Trang chính » Dịch Thuật, Ngôn Ngữ, Sáng Tác, Sang Việt ngữ Email bài này

Trên Thế Gian Chúng Ta Có Thời Lộng Lẫy


♦ Chuyển ngữ:
1 bình luận ♦ 27.06.2019

 

Ocean Vuong at home in North Hampton, Mass.
Nhà thơ Ocean Vương ở nhà, Northhampton, Massachusetts
(Nguồn:
The Guardian)

Lời giời thiệu của người dịch: Ocean Vương (tên Việt là Vương Quốc Vinh) sinh năm 1988 ở Sài Gòn, và qua Mỹ năm 1990. Anh bắt đầu gây chú ý trong giới thi ca Mỹ qua hai tập thơ nhỏ (chapbooks): Burnings (Sibling Rivalry Press, 2010), và No (YesYes Books, 2013), trước khi trở thành nổi tiếng trên văn đàn quốc tế với tuyển tập Night Sky with Exit Wounds (Trời Đêm Những Vết Thương Xuyên Thấu) (Copper Canyon Press, 2016) – bản dịch Việt ngữ của nhà thơ Hoàng Hưng được nxb Hội Nhà Văn phát hành vào cuối năm 2018).

On Earth We Are Briefly Gorgeous (Trên Thế Gian Chúng Ta Có Thời Lộng Lẫy) (Penguin: 2019), tiểu thuyết đầu tay của nhà thơ, được cấu trúc như một bức thư dài mà nhân vật chính là Chó Con (Little Dog), một nhà văn đồng tính, viết cho mẹ mình, Hồng, một người đàn bà mù chữ, ít học, nhân công trong một tiệm làm móng tay. Vắng bố, Chó Con sống với bà ngoại tên Lan và mẹ Hồng trong một xóm nghèo ở thành phố Hartford, bang Connecticut. Cả hai người đàn bà là nạn nhân của chiến tranh và xã hội Việt Nam. Hồng bị bệnh hậu chấn tâm lý (PTSD) do chứng kiến những cảnh tang tóc lúc còn bé nên nhiều lúc hành hạ, đánh đập Chó Con, rồi sau đó lại hối hận. Lan, hồi còn trẻ bị gia đình ép lấy chồng sớm, bị chồng hành hạ, trốn lên tỉnh làm gái bán bar, có bầu với một quân nhân Mỹ và đẻ ra Hồng. Trong thời gian sống ở Hartford Lan bị bệnh tâm thần phân liệt (schizophrenia), sống lẫn lộn giữa quá khứ và hiện tại, sau chết vì ung thư.

Ta có thể đọc Trên Thế Gian Chúng Ta Có Thời Lộng Lẫy như một đối thoại với tác phẩm Le Plaisir du Texte (Sự Khoái Cảm Từ Văn Bản) (1973) của Roland Barthes, nhà phê bình theo thuyết phân tâm học của Freud. Theo Barthes, một nhà văn có thể cùng lúc sáng tác văn bản với hai đặc tính: khả năng tạo khoái cảm (text de plaisir) và khả năng tạo khoái lạc (texte de jouissance). Khả năng tạo khoái cảm “chịu ảnh hưởng từ văn hóa (dòng chính) và không đoạn tuyệt với văn hóa này, do văn bản có những ký hiệu và ẩn dụ phát xuất từ một truyền thống đọc sách quen thuộc. Trái lại, khả năng tạo khoái lạc gây cho người đọc trạng thái mất mát, làm hắn bị hụt hẫng, đảo lộn những định kiến về lịch sử, văn hóa, tâm lý, sự nhất quán về sở thích, giá trị luân lý, hồi ức, của hắn, và thử thách sự gắn bó giữa hắn với ngôn ngữ.” Một nhà văn tị nạn đồng tính, dùng văn phong thơ mộng và kinh điển để diễn tả những đề tài taboo, những cảnh đời nghiệt ngã như Ocean Vương, có lẽ là một nhà văn lý tưởng của Barthes, một nghệ sĩ “cùng lúc tham dự vào sự hoan lạc thâm thúy của văn hóa qua đời sống tinh thần sống động của những quyển sách cổ điển, và sự tiêu hủy của văn hóa này: hắn muốn có sự nhất quán về bản sắc, nhưng đồng thời cũng muốn đánh mất nó.”

Khi viết tiểu thuyết bằng tiếng Anh, dựa trên những người thân không nói và đọc được tiếng Anh, Ocean Vương tạo ra sự hiện hữu của họ trong xã hội Hoa Kỳ nhưng cùng lúc tách rời sự liên hệ của anh ra khỏi ngôn ngữ mẹ đẻ, là ngôn ngữ của quá khứ. Tiểu thuyết với giọng văn suy niệm của Ocean Vương không có những tình tiết gay cấn, nhưng không vì thế mà không gây ấn tượng. Theo Barthes, “sự khoái cảm của ngôn ngữ không cần phải theo truyền thống khải hoàn, anh dũng, gân guốc …. Sự khoái cảm [của người đọc/tôi] có thể ở trong thể lững lờ. Lững lờ xảy ra bất cứ lúc nào tôi không nể trọng cấu trúc, và bất cứ lúc nào, như được đưa đẩy bởi ảo tưởng, sự quyến rũ và đe dọa của ngôn ngữ, tôi giữ trạng thái bất động, xoay tròn như cái nút bần trong nỗi khoái lạc bất biến buộc chặt tôi với văn bản (với thế gian).”

Đinh Từ Bích Thúy

 

*****

Ocean Vuong, mother and grandma
Ocean Vương, hai tuổi, với mẹ và dì ở trại tị nạn Phi Luật Tân
(Nguồn: The Guardian)

Khi nói đến chữ nghĩa, vốn của mẹ còn ít hơn mấy đồng bạc mẹ để dành từ tiền típ làm nail trong lon sữa cất ở hộc tủ trong bếp. Thông thường mẹ chỉ con chim ruồi, một đóa hoa, hay tấm màn đăng ten ở Walmart và khen giản tiện là nó đẹp –bất cứ cái gì mà mẹ thấy đẹp. “Đẹp quá,” có lần mẹ thốt miệng, tay chỉ con chim ruồi đang đập cánh vù vù trên nhánh lan màu sữa bên nhà hàng xóm. “Đẹp thiệt.” Mẹ hỏi con chim đó là chim gì và con đã dùng tiếng Anh để trả lời mẹ– vì con chỉ biết gọi tên nó trong ngôn ngữ này. Mẹ ngô nghê gật đầu.

Ngày hôm sau mẹ đã quên tên chim, những âm tiết trôi tuột khỏi lưỡi mẹ. Nhưng lúc từ phố về nhà con đã thấy máng nước cho chim ruồi treo ngay đằng trước sân, có bồn thủy tinh chứa mật hoa trong suốt, chung quanh riềm bồn là mấy bông hoa nhựa sặc sỡ, có lỗ như nhụy rỗng cho mỏ nhọn của chim thông qua. Khi con hỏi thì mẹ lôi hộp các tông bẹp dí từ thùng rác, chỉ vào hình con chim ruồi trên hộp, đôi cánh xoáy vù, và mỏ dài hình cái kim—một loài chim mẹ không biết tên nhưng vẫn có thể nhận diện. “Đẹp quá,” mẹ tủm tỉm, “Đẹp quá.”

Lúc mẹ về nhà tối hôm đó, sau khi bà ngoại Lan và con đã chia nhau ăn bữa cơm tối là nước trà chan lên cơm, mình đi bộ 40 phút tới siêu thị C-Town gần đại lộ New Britain. Lúc đó siêu thị sắp đóng cửa và những gian hàng thì vắng tanh. Mẹ muốn mua đuôi bò về làm bún bò Huế để ăn dần trong tuần lễ mùa đông sắp tới.

Bà ngoại Lan và con đứng cạnh mẹ ở quầy bán thịt, nắm tay nhau, khi mẹ nhòm vào những khúc thịt đỏ tươi vân mỡ trắng bên trong quầy thủy tinh. Không thấy có đuôi bò, mẹ vẫy người đàn ông đang đứng sau quầy. Khi ông ta hỏi bà cần gì, mẹ đứng im thật lâu, rồi đáp lại bằng tiếng Việt. “Đuôi bò. Anh có đuôi bò không?”

Đôi mắt người đàn ông đảo qua từng khuôn mặt Á Đông, rồi ông lập lại câu hỏi bà cần gì, người ông ghé sát hơn vào quầy. Tay bà ngoại Lan giật nhẹ trong tay con. Quýnh quáng, mẹ quặc ngón tay trỏ đằng sau lưng, quay nghiêng, để người đàn ông có thể thấy lưng mẹ, rồi mẹ ngoắc ngoắc ngón tay trong lúc miệng giả tiếng bò kêu mù mù mù. Với tay kia mẹ ra dấu vẽ sừng bò trên đầu. Mẹ di chuyển, xoay người, lắc lư, để hắn có thể nhận ra từng phần của màn trình diễn: sừng, đuôi, bò. Nhưng hắn chỉ cười, tay hắn lúc đầu còn che miệng, sau đó hắn cười lớn hơn, tiếng cười vang rền khắp siêu thị. Mồ hôi trên trán mẹ loang loáng dưới ánh đèn huỳnh quang. Một người đàn bà trung niên, tay cầm hộp ngũ cốc hiệu Lucky Charms, lê đôi chân ngang qua chỗ chúng mình, cũng cố nhịn cười. Lưỡi mẹ lo le chạm vào răng hàm, hai má căng phồng. Mẹ đang chết đuối trong không khí. Giờ mẹ xoay qua tiếng Pháp, một vài chữ mẹ còn nhớ từ thuở nhỏ. “Derrière de vache!” mẹ hét lớn, mạch máu ở cổ mẹ rõ mồn một. Như một cách trả lời, người đàn ông gọi vọng vào căn phòng ở phía sau quầy thịt, nơi một người đàn ông khác, với làn da sậm màu và vóc dáng thấp hơn, xuất hiện và hỏi chuyện mẹ bằng tiếng Tây Ban Nha. Lúc này bà ngoại Lan buông tay con ra, rồi cũng bắt chước mẹ làm những cử động—hai người tiếp tục xoay vòng và kêu mù mù mù. Bà ngoại Lan cứ khúc khích cười.

Hai người đàn ông rống lên cười, tay đập mạnh lên quầy, nhe toác hàm răng trắng nhởn. Mẹ quay qua con, mặt mẹ ướt đẫm mồ hôi, van xin. “Nói dùm mẹ đi con. Con nói với họ cái mà mình phải mua.” Lúc đó con đâu biết đuôi bò là oxtail. Nên con lắc đầu, cảm giác xấu hổ tràn ngập trong lòng. Bây giờ hai người đàn ông nhìn mẹ con mình chằm chằm, lo ngại. Chợ sắp đóng cửa. Một trong hai người đàn ông hỏi lại mẹ, đầu cúi thấp, thực lòng muốn giúp. Nhưng bọn mình đã bỏ đi. Bọn mình bỏ ý định mua đuôi bò, dẹp chuyện nấu bún bò Huế. Mẹ túm lấy bao bánh mì Wonder Bread và một lọ mayonnaise. Không ai nói năng gì lúc ra quầy trả tiền, ngôn ngữ chúng ta bỗng như trật lất ở mọi nơi, ngay cả trong miệng chúng ta.

Ở chỗ mình đứng sắp hàng, bên cạnh quầy bán kẹo và tạp chí là một cái khay có mấy chiếc nhẫn đổi màu. Mẹ lấy một chiếc, đeo thử vào ngón tay, và sau khi xem giá tiền, bèn mua ba – cho mỗi người một chiếc. “Đẹp quá,” mẹ thầm thì sau một hồi lâu, “Đẹp quá.”

 

Ocean Vuong va me
Ocean Vương và mẹ trên bãi biển, nơi “thân thể của nước nằm giữa hai biên giới”
(Nguồn:
The Guardian)

Không điều gì giữ được mối tương quan bất biến với khoái cảm, Barthes nhận xét, nhưng đối với một người viết, đó chính là ngôn ngữ mẹ đẻ.” Nhưng giả tỉ ngôn ngữ mẹ đẻ quá nghèo nàn, còi cọc? Giả tỉ ngôn ngữ đó không những biểu hiện cho sự mất mát, mà chính nó là sự mất mát, giả tỉ lưỡi ai đó đã bị cắt? Ai có thể thu nhận khoái cảm trong sự mất mát mà không bị mất đi chính mình? Tiếng Việt con sở hữu là ngôn ngữ mẹ đã cho con, một ngôn ngữ với từ vựng và cú pháp chỉ đến trình độ lớp hai.

Hồi mẹ còn nhỏ xíu, từ chỗ núp ở bụi chuối mẹ đã thấy ngôi trường làng bị thiêu rụi sau lần Mỹ bỏ bom. Năm tuổi đầu, mẹ không bao giờ được trở về lớp học. Ngôn ngữ mẹ đẻ thực ra là ngôn ngữ mồ côi. Tiếng Việt của chúng ta là một viên nang thời gian, dấu mốc cho sự kết thúc trình độ giáo dục của mẹ, cháy biến thành tro. Mẹ ơi, khi con mở miệng nói tiếng mẹ đẻ con chỉ bập bẹ được một phần tiếng Việt, nhưng đã thuộc làu ngôn ngữ của chiến tranh.

Từ đêm hôm đó con hứa với mình là sẽ không bao giờ im tiếng khi nào mẹ cần con lên tiếng cho mẹ. Từ đó con chính thức trở thành thông dịch viên cho gia đình mình. Từ đó con lấp đi những khoảng trống, những câm lặng, kết nối những âm thanh đứt đoạn, bất cứ lúc nào con có thể. Con thay đổi ký hiệu. Con trút bỏ tiếng mẹ đẻ để nhập âm tiếng Anh. Con đeo ngôn ngữ thứ hai như đeo mặt nạ, để người ta có thể nhìn thấy mặt con, và như thế để họ cũng thấy rõ khuôn mặt mẹ.

Lúc mẹ làm việc được khoảng một năm ở xưởng đồng hồ, con gọi cho xếp của mẹ, dùng cách xưng hô lịch sự, nói với ông ta là mẹ tôi muốn bớt giờ làm việc. Tại sao vậy? Vì bà rất mệt mỏi, vì bà thường ngủ quên trong bồn tắm sau khi về nhà, vì tôi sợ là bà sẽ chết đuối. Một tuần sau mẹ được bớt giờ. Hoặc những lúc, thật nhiều lúc, con gọi số điện thoại trên danh mục Victoria’s Secret, đặt hàng xú-chiêng, quần lót, vớ mỏng, quần bó chân cho mẹ. Những nhân viên bán hàng, sau một vài phút hoang mang vì nghe giọng con nít ở đầu giây bên kia, lấy làm thích thú khi thấy một thằng bé thạo việc mua đồ lót cho mẹ. Họ xuýt xoa khen con, nhiều lúc còn miễn không tính tiền cước phí. Và họ cũng hỏi han con về trường học, các phim hoạt họa mà hồi đó con thích xem, họ cũng chia sẻ với con về con trai của họ, và nghĩ rằng, chắc mẹ rất sướng có được một đứa con trai như con.

Nhưng con không biết mẹ có sướng không. Con không bao giờ hỏi mẹ.

Lúc mình từ siêu thị về nhà, tuy không có đuôi bò nhưng mình có ba chiếc nhẫn đổi màu, mỗi chiếc lấp lánh trên mỗi ngón tay của từng người trong nhà. Mẹ nằm úp mặt trên tấm chăn trải ở sàn nhà, còn bà ngoại Lan thì ngồi trên lưng mẹ đấm bóp hai bả vai cho mẹ. Ánh đèn xanh lè từ ti-vi làm mình giống như đang ở dưới nước. Bà ngoại đang lầm bầm kể một chuyện gì đó trong đời của bà, và chỉ thỉnh thoảng ngừng nói để hỏi mẹ xem chỗ nào trên vai mẹ còn mỏi, đau.

Barthes lý luận, hai ngôn ngữ loại trừ lẫn nhau, nhưng gây xúc tác cho một ngôn ngữ thứ ba. Đôi khi từ vựng của chúng ta quá ít ỏi, hoặc bị liêu trai hóa. Trong trường hợp này bàn tay, tuy bị giới hạn bởi da và xương, có thể trở thành một ngôn ngữ thứ ba có chức năng linh hoạt khi miệng lưỡi ngập ngừng.

Quả là trong tiếng Việt ít ai nói yêu ai, và nếu có nói thì hầu như chỉ nói qua tiếng Anh là I love you. Tình thương yêu, sự chăm sóc, đối với người Việt mình, thường được biểu hiện rõ rệt nhất qua hành động phụng sự: khi mình nhổ tóc bạc cho bà ngoại, khi mẹ ép sát người mẹ vào người con để làm dịu đi độ xáo động của phi cơ, và do đó cũng thấm bớt nỗi sợ của con. Hay ngay lúc này—khi bà ngoại gọi con, “Chó Con tới đây giúp bà đấm bóp cho mẹ mày.” Con và bà mỗi người ở một bên của mẹ, xoa nắn, làm giãn những đường gân như thắt nút trên cánh tay mẹ, lần xuống cổ tay, xuống những ngón tay của mẹ. Trong một phút gần như quá ngắn ngủi, một hình ảnh đầy ý nghĩa: ba người trên sàn nhà, nối kết với nhau qua xúc giác, tạo thành một chữ gia đình.

Mẹ rên rỉ sảng khoái khi con và bà ngoại ấn nhuyễn những đường gân trên người mẹ, tháo gỡ sự căng thẳng trên thể xác mẹ chỉ với trọng lực của hai bà cháu. Mẹ giơ cao ngón tay, như nói vào chăn, hỏi mọi người: “Tui có sướng hông?”

Cho đến lúc con nhìn thấy chiếc nhẫn đổi màu trên tay mẹ con mới nhận ra là mẹ muốn nhờ con thông dịch, thêm lần nữa, một khía cạnh khác của nước Mỹ. Con chưa kịp trả lời mẹ thì bà ngoại Lan cũng đưa tay đeo nhẫn của bà lo le trước mũi con, “Coi cho bà đi, Chó Con, bà có sướng hông?” Có thể, trong lúc viết về mẹ, con cũng viết về/cho tất cả mọi người – vì làm sao có một không gian riêng nếu chúng ta không có một không gian an toàn, nếu tên gọi một bé trai cùng lúc che chở cho nó nhưng cũng biến nó thành một con vật?

“Dạ. Con nghĩ bà ngoại và mẹ đều sướng hết.” Con trả lời, nhưng chẳng biết gì cả. “Dạ. Mẹ. Cả hai người đều sướng như nhau. Dạ.” Con lập lại. Vì súng đạn, những lời dối trá, và đuôi bò – hoặc bất cứ danh từ nào mà mẹ gọi thượng đế của mẹ–cần phải lập đi lập lại nhiều lần Dạ, từng chu kỳ, từng xoắn ốc, không vì lý do nào ngoài lý do muốn khẳng định sự hiện hữu của nó. Vì tình yêu, ở thượng đỉnh, cần được lập lại. Phải không mẹ?

“Tao sướng thiệt nè!” Bà ngoại Lan giơ cả hai tay lên trời. “Tao sướng trên xuồng tao nè. Xuồng tao đây, thấy hông?” Bà ngoại chỉ hai cánh tay mẹ, soải dài hai bên người mẹ như mái chèo, con và bà mỗi người ngồi một bên. Con nhìn xuống, thấy ván thuyền màu nâu ngả vàng đang xoay vòng trên dòng nước đục. Con thấy nước sông dặc dờ mỡ và lau sậy bị chết úa. Hai bà cháu không chèo thuyền, nhưng để thuyền trôi lững lờ. Hai bà cháu ôm ghì thân mẹ như tấm bè cho đến khi mẹ chìm vào giấc ngủ. Dần dà chúng mình cũng lặng im, trong lúc tấm bè chở mọi người xuôi dòng, trên con sông lớn đục màu gọi là nước Mỹ, sung sướng thiệt tình.

bài đã đăng của Ocean Vương


1 Bình luận »

  • Trịnh Cung says:

    Đọc truyện hấp dẫn, lôi cuốn. Chỉ tiếc là tác giả lại đưa hình ảnh Mỹ bỏ bom cháy nhà, một sự lập lại cách lên án người gây tội ác chiến tranh tại Việt Nam như các luận điệu phản chiến trong “The Vietnam War”?

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)