơi vào trong lòng một hố cát lún nhanh, mà người thân của bạn bên trên vây quanh, làm thành một vòng an toàn miệng hố, khoanh tay trong ngờ vực, nghi ngại, nhìn bạn lún chìm.

Gia đình tôi di cư từ Việt Nam qua Mỹ vào năm 1990, khi tôi được hai tuổi. Chúng tôi, tất thảy bảy người, sống trong một căn hộ một phòng ngủ ở Hartford, Connecticut. Năm năm đầu tôi sống bao bọc no nê trong tiếng Viêt. Đến khi vào mẫu giáo, tôi lại di cư một lần nữa, một cách nói cũng là đúng, mà lần này là vào lãnh địa tiếng Anh. Như bất kỳ đứa trẻ con nào của Hiệp Chủng Quốc, tôi nhanh chóng làm quen với những ABC của ngôn ngữ, nhờ vào một giai điệu ngân nga có từ không rõ thời nào, một giai điệu tôi vẫn còn tự xướng cho chính mình nghe mỗi khi quên không biết “M” hay “N”, ai đứng trước ai). Sau vài năm tôi đã lưu loát, nhưng lưu loát trong ăn nói, chứ không phải trong chữ viết.

Một buổi chiều đầu xuân khi tôi đang học lớp bốn, lũ học trò chúng tôi có một bài tập, môn tổng hợp chung gọi là nghệ thuật & ngôn ngữ: chúng tôi có hai tuần để làm một bài thơ nhân Tháng Thơ Ca Quốc Gia. Bình thường, khả năng viết không mấy khá của tôi cho phép tôi khỏi làm những bài tập đại loại kiểu này, thay vì vậy tôi sẽ có hai giờ ngồi chép nguyên con, không suy tư, những đoạn văn từ mấy cuốn sách tôi lôi ra từ một bao nhựa ny-lông màu xanh nằm ở cuối lớp. Công việc này cho tôi được ẩn thân, nếu tôi cứ ra vẻ đang cặm cụi làm một cái gì đó ra chiều thông thái, thì những xấu hổ và thất bại chắc hẳn sẽ được giấu nhẹm. Tai họa bắt đầu là khi tôi quyết định phiêu lưu làm một cú ngoạn mục hiểm nghèo. Đó là, quyết định ra tay làm một bài thơ.

“Nó ở đâu vậy?” ông thầy giáo hỏi. Ông thầy cầm bài thơ của tôi đưa lên cao tới ngang tầm mấy ống đèn néon trên trần lớp, nheo nheo mắt, theo cái cách một người đang soi rọi xem một tờ đô la thiệt, giả, ra sao. Qua độ sáng tăng dần lên trong phòng, tôi cảm được trời đang bắt đầu đổ tuyết. Tôi chỉ ngón tay vào bài thơ của mình đang đung đưa giữa mấy ngón tay của ông thầy. “Không phải, bài thơ mà ngươi đạo văn kia?” “Làm sao mà ngươi viết được như thế này kia chứ? ” Xong câu không nhẹ lời, ông thầy nâng dốc cái bàn của tên học trò đổ về phía hắn. Chiếc bàn có một cái hộc dưới, bao nhiêu thứ lỉnh kỉnh trong đó chảy tuột ra: mấy viên tẩy vuông vuông hồng hồng, chì sáp màu mấy cây, bút chì vàng mấy trự, mấy tờ giấy rời chấm chấm sẵn để học trò tập đồ chữ theo đã nhúm nhó, một cây kẹo chanh tròn Dum Dum. Nhưng chẳng có bài thơ nào trong đó. Tôi đứng trước nhúm đồ rơi ngổn ngang quanh chân. Những giây phút lạnh băng của tuyết gieo mình vào cửa lớp, trong khi đám học trò trai gái đồng môn của mình ngồi nhìn trân, mặt mũi chẳng tên nào ra chiều được thuyết phục, chúng dửng dưng như những tờ giấy trắng chưa lên chữ.

Mấy tuần trước, tôi đã vào thư viện nhà trường. Đó là nơi tôi vẫn trốn vào những giờ nghỉ. Chường ra ngoài, thì vì cái dáng nhỏ thó, mảnh người, giọng nói mềm mỏng của tôi, đám con trai sẽ tía lia này “bóng”, này ” ẻng “, rồi chúng còn chơi trò kéo chiếc quần đùi của tôi xuống ngang mắt cá, ngay giữa sân trường. Tôi ngồi bệt xuống sàn với chiếc máy cassette. Trong chiếc hộp đựng những băng ghi âm, tôi chọn cuộn băng nhựa có tựa “Những Diễn Từ Đặc Sắc của Hoa Kỳ”. Tôi chọn nó vì tranh minh họa ở bìa, một cái micro trên nền lá quốc kỳ nước Mỹ. Tôi nhón tay chọn nó vì lá cờ Mỹ là một trong vài biểu tượng tôi nhận mặt được.

Qua ống nghe, một giọng đàn ông mạnh mẽ trào dâng tới, dốc hết sức mạnh trút vào cơ thể tôi. Âm hưởng nâng bổng của lời nói khiến tôi tưởng tượng đến những đợt sóng trên biển cả. Giữa những câu, tôi nghe ra và tưởng tượng được như cả ngàn người rộn rã hò reo, vỗ tay tán thưởng. Tôi tưởng tượng những chiếc đầu của họ đang di chuyển thành một dòng chảy miên man. Giọng nói của người đàn ông ấy phải có sức mạnh của một mặt trăng, tôi nghĩ vậy, một cái gì mạnh mẽ nằm ngoài sự nắm bắt của tôi, của đời sống nhỏ nhoi của tôi. Rồi thì người thuyết minh gọi tên ông ta: đốc tờ Martin Luther King Junior. Tôi gật đầu, không biết tại sao một đốc tờ nói năng hùng hồn như thế. Có lẽ biết đâu những người nghe là những bệnh nhân đang ốm, và ông ta đang ra tay cứu chữa họ, biết đâu. Ắt phải có phương thuốc gì trong những lời kia – có thể nào có phương thuốc trong chữ lời? “I have a dream” – Tôi có một giấc mơ, tôi nói to theo lời người bác sĩ đang nói. Tôi chợt nhận ra tôi vẫn đã nói to theo những câu chuyện kể của bà tôi như vậy, những câu chuyện bà đã kể cho tôi nghe từ khi tôi mới lọt lòng. Tất nhiên, không đọc được không có nghĩa ta không có những câu chuyện kể.

Bài thơ của tôi có tên “If a boy Could Dream“/”Nếu một Cậu Bé Có Thể Mơ Mộng.” Những cụm chữ “promised land“/”đất hứa”, “mountaintop/”đầu đỉnh núi” với tôi sao nghe rực rỡ hoàng kim, và tôi thấy một cánh đồng rực sáng hỏa hoàng, nó có một độ phong nhiêu gần gũi với buổi tịch dương mùa xuân. Tôi tưởng tượng vị bác sĩ đang mơ ngày tháng xuân xanh. Bài thơ của tôi vì thế như một ca khúc ngợi ca mùa xuân. Từ những chương trình truyền hình về vườn tược bà tôi từng theo dõi, tôi đã học được những từ ngữ, tên của các loài hoa mà tôi chưa từng thấy ngoài đời: foxglove, lilac, lily, buttercup/ hoa thạch thảo, tử đinh hương, huệ, hoàng mao lương…

“If a boy could dream of golden fields, full of lilacs, tulips, marigolds /Nếu một cậu bé có thể mơ mộng những cánh đồng vàng rực, đầy tử đinh hương, uất kim hương, cúc vạn thọ…”

Tôi biết những chữ “if” và “boy” nhưng những chữ khác tôi phải tra tự điển. Tôi phát âm những chữ ấy trong đầu, với cuốn tự điển nằm trên đùi, tôi tra tìm những từ ngữ. Sau vài ngày, bài thơ hiện ra như những chữ chì đen ửng xám. Trang giấy là một lá cờ trắng. Tôi đã trương cờ trắng, đã đầu hàng, đã viết.

Nghĩ lại, tôi có thể hiểu vấn đề của ông thầy giáo của tôi. Sau rốt thì tôi cũng chỉ là một đứa học trò xưa nay không mấy khá. “Nó đâu rồi hử?” ông ta lập lại câu hỏi thêm lần nữa.

“Nó ngay đây,” tôi nói, chỉ tay vào bài thơ của tôi nằm giữa mấy ngón tay của ông ta.

Tôi đã đọc những cuốn sách không là sách, và tôi đã đọc bằng tất cả mọi thứ trừ bằng với đôi mắt của mình. Từ “cái đọc” vô hình đó tôi đã khảm khắc thế giới của tôi xuống giấy. Như thế, tôi là một kẻ lừa gạt trong lĩnh vực ngôn từ, nói một cách khác, tôi là một nhà văn. Tôi đã đạo văn đời tôi để đem cho bạn điều hay ho nhất của tôi  ♦

 

Ocean Vuong, làm thơ, viết tiểu luận, tác giả của cuốn Night Sky with Exit Wounds (Bầu Trời Đêm với Những Vết Thương Đi Ra)

Nguyễn Hoàng chuyển ngữ từ nguyên tác đăng ở số báo New Yorker 6 & 13 June 2016

bài đã đăng của Ocean Vương


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)