Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

Trộm Xác


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 19.11.2015

 

 

Hàng đêm bọn chúng tôi, bốn người thường ngồi hàn huyên trong phòng riêng của lữ quán George thuộc vùng Debenham -một người là chủ quán, người kia là địa chủ rồi Fettes và tôi. Có khi nhiều người hơn, nhưng dù cho trời có giông gió, mưa, tuyết hay băng giá, bốn người chúng tôi mỗi người đều ngồi rất lâu trên chiếc ghế bành đặc biệt dành riêng cho mình.

Fettes người Tô Cách Lan đã đứng tuổi, nghiện rượu, một người học vị rất cao, có đôi chút tài sản vì anh xem ra sống nhàn hạ. Anh đến vùng Debenham nhiều năm về trước, khi đang còn trẻ trung, cứ thế tiếp tục sinh sống để rồi hiển nhiên trở thành người dân của thành phố.

Cái áo khoác màu xanh lơ anh mặc là loại áo cổ của địa phương, dáng áo nhìn như cái chóp nhà thờ. Lê lết thường xuyên trong phòng riêng của lữ quán George, vắng mặt trong buổi lễ nhà thờ, cái tính phóng đãng trụy lạc và nát rượu cố hữu tự thuở nào đó là tất cả những gì người ta biết về anh khi sống ở Debenham. Anh ta có tư tưởng hơi cấp tiến và có vẻ chống đối tín ngưỡng, điều mà thỉnh thoảng thường lộ ra khi đưa ra những lời phát biểu gây chú ý với điệu bộ loạng choạng ngất ngưỡng, tay thì đấm xuống bàn thùm thụp. Anh ta uống rượu Rum – thường xuyên mỗi tối năm ly; do lượng rượu hơi nhiều anh nốc mỗi tối khi ngồi ở quán George nên lúc nào trong tay cũng cầm ly rượu và ở trong tình trạng ngà ngà say. Chúng tôi gọi anh là bác sĩ, bởi người ta cho rằng anh ta có hiểu biết đặc biệt về y thuật nổi tiếng trong việc băng bó, hàn gắn vết nứt và chỉnh khớp. Nhưng ngoài những chi tiết không mấy quan trọng đó chúng tôi không biết gì về tâm tính cũng như quá khứ của anh ta.

Vào một đêm đông mịt mù – khi chuông đồng hồ gõ đâu vào khoảng chín giờ trước khi vị điền chủ tới họp mặt với chúng tôi – có một người ngã bệnh trong quán George, một nhà đại tư sản bất thình lình bị đột quỵ vì trúng phong trên đường tới Nghị Viện; thế rồi một người danh tiếng hiện là một bác sĩ lớn của Luân Đôn đã được điện báo mời đến bên giường ông ta . Đây là lần đầu tiên một sự việc như thế xảy ra ở Denbenham, vì tàu lửa chỉ vừa mới khởi hành, và chúng tôi ai cũng đều xúc động bởi sự cố này.

_”Ông ta đang đến” người điền chủ lên tiếng sau khi nhồi thuốc và mồi lửa vào ống điếu.

_”Ông nào?” Tôi hỏi. Là ai vậy? – không phải cái ông bác sĩ đó chứ?”

_”Chính ông ta đó!” người chủ quán trả lời.

_”Tên ông ta là gì?”

_”Bác sĩ Macfarlane”, người điền chủ nói.

Fettes thì uống đến ly thứ ba, đã say khướt choáng váng, đang trơ mắt đờ đẫn nhìn xung quanh. Chỉ có từ cuối cùng làm anh ta hơi khựng người, lập lại cái tên Macfarlane hai lần, lần đầu với giọng còn đủ bình thản nhưng đến lần thứ hai thì bất chợt giọng trở nên xúc động .

_”Đúng đấy” người điền chủ nói, đó là tên ông ta, bác sĩ Wolfe Macfarlane.

Ngay lập tức Fettes chợt tỉnh ra, đôi mắt linh hoạt giọng nói trở nên rõ ràng sang sảng đầy cương quyết. Lời nói mạnh dạn cứng cỏi nghiêm trọng. Tất cả bọn tôi đều phát hoảng bởi sự biến đổi như thể đó là một người vừa trồi lên từ cõi chết.

_”Cho tôi xin lỗi nhé! Tiếc là tôi đã không chú ý lắm đến cuộc nói chuyện của mấy ông. Ông Macfarlane này là ai thế? Thế rồi khi nghe ông điền chủ nói rõ, anh ta chêm vào: “Không thể nào, không thể nào”; Tuy nhiên tôi rất muốn được giáp mặt ông ta.

_Bộ anh biết ông ta sao bác sĩ? Người chủ quán sững sờ hỏi lại.

_Chúa ơi mong đừng như thế! Đó là câu trả lời. Cái tên không thôi đã là lạ rồi lại còn giống cả tên ghép nữa mới kỳ dị chứ. Này anh điền chủ, ông ta có già không?

_Để xem nào. Người chủ quán nói. Ông ta không trẻ, chắc chắn thế, tóc ông ta trắng xóa nhưng trông trẻ hơn anh.

_Mặc dầu vậy ông ta lớn hơn tôi; lớn hơn nhiều tuổi. Nhưng, anh ta đập mạnh tay lên bàn, chính rượu đã làm sắc mặt tôi hư hao già đi – rượu và sự bê tha trụy lạc. Có lẽ người đàn ông này, có một lương tâm không cắn rứt và có một bộ tiêu hóa tốt. Lương tâm đấy! Hãy nghe tôi nói đây. Anh có thể nghĩ tôi là một người thiên chúa mộ đạo mẫu mực cổ kính nào đó, phải vậy không nào? Nhưng không, tôi không phải là người như vậy. Tôi không bao giờ giả dối ngụy tạo. Cái ông triết gia Voltaire có thể ngả nghiêng nếu như ở trong tình trạng của tôi; nhưng còn đầu óc của ông ta – chỉ cần một vài kích ứng trên cái đầu hói – là sáng suốt và linh hoạt lại ngay, và tôi đã nhận ra mà không cần suy đoán.

“Nếu như anh biết cái ông bác sĩ này,” tôi đánh bạo lên tiếng sau một lúc im lặng ngột ngạt, “thì tôi e rằng anh không đồng ý với ông điền chủ.

Fettes phớt lờ câu hỏi của tôi.

“Được rồi” anh ta bất thình lình đưa ra quyết đinh, “tôi cần phải giáp mặt ông ta.”

Lại một khoảnh khắc im lặng nữa, rồi tiếng cánh cửa dập hơi mạnh ở tầng trệt và tiếng chân bước lên cầu thang.

Bác sĩ đã đến. Người địa chủ kêu lên “Mau lên, anh có thể nhận ra ông ta đấy.”

Chỉ cần hai bước từ phòng khách nhỏ bé tới cửa quán rượu George; Cầu thang gỗ sồi rộng vươn ra gần đến mặt đường; chỉ có một khoảng để trải tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ còn thì không có gì nữa giữa bậc cửa và chân cầu thang; nhưng cái không gian nhỏ bé này đêm đêm được thắp sáng không phải chỉ bởi ngọn đèn tỏa xuống từ trên cầu thang và bóng đèn chớp lớn dưới cái bảng hiệu mà còn được thứ ánh sáng ấm áp rọi vào qua khung cửa sổ của quán ba. Do đó quán George là điểm nổi bật sáng lòa trong con phố hiu hắt gây được sự chú ý với khách qua đường. Fettes mạnh bạo đi đến đó và chúng tôi lùi lại phía sau mục kích cuộc gặp gỡ giữa hai người đàn ông như lời một trong hai người đã tuyên bố. Mặt đối mặt.

Bác sĩ Macfarlane là người mẫn tiệp tráng kiện. Mái tóc trắng làm nổi bật sắc mặt xanh xao mặc dù nghiêm khắc. Trang phục ông ta mặc làm bằng loại vải len dầy hảo hạng trắng toát, chiếc đồng hồ đeo tay bằng vàng rất đẹp, khuy áo và mắt kính cũng cùng một thứ nguyên liệu quý giá. Ông ta đeo chiếc cà-vạt to bản, nền trắng lốm đốm hoa tử đinh hương, và mang trên tay một cái áo khoác bằng lông thú dầy. Không cần phải ngần ngại mà nói rằng ông ta là người thành đạt, sống trong sự giàu có và được kính trọng; điều này quá ư tương phản khi phải chứng kiến tên ngố nát rượu của lữ quán chúng tôi – vừa hói vừa dơ, người đầy mụt lùng bùng trong cái áo choàng cũ kiểu thầy tu – đối đầu với ông ta ở chân cầu thang.

“Macfarlane!” Anh ta kêu lên hơi lớn giọng cứ như thể một vị quan sứ hơn là một người bạn.

Vị bác sĩ cao quý khựng lại ở bậc thang thứ tư cứ như cái lối gọi quen thuộc ấy làm ông ta ngạc nhiên hoặc đã xúc phạm phẩm cách của ông ta.

“Toddy Macfarlane!” Fettes lập lại.

Người đàn ông Luân Đôn gần như chết sững. Ông ta nhìn sững một thoáng vài giây người đàn ông trước mặt, liếc nhìn lấm lét đằng sau và sau đó bằng một giọng thì thào hoảng hốt: ” Fettes, là anh à!”

Vâng tôi đây! Chắc anh cũng nghĩ tôi đã chết rồi? Chúng ta đâu dễ gì mà khép lại mối quan hệ.

Suỵt suỵt im đi nào! vị bác sĩ thốt lên. Suỵt suỵt! Cuộc gặp gỡ quá bất ngờ – Anh tiều tụy quá! Công nhận thoạt mới nhìn khó mà nhận ra anh. Nhưng sao mừng quá đi! Mừng quá là mừng vì gặp được dịp như thế này. Còn bây giờ thì cần phải hỏi thăm coi anh ra sao cũng như chào từ giã anh, vì xe ngựa của tôi đang chờ và tôi không thể trễ chuyến tàu được; nhưng anh sẽ – để tôi xem nào – à phải rồi – anh sẽ cho tôi địa chỉ của anh, và anh có thể nhận được tin tức sớm sủa của tôi thôi mà. Chúng tôi cần làm gì đó cho anh Fettes à. Tôi e rằng anh đang khánh kiệt nghèo rớt mùng tơi; thế nhưng chúng ta cần ôn lại cái điều của ngày xửa ngày xưa, như một lần chúng ta đã từng hát trong bữa ăn tối.

Tiền chứ gì! Fettes gào lên; tiền từ anh à! Cái thứ tiền tôi nhận từ anh đã nằm lại ở nơi mà tôi ném nó trong cơn mưa rồi.

Bác sĩ Macfarlane đã tự mình nói chuyện theo cái cách kẻ cả bề trên tự đắc nhưng sự khước từ quyết liệt khác thường này đã làm cho ông ta lần đầu tiên trở nên lúng túng ngượng ngùng. Một vẻ nham hiểm đáng sợ thoáng qua sắc mặt nghiêm trang đạo mạo của ông ta. Bạn yêu của tôi ơi, ông ta nói. Hãy cứ tức giận nếu như cảm thấy dễ chịu. Lời nói cuối của tôi có thể đã làm anh mích lòng. Tôi sẽ không xen vào chuyện của ai nữa. Tôi sẽ để lại anh địa chỉ của tôi tuy nhiên -”

Tôi chả mong cái địa chỉ của anh – Tôi chả ham cái nhà mà anh trú ngụ tên kia ngắt lời. Tôi nghe nhắc đến tên anh; Tôi sợ có thể đó là anh. Sau tất cả tôi mong chờ phải chi mình được biết một vị Thánh nhưng giờ tôi đã rõ chả có ai cả ở đây. Hãy cút đi!

Anh ta đứng lì ở tấm thảm, giữa cầu thang và ngạch cửa; Và nhà y khoa tài danh của thành Luân Đôn có ý tẩu thoát buộc phải bước qua một bên. Rõ ràng là ông ta có do dự trước khi có ý định nhục nhã này. Khuôn mặt vốn đã trắng bệch của ông ta ánh lên tia nhìn hiểm độc sau cặp kiếng. Thế nhưng trong khi còn đang đứng tần ngần, ông ta nhận thấy tên xà ích từ ngoài đường đang chăm chú nhìn vào cảnh tượng bất thường này, cùng lúc thoáng thấy bóng của chúng tôi từ phòng khách đang dồn cục lại trong góc quán ba. Sự hiện diện của quá nhiều nhân chứng khiến ông ta ngay tức thời phải tẩu thoát. Ông ta co mình lại ép sát vào vách ván trườn và phóng như một con rắn bổ nhào về phía cửa. Nhưng tình thế khốn đốn của ông ta chưa hoàn toàn chấm dứt, bởi vì ngay khi ông ta vượt qua, Fettes chụp lấy tay ông ta giọng thì thầm nhưng rất đỗi đau đớn chua xót, “Mày đã ngẫm lại chưa?”

Người bác sĩ Luân Đôn giàu có sang trọng hét lên the thé lanh lảnh; ông ta đẩy người hỏi qua chỗ trống và ba chân bốn cẳng chạy trốn ra khỏi cửa như một tên trộm. Trước khi chúng tôi kịp có phản ứng gì, chiếc xe ngựa đã phóng về hướng sân ga. Cảnh tượng kết thúc như một giấc mơ, nhưng là một giấc mơ để lại dấu tích chứng cớ. Ngày hôm sau người đầy tớ dọn dẹp nhặt được gặp kính gọng vàng đẹp đẽ bị bể trên bực cửa và chính cái đêm ấy tất cả chúng tôi cứ đứng ngớ ra bên khung cửa sổ của quán ba, còn Fettes thì đến bên chúng tôi trầm tĩnh xanh xao và trông có vẻ cương quyết.

Chúa đã phù hộ chúng ta anh Fettes à! Người điền chủ thốt lên, bắt đầu trở lại trạng thái bình thường của ông ta. “Toàn thể vụ này là gì đây? Những điều kỳ lạ anh vừa nói đó?”

Fettes quay lại phía chúng tôi lần lượt nhìn vào mặt từng người. “Này hãy cố mà giữ mồm giữ miệng ” anh ta lên tiếng. Người đàn ông tên Macfarlane không an toàn khi giao tiếp đâu. Khi tay đã nhuốm chàm có hối hận cũng bằng thừa.

Thế rồi, khi nốc cạn ly thứ ba, không đợi nốc thêm hai ly nữa, anh ta nói lời chào tạm biệt chúng tôi tiến thẳng một mạch ra ngoài, lầm lủi đi dưới ánh đèn khách sạn rồi lẫn vào bóng đêm.

Ba chúng tôi quay lại chỗ ngồi của mình trong phòng khách dưới ánh đèn đỏ lớn và bốn ngọn bạch lạp; Khi tóm tắt lại những gì đã xảy ra sự sững sờ lúc đầu mau chóng chuyển thành sự háo hức tò mò. Chúng tôi ngồi lại đến khuya; đó là buổi họp mặt trễ nhất mà tôi được biết ở quán rượu George cổ xưa. Mỗi người chúng tôi trước khi chia tay đã có suy luận của riêng mình liên kết lại để chứng minh; chúng tôi ai cũng cảm thấy không có gì cần kíp hơn trên đời là truy tìm quá khứ của người bạn hay bị chê trách và ngạc nhiên về bí mật mà anh ta đã chia sẻ với người bác sĩ danh tiếng thành Luân Đôn. Không phải nói khoác, nhưng tôi tin mình là người góp phần khám phá ra câu chuyện tốt hơn bất cứ người bạn nào khác ở quán George; và có lẽ giờ đây không có ai khác còn sống để có thể tường thuật lại cho bạn diễn biến tiếp theo của sự việc kinh khiếp và bất thường này.

Thời còn trẻ Fettes học ngành y ở các trường vùng Edinburgh. Anh có năng khiếu về khoa tự nhiên phân loại học, thứ năng khiếu thu thập thật nhanh những gì được nghe thấy và sẵn sàng tường thuật lại như in. Trong con mắt của các giáo sư anh là người lễ độ chăm chỉ và thông minh. Họ sớm nhận ra anh như một thanh niên có khả năng nghe tường tận và ghi nhớ tốt; Thật quá lạ lùng đối với tôi khi mới thọat nghe anh đã từng có những ngày rất được mến mộ cũng như đã từng hài lòng với cái bề ngoài của mình. Trong thời kỳ đó có một giáo viên ngoại khoa ngành giải phẩu người tôi sẽ gọi ở đây bằng một chữ K. Về sau ông ta rất nổi danh. Người đàn ông mang tên K đã từng âm thầm lén lút đi qua những đường phố của Edinburgh, trong lúc đám đông đang vỗ tay hoan hô vụ xử tử tên Burke và gào thét đòi lấy mạng người đã thuê mướn hắn ta. Thế nhưng ông K sau đó đã được hoan nghinh tột đỉnh; ông làm cho quần chúng yêu thích một phần vì chính tài năng và bài diễn thuyết của mình, một phần là vì sự bất tài của đối thủ ông ta, là một giáo sư trường đại học. Sinh viên một số ít tỏ ra tín nhiệm ông ta, và Fettes tự tin và được người khác tin tưởng, đã tạo những bước vững chắc đi đến thành công khi anh ta nhận được sự yêu mến của người đàn ông nổi tiếng sáng chói này. Ông K là một người tốt cũng như một giáo viên có trách nhiệm; ông ta thích sự thâm trầm mưu trí không kém gì một phong cách làm việc cẩn thận chu đáo. Về cả hai khả năng đó Fettes đều thích thú và lưu ý tới. Vào năm học thứ hai anh trở thành trợ lý giáo sư của lớp.

Với khả năng này, trách nhiệm ở phòng mổ thực tập và phòng thuyết giảng đều đặc biệt trút lên đôi vai anh. Anh có trách nhiệm về việc vệ sinh của phòng ốc và phẩm hạnh của các sinh viên khác, và đó cũng là môt phần trách nhiệm của anh trong việc cung cấp, thu nhận và phân loại nhiều loại xác. Cũng trong cái lãnh vực sau rốt này – trong thời điểm rất nhạy cảm -công việc đưa đẩy anh cư ngụ gần ông K – trong cùng một lối nhỏ, và cuối cùng trong cùng một tòa nhà, có những phòng mổ. Tại đây, sau một đêm ăn chơi vui nhộn, hai cánh tay vẫn còn rã rời, mắt vẫn còn đờ đẫn chập choạng lẫn lộn, anh bị dựng khỏi giường khi bình mình chưa đến bên ngoài trời đông còn mờ tối bởi những tên buôn lậu dơ dáy gớm ghiếc chuyên cung cấp mặt hàng hiếm.

Anh mở cửa cho bọn người này, từ lâu họ đã bị khinh ghét khắp vùng. Anh giúp họ giải quyết cái túi nặng gớm ghiếc, trả những đồng tiền nhớp nhúa, và ở lại một mình với những xác người xa lạ khi họ ra đi. Từ cảnh tượng như thế anh trở lại ngủ thiếp đi một hay hai tiếng nữa, để phục hồi lại sức bị lạm dụng trong đêm, khỏe trở lại ngày mai còn làm việc.

Một số thanh niên có thể đã vô cảm hơn với những ấn tượng như vậy trong cuộc sống từ đó phớt lờ tỉnh bơ trước sự chết chóc. Đầu óc dửng dưng với mọi mối quan tâm chung. Không lưu ý đến số phận vận mạng của người khác, làm nô lệ cho những ham muốn và những dục vọng thấp hèn của bản thân. Cuối cùng là lạnh lùng hờ hững ích kỷ, trong anh ta chỉ có ngần đó khôn lanh, một sự ngụy đạo đức để giữ sao cho mình không biến thành kẻ say sưa bét nhè hay một tên trộm đáng bị trừng phạt. Ngoài ra anh ao ước nhận được sự kính trọng từ các giáo sư và bạn bè, và anh cũng không mong hoàn toàn thất bại trong các lãnh vực khác ngoài đời. Đến lúc này anh thật sự cảm thấy hài lòng đã đạt được chút tiếng vang nào đó trong các nghiên cứu của mình và ngày qua ngày làm tròn vai trò giám sát cho người chủ của mình, ông K – Anh tự đền bù cho một ngày làm việc của anh bằng những đêm reo hò la hét, ăn chơi trụy lạc; và khi cái sự điều hòa cân bằng đó bị chông chênh trục trặc, cái bộ phận mà anh gọi là lương tâm trong anh mới hăm hở bộc lộ.

Nguồn cung cấp các thi thể là mối lo liên tục của anh cũng như các giáo sư. Trong một lớp học rộng lớn và bận rộn như thế, nguồn nguyên liệu của các nhà giải phẫu học liên tiếp bị cạn kiệt; và việc mua bán do vậy đã trở nên cấp thiết, gây sự khó chịu không phải chỉ trong chính cái lãnh vực ấy mà còn đe dọa ảnh hưởng nguy hại dây dưa đến tất cả những ai có liên can đến. Chính sách của ông K là – không hỏi han khi anh đang giao dịch buôn bán. “Họ mang một tên tới, và rồi chúng ta trả tiền” ông ta có thói quen nhấn mạnh từ ngữ “Tiền nào của đó”. Và, nhắc lại, hơi nặng lời, ” không thắc mắc gì cả”, ông ta nói với những người trợ lý của mình, “chỉ vì lương tâm mà thôi. Không cần phải suy xét rằng các thi thể được cung cấp từ một vụ sát nhân. Khi ý tưởng đó bộc lộ ra thành lời với anh, anh giật mình kinh hãi. Nhưng sự thờ ơ xem nhẹ một vấn đề nghiêm trọng đến thế trong bài thuyết giảng của ông ta, tự thân đã cho thấy sự công kích thách thức những quan điểm nhân từ, và thầm khuyến khích những người mà ông ta liên hệ giao dịch.

Với anh chàng Fettes đây chẳng hạn anh thường xuyên nhận thấy sự tươi rói lạ kỳ của các thi thể. Anh thường xuyên chạm mặt với những tên du côn vô lại, có dáng vẻ đáng ghét như những tên cướp đến gặp anh trước bình minh; thế rồi, có lẽ do cái ý quá ư vô luân quá ư độc đoán trong những khuyên lời dạy vô tư của ông chủ anh đành gom những thứ đó lại ghim riêng trong đầu mình. Anh hiểu nhiệm vụ của mình, một cách ngắn gọn, có ba công đoạn: nhận những gì được mang đến, thanh toán tiền, phớt lờ bất cứ chứng cứ tội ác nào.

Vào một buổi sáng tháng mười một cái chính sách im lặng này đã gặp phải thử thách khắc nghiệt. Anh thức trắng vì cơn đau răng hành hạ – cứ luẩn quẩn trong phòng như con thú bị nhốt trong lồng hoặc lăn lộn trên giường – cuối cùng ngủ thiếp đi, ngủ không trọn giấc chập chờn đau đớn suốt đêm, rồi bị đánh thức bởi những tín hiệu hợp tác dồn dập lập đi lập lại đến ba bốn lần. Ánh trăng mong manh chiếu vào: Trời lạnh buốt, gió và băng giá; Thành phố còn say giấc nhưng những khuấy động không ngừng đã khai mào cho sự náo nhiệt tất bật của một ngày. Những tên ma-cà-rồng đến trễ hơn thường lệ và trông họ có vẻ háo hức muốn ra đi hơn bình thường. Fettes còn ngái ngủ thắp đèn cho họ lên cầu thang. Anh nghe giọng càu nhàu bằng tiếng Ái Nhĩ Lan; khi họ lôi cái bao tử thi của họ ra, anh tựa hai vai vào tường thiu thiu ngủ; cố gượng tỉnh táo còn lượng định tính tiền với bọn họ. Khi đang xem xét mắt anh nhìn vào khuôn mặt người chết. Anh giật nẩy người; bước gần lại hai bước, giơ cao ngọn đèn cầy lên.

“Ôi Chúa ơi!” Anh kêu lên,” Đây là cô Jane Galbraith mà”

Bọn đàn ông lặng thinh, nhưng họ bước lê đến gần cửa.

“Hãy nghe này, tôi biết cô ta mà”, anh tiếp tục “hôm qua cô ta còn sống nhăn và khỏe mạnh.

Cô ta khó có thể chết được. Khó mà tin các anh có được cái xác này một cách đàng hoàng chính đáng.”

Thưa ông chắc chắn là ông lầm to rồi!Một tên trong bọn lên tiếng.

Nhưng tên khác nhìn anh vẻ nham hiểm và đòi phải trả tiền ngay.

Thật vô ích khi vờ không hiểu đấy là sự đe dọa hoặc gây thêm sự nguy hiểm. Lòng tận tụy hăng say của người trai trẻ chùng xuống. Anh lắp bắp vài tiếng xin lỗi, trả tiền và nhìn những người khách đáng ghét ra đi. Ngay khi họ vừa đi xong anh vội vàng kiểm tra lại những nghi ngờ của mình. Anh nhận ra đó là người con gái mà anh vui đùa ngày hôm trước với mười hai vết thương trên người. Anh khiếp hãi nhận thấy những vết thương trên thân thể cô ta có thể là do bị đánh đập dã man mà ra. Quá hốt hoảng anh chạy vội vào phòng. Tại đó anh nghiền ngẫm lại từ đầu chí cuối về sự bí mật mà anh đã làm, suy xét lại cái cách chỉ định của ông K và sự hiểm nguy của bản thân khi đã can dự vào một sự việc quá ư nghiêm trọng để rồi cuối cùng trong trạng thái bàng hoàng đau đớn đã quyết định chờ những lời khuyên bảo của cấp trên trực tiếp của mình, giáo sư chủ nhiệm lớp.

Đó là một bác sĩ trẻ, tên Wolfe Macfarlane, một người được hầu hết các sinh viên vô tư ngây thơ rất ưa chuộng, thông minh, phóng đãng, buông thả đến tột bực. Ông ta du học nghiên cứu ở nước ngoài về. Tính khí dễ chịu hơi xấc xược môt chút. Là người quyền uy trên bục giảng, xảo diệu trên đá băng hay những thứ liên quan đến trượt băng hay khúc côn cầu; ông ta ăn mặc rất điệu đà kệch cỡm và màn vẽ vời tô diểm cuối cùng cho cái danh sáng chói của ông ta là đi trên cái xe ngựa với một con ngựa chạy nước kiệu rõ khỏe. Với Fettes anh ta là người có những mối giao hảo thân mật. thật vậy, vai trò vị thế liên quan đến nhau của họ đòi hỏi một sự hợp tác chung sức; và khi nguồn thi thể cạn kiệt hiếm hoi, cả hai phải chạy tuốt về miền thôn dã trên cái xe ngựa của Macfarlane, tham quan xâm phạm những nghĩa trang hẻo lánh trở về trước bình minh chân còn mang ủng đi thẳng một mạch đến phòng mổ.

Vào cái buổi sáng đặc biệt đó Macfarlane đến hơi sớm hơn thói thường của ông ta. Fettes nghe ông ta đến, chạy ra thang lầu để gặp, kể lại câu chuyện của mình và chỉ cho ông ta thấy lý do khiến anh phải báo động. Macfarlane xăm xoi những vết trên thân thể cô ta.

Đúng vậy ông ta gật gù có điều gì mờ ám đây.

Vậy tôi phải làm gì đây? Fetttes hỏi.

Làm gì ư? Ông ta lập lại ” Anh có muốn chả làm gì cả không? Nói ít lợi nhiều, tôi đành phải nói vậy.

Ai đó có thể sẽ nhận ra cô ta, Fettes phản bác lại. Cô ta nổi tiếng tựa như Castle Rock

Chúng ta hy vọng sẽ không ai nhận ra. Macfarlane nói, và nếu có ai đó nhận ra thì anh đừng nói, anh hiểu không nào và thế là xong. Vậy nhé, điều này kéo dài lôi thôi quá rồi đó. Quậy lên, anh sẽ làm cho ông K gặp rắc rối vì tội xúc phạm thánh thần nặng nề nhất đấy nhé!. Và tự đưa mình vào tình trạng khó chịu đấy. Ý tôi là, nếu anh làm tới, tôi buộc phải biết ý kiến của bất cứ ai trong chúng tôi ra làm sao đã, hoặc chúng tôi sẽ phải nói cái quái quỷ gì đây cho chính chúng tôi với bất cứ nhân chứng Thiên Chúa giáo nào. Theo tôi, có một điều chắc chắn anh biết – đó là, nói một cách thực dụng thì tất cả các thi thể của chúng ta đều đã bị giết.

Macfarlane! Fettes gào lên

Hãy bình tĩnh lại đi! Ông ta cười nhạo. Cứ như thể bản thân anh chưa từng nghi ngờ điều này.

Nghi vấn là một việc cần,

Và cả bằng chứng nữa. Vâng, tôi hiểu; và tôi cũng như anh lấy làm tiếc là đã để cho ra cơ sự này, Ông ta lấy cây gậy gõ gõ vào cái xác. Theo tôi điều tốt nhất là không nhận thấy gì; và ông ta lạnh lùng bồi thêm ” Tôi không biết”. Anh có thể nói được nếu anh muốn. Tôi không áp đặt, nhưng tôi nghĩ người nào cũng hành động như tôi thôi, và tôi có thể thêm rằng tôi thích cái mà ông K trông chờ ở sự trợ giúp của chúng ta. Vấn đề ở đây là, Tại sao ông ta lại chọn chúng ta làm trợ lý cho ổng? Và tôi trả lời bởi ổng không muốn có những bà vợ già.

Đó là giai điệu của tất cả những kẻ muốn tác động lên tinh thần của một thanh niên như Fettes. Anh đồng ý làm theo Macfarlane. Thi thể của cô gái xấu số bị mổ xẻ phanh ra, và không ai để ý hoặc có vẻ nhận ra cô ta.

Vào một xế trưa, khi giờ làm việc trong ngày đã hết, Fettes tạt qua một quán rượu quen và thấy Macfarlane ngồi cùng với một người lạ. Đó là một người nhỏ thó da xanh tái ngăm ngăm, màu mắt đen. Trông bộ dạng ông ta có vẻ hiểu biết lọc lõi đó mới là tính cách thoáng qua thôi, bởi khi tiếp xúc gần gũi hơn ông ta đã chứng tỏ là người thô lỗ tầm thường và ngốc nghếch. Tuy nhiên ông ta đã hành xử với Macfarlane với một vẻ chế phục đặc biệt, ra lệnh cứ như là Bashaw vĩ đại; chỉ cần bàn cãi một chút hay chậm trễ là ông ta đã nổi nóng và chỉ trích thậm tệ cái chế độ nô dịch mà ông ta đang tuân thủ. Cái con người hung hăng này đã tỏ ra mến chuộng Fettes ngay khi vừa nhìn thấy, chuốc rượu cho anh, và vinh danh anh với một sự tin tưởng đặc biệt về những thành tựu đã qua của anh. Nếu mười phần cái mà ông xác nhận là sự thật, ông ta đã là một tên vô lại đáng tởm rồi.Thế rồi lòng tự cao kiêu ngạo của một thanh niên đã được kích lên làm anh sướng rơn bởi sự chú ý của người đàn ông quá ư từng trải này.

Bản thân tôi là người khá là tệ, người đàn ông lạ lên tiếng, nhưng Macfarlane là người hầu cận. Tôi hay gọi là Toddy Macfarlane, Toddy, hãy gọi một ly nữa cho bạn đi nào. Hoặc có thể là “Toddy hãy chạy ra đóng cửa lại đi nào,” “Toddy ghét tôi” ông nói thêm. Ôi đúng vậy Toddy à, cậu có hận tôi”

Đừng có gọi tôi bằng cái tên mắc địch đó nữa, Macfarlane càu nhàu.

Nghe hắn nói đấy! Anh đã bao giờ thấy người thanh niên múa dao chưa? Hắn rất muốn làm điều đó trên khắp cơ thể tôi đó, người lạ nhận xét.

Chúng tôi là những y sĩ có cách tốt hơn là làm thế. Fettes nói. Khi chúng tôi không thích người bạn đã chết nào chúng tôi sẽ mổ phân thây hắn ra.

Macfarlane ngước nhìn ánh mắt ánh lên sắc lẻm, như thể câu đùa đó hớp hết thần hồn của ông ta.

Buổi trưa đã trôi qua. Gray, đó là tên gọi của người lạ, mời Fettes đến họp mặt bữa tối, đặt tiệc thật xa hoa sang trọng đến nỗi lữ quán trở nên náo nhiệt và khi tất cả đã hoàn tất thì ra lệnh cho Macfarlane thanh toán hóa đơn. Trước khi họ chia tay thì trời đã khuya; Ông Gray đã say mèn, còn Macfarlane giận đến tỉnh cả người ra nghiền ngẫm số tiền thừa ông ta buộc phải vung vít và những khinh miệt ông ta buộc phải hứng chịu. Còn Fettes nốc nhiều thứ rượu, đầu óc lùng bùng, chân nam đá chân xiêu trở về nhà và tinh thần hoàn toàn rệu rã rỗng tuếch.

Ngày kế tiếp Macfarlane không lên lớp, và Fettes cười thầm khi anh tưởng tượng cảnh ông ấy tháp tùng Gray khó tính lê la hết quán này qua quán khác. Khi giờ nghỉ xả hơi vừa đến anh ghé hết chỗ này đến chỗ khác hỏi thăm về những người bạn đêm trước. Tuy nhiên không ở đâu anh có thể tìm ra họ cả, vì vậy anh trở về phòng mình sớm sủa, ngả lưng lên giường và đánh ngay một giấc.

Vào bốn giờ sáng anh bị đánh thức bởi những ám hiệu quá quen thuộc. Ra đến cửa anh vô cùng ngạc nhiên khi thấy Macfarlane và chiếc xe ngựa, bên trong xe , trong số những bao tải dài gớm ghiếc đó có một bao đối với anh là quá đỗi quen thuộc.

Cái gì đây? Anh kêu lên. Anh đã ra ngoài một mình à? Rồi anh đã xoay xở ra sao?

Macfarlane quát buộc anh ta câm miệng lại, sai anh trở lại làm việc. Khi họ mang cái thây lên lầu và đặt lên bàn, thoạt đầu Macfarlane dợm bước như thể sắp ra đi. Sau đó ngừng lại có vẻ lưỡng lự rồi với giọng nghèn nghẹn ông ta nói, tốt hơn là anh nên nhìn mặt. Anh nhìn mặt thì tốt hơn đấy, ông ta lập lại trong khi Fettes nhìn ông ta ngơ ngác.

Nhưng mà anh lấy xác này ở đâu, lấy như thế nào và khi nào mới được chứ?

Hãy nhìn mặt đi! Câu trả lời cộc lốc.

Fettes sửng sốt; những nghi ngờ kỳ lạ xâm chiếm lấy anh. Anh lướt nhìn người bác sĩ trẻ qua đến cái thây người và nhìn trở lại ông ta. Cuối cùng với một cái rùng mình anh làm như lời sai khiến. Anh gần như đoán được cái cảnh tượng mà anh nhìn thấy, và đúng là quá ư tàn bạo khủng khiếp. Anh ngây người nhìn, hai mắt cứ dán vào cái thân thể cứng đơ trần truồng nằm trên lớp vải thô của người đàn ông mà anh đã chia tay ở bực cửa quán rượu từng ăn mặc tươm tất, no say phè phởn, chả cần phải đắn đo suy nghĩ ngay lập tức đánh động vào lương tâm Fettes những nỗi kinh hoàng. Nay mai sẽ đến lượt mày, câu ấy lại vang lên trong cõi lòng, hai người mà anh biết đó đã phải nằm dài trên những những mặt bàn lạnh lẽo này rồi. Thế nhưng những điều đó chỉ là những suy nghĩ kế tiếp mà thôi. Lưu tâm trước hết là vào Wolfe. Không kịp sửa soạn cho thử thách quá ư bất ngờ này, anh không biết phải trực diện bạn mình ra sao đây. Anh không dám nhìn thẳng ông ta và anh cũng không nghe một lời nói hay một tiếng ra lệnh nào.

Và chính Macfarlane là người hành động trước. Ông ta lặng lẽ tiến lại sau lưng đặt tay lên vai anh nhẹ nhàng mà cương quyết.

-Richardson này, hãy bình tĩnh lại đi. Ông ta nói.

Richardson giờ là một sinh viên còn đang mãi áy náy băn khoăn cho cái số phận của tử thi dùng để thí nghiệm mổ xẻ. Không có câu trả lời, và tên sát nhân lại nói: “Hãy bàn về công việc đi, anh cần phải trả tiền tôi, số tiền nợ anh hiểu chứ hả, phải trả tiền ăn chịu”.

Fettes nghe tiếng mình rít lên quái đản Trả anh? Trả anh về điều đó sao?

Sao à, đúng đấy, đương nhiên là anh cần phải trả rồi. Bằng mọi cách mọi nguồn tài khoản có thể, anh phải trả thôi, ông ta đáp lại. Tôi không cho không cái gì cả, anh không nhận không cái gì cả; đó là thỏa hiệp giữa hai chúng ta. Đây là một trường hợp nữa giống vụ của Jane Galbraith. Sự việc càng sai chúng ta càng phải hành động như thể tất cả đều chính đáng. Ông K cất tiền ở đâu vậy?

“Đằng kia kìa” Fettes trả lời giọng khản đặc chỉ tay về phía tủ đựng chén dĩa trong góc.

Vậy thì đưa chìa khóa đây cho tôi, ông ta nói chìa tay ra một cách tỉnh bơ.

Một chút ngần ngừ do dự và rồi số phận đã được định đoạt. Macfarlane không thể dằn được cảm xúc bất ngờ, thở phào nhẹ nhõm, khi những ngón tay nắm được chiếc chìa khóa. Ông ta mở cái tủ chén dĩa, mang viết, mực ra ngoài và một cuốn sổ nằm trong một ngăn, trích quỹ từ trong ngăn kéo ra môt số tiền phù hợp với sự việc.

Giờ hãy nhìn đây, ông ta nói, đây là số tiền chi ra – trước hết là cho sự thiện chí chân thành của anh : bước đầu bảo đảm cho anh. Giờ anh chỉ việc xác nhận lần thứ hai. Ghi lại việc chi trả trong cuốn sổ của anh và thế là về phần anh, anh có thể thách thức cả quỷ dữ.

Nhiều giây tiếp theo sau Fettes suy nghĩ dằn vặt; nhưng khi đắn đo cân nhắc thì nỗi khiếp sợ ngay lập tức lại xâm chiếm. Bất cứ khó khăn nào trong tương lai hầu như đang đón chờ nếu như mình có thể tránh được sự rầy rà hiện tại với Macfarlane. Anh đặt cái đèn cầy nãy giờ cầm riết trong tay xuống, và mạnh dạn cầm bút vào sổ ngày tháng, tính chất thể loại và số lượng giao dịch.

Và giờ thì chỉ việc đường hoàng bỏ tiền vào túi. Tôi đã lấy phần tôi rồi. Tình cờ khi một người nào đó trên đời có được chút may mắn, anh ta có thêm môt vài đồng si-linh trong túi. – Tôi lấy làm thẹn khi phải nói điều này nhưng đó là luật xử trí trong trường hợp này. Không thương lượng, không mua sách sổ đắt đỏ, không trả nợ cũ; mượn, đừng cho vay.

-Macfarlane, Fettes bắt đầu nói, giọng còn chút gì đó khản đục. Tôi đã chui đầu vào thòng lọng lâm vào thế khốn đốn buộc phải tuân theo anh rồi.

-Tuân theo tôi? Wolfe kêu lên. Ôi tỉnh táo lại đi! Anh hành động gần như tôi nhận định sự việc. Cái anh làm hoàn toàn là để tự bảo vệ. Hãy nghĩ xem nếu tôi gặp khó khăn phiền phức anh sẽ ra sao? Cái vấn đề nhỏ nhặt thứ hai rõ ràng bắt nguồn từ vấn đề lúc ban đầu. Ông Gray là sự nối tiếp của cô Galbraith. Anh không thể bắt đầu và rồi sau đó dừng lại. Nếu anh bắt đầu, anh cần phải tiếp tục duy trì liên tục; đó là sự thật. Không có điểm ngừng cho sự tàn bạo.

Hãi hùng cho số phận tối tăm không lối thoát và sự mưu phản tràn ngập tâm hồn người sinh viên bất hạnh.

Ôi trời ơi! Anh kêu lên. Nhưng tôi đã làm gì và bắt đầu khi nào vậy? Từ lúc trở thành trợ thủ lớp – nhân danh sự thật công lý – Tại hại nằm đâu trong đó? Làm việc thì cần một vị thế. Phục vụ có thể nhận được điều này. Tôi có hành xử đúng như vị thế hiện tôi đang làm không?

-Ông bạn thân yêu ơi, trông anh giống như thằng con nít vậy!Tai họa nào đến với anh đây? Họa nào đến với anh nếu như anh biết giữ mồm? Tại sao à, hỡi người đàn ông kia anh có biết thế nào là cuộc sống không? Trong chúng ta có hai nhóm người. Những con sư tử và những con cừu. Nếu anh là cừu, rồi sẽ có lúc anh nằm trên những cái bàn này giống như Gray và Jane Galbraith; nếu anh là sư tử, anh sẽ sống và điều khiển xe ngựa như tôi, như ông K – như tất cả những ai có chút mẫn tuệ và can đảm. Lần đầu có thể anh do dự ngơ ngác. Nhưng hãy xem ông K ấy-! Anh bạn thân yêu à, anh là người thông minh gan dạ. Tôi thích anh, và ông K- thích anh. Chúng ta sinh ra là để săn bắt; nói anh nghe này, dựa vào chuyên môn và kinh nghiệm sống của tôi, qua ba ngày kể từ lúc này anh sẽ cười vào tất cả những sự ghê rợn này như một chàng học sinh cao đẳng đang coi xiếc khôi hài.

Và với lời nói đó Macfarlane đi ra đánh xe ngựa qua lối nhỏ khuất dạng trước khi trời sáng. Fettes đứng lặng một mình với biết bao hối tiếc. Anh nhận ra sự khốn đốn nguy hiểm mà anh đang can dự vào. Anh cảm thấy một nỗi kinh hoàng khó diễn đạt, rằng không thể nào hạn chế được sự nhu nhược của mình và cứ vậy từ nhịn nhục này đến nhân nhượng kia, anh rơi vào sự áp chế định đoạt của Macfarlane dẫn đến việc anh nhận tiền và phải miễn cưỡng đồng lõa. Có lúc anh đã tỏ ra liều lĩnh một chút nhưng sẽ không có chuyện là anh cứ mãi liều. Bí mật về Jane Galbraith và việc ghi sổ gian ăn bẩn đã khóa miệng anh lại.

Nhiều giờ trôi qua; Giờ lên lớp đã tới; Những bộ phận thân thể của Gray bất hạnh được lần lượt chuyền từ người này sang người khác và chẳng ai để ý cả. Richardson khấp khởi trong lòng; trước khi chuông báo nghỉ vang lên Fettes mừng quýnh đến run rẩy cả người để rồi nhận ra là bọn họ đã được an toàn.

Anh ta tiếp tục quan sát trong hai ngày diễn biến của vụ việc lén lút ghê rợn này, tinh thần mỗi lúc một phấn chấn hơn.

Vào ngày thứ ba Macfarlane xuất hiện trở lại. Ông ta bảo mình bị ốm; nhưng bù lại cho những giờ vắng mặt bằng sự hăng say giảng giải hướng dẫn sinh viên. Đặc biệt đối với Richardson ông ta gia tăng hỗ trợ và đưa ra những lời tư vấn đích đáng nhất, thế là chàng sinh viên ấy phấn khích bởi sự tâng bốc của vị giáo sư trong lòng bừng lên những ước vọng và thấy huy chương như sẵn trong tầm tay.

Trước khi một tuần kết thúc lời phán đoán của Macfarlane đã đúng hoàn toàn. Fettes đã thoát khỏi sự kinh hãi và quên những việc đê hèn của mình, anh bắt đầu thầm hãnh diện về sự can đảm liều lĩnh của mình, và đã sắp xếp câu chuyện trong đầu sao cho anh có thể nhìn lại những sự cố ấy với một chút tự đắc. Anh có nhận thấy sự đồng lõa nhưng ít thôi. Họ gặp gỡ, đương nhiên rồi, trong công việc của lớp, họ cùng nhau nhận lệnh từ ông K – Vào những lúc trao đổi riêng tư vài lời với nhau Macfarlane bắt đầu với vẻ đặc biệt tử tế dễ thương vui nhộn. Nhưng ông ta hoàn toàn tránh bất cứ gì liên hệ đến bí mật chung của họ; ngay cả khi Fettes thì thào với ông ta rằng anh đã chọn làm sư tử và không làm cừu, thì ông ta chỉ cười mỉm để cho anh được thanh thản.

Cuối cùng một cơ hội đến khiến cho đôi bạn một lần nữa gắn kết khắn khít hơn. Ông K – lại thiếu hụt xác người; học sinh thì háo hức khao khát được thực tập và đó cũng là một phần những kỳ vọng của vị giáo sư này để luôn luôn có được sự cung ứng tốt. Cùng lúc ấy có nguồn tin về một đám tang ở một nghĩa trang thôn dã thuộc vùng Glencorse.

Thời gian không làm thay đổi mấy nơi đang được bàn đến. Nó tồn tại khi đó, như bây giờ, trên một ngã tư, ngoài khu vực dân cư và nằm thụt sâu chừng hai thước ẩn khuất sau vòm lá rậm tạp của sáu cây đinh hương. Tiếng cừu kêu trên những ngọn đồi lân cận, những con suối ở phía bên kia, cái thì reo ầm ầm chảy trong lòng đá cuội, cái thì âm thầm róc rách giữa be bờ ao vũng, tiếng gió lướt qua rừng dẻ già đang mùa hoa nở trên non cao vọng xuống và một lần trong bảy ngày tiếng chuông và giọng ca điêu luyện của người chỉ huy đội thánh ca là những âm thanh duy nhất khuấy động sự lặng lẽ quanh khu giáo đường thôn dã này. Đối với những tên khai quật thi thể để dùng vào việc giải phẩu – từ ngữ được sử dụng vào giai đoạn đó – chúng không màng gì tới sự thiêng liêng bất khả xâm phạm của những phong tục tập quán thành kính. Đó là công đoạn trong việc làm ăn, chúng bất chấp những cuộn thư những cái còi của các ngôi mộ cổ, xâm phạm những con đường mòn mà những người sùng bái đưa tang thường xuyên qua lại cùng những lễ vật dâng cúng và những dòng khắc trên bia mộ. Đối với những vùng thôn quê, nơi mà tình cảm thường bền chặt, tình thân tộc và tình bạn hữu gắn kết toàn bộ cộng đồng giáo khu, kẻ trộm xác, không bị xua đuổi bởi sự thành kính tự nhiên, chúng cảm thấy hấp dẫn vì sự dễ dàng an toàn khi hành động. Những thi thể được chôn trong lòng đất, với sự kỳ vọng mong đợi vào một sự hồi sinh tỉnh thức thật đặc biệt, đã bị bọn trộm xác bất nhân trang bị đèn chiếu sáng, cuốc xẻng tìm tới đó hối hả khai quật. Hòm bị nạy ra, áo liệm rách bươm và những thi hài buồn thảm trong trang phục vải thô sau khi vật vã lúc lắc nhiều giờ trong đêm tối không trăng bằng nhiều cách được đem phơi bày trước lớp học, nằm dài trần trụi lõa lồ ô nhục đến tột cùng trước nhiều chàng trai cứ há hốc mồm nhìn.

Giống như thể hai con kên kên bất chợt vồ được con cừu chết, Fettes và Macfarlane tung hoành trên phần mộ xanh tươi và yên tĩnh này. Đó là vợ của một nông dân, thọ sáu mươi tuổi, không được biết gì về bà, ngoài việc bà ta được nói đến như một người vui tánh và ngoan đạo, bà sẽ được khai quật khỏi mộ vào nửa đêm và sẽ được mang đi trơ cứng và trần trụi, đi thật xa khỏi thành phố mà bà đã luôn được tôn kính trong bộ lễ phục; Cái chỗ gần gũi bên gia đình bà sẽ bị bỏ trống cho đến ngày tận thế; những bộ phận vô tội và đáng kính nhất của bà sẽ được phơi bày ra trước sự xăm xoi tò mò kỹ càng chi tiết của các bác sĩ giải phẩu.

Một xế trưa đôi bạn lên đường, trùm kín người trong chiếc áo choàng và trữ theo mình một chai rượu rõ to. Trời mưa không dứt – Mưa tạt lạnh lẽo tầm tả. Chốc chốc gió thổi thốc lên rồi biến mất trong những làn mưa ấy. Chai rượu và tất cả, đó là một cuộc hành trình buồn bã và câm lặng đến Penicuik, nơi họ sẽ ở qua đêm. Họ dừng lại một lần, để giấu những dụng cụ trong một bụi cây rậm rạp không xa khu giáo đường, và một lần nữa dừng ở quán Fisher’s Tryst, để uống rượu chúc mừng trước lò sưởi và thay những ly uống rượu mạnh nho nhỏ bằng những ly cối bia. Khi cuộc hành trình của họ kết thúc, chiếc xe ngựa được đưa vào nhà để xe, ngựa được cho ăn và nghỉ ngơi, còn hai người bác sĩ trẻ vào phòng riêng thưởng thức một bữa ăn tối sang nhất uống loại rượu ngon nhất do nhà trọ cung cấp. ánh đèn, ánh lửa, tiếng mưa gõ trên khung cửa sổ, cái lạnh, công việc bất định đang chực chờ làm tăng sự ngon miệng cho bữa ăn. Cứ mỗi ly tình thân ái của họ lại gia tăng. Một chốc Macfarlane đưa một nắm tiền vàng nho nhỏ cho bạn đồng hành.

Vật biếu tặng. Ông ta nói. Giữa bạn bè với nhau, những kết hợp sắp xếp nho nhỏ này cần phải được ăn khớp thăng hoa sáng lên như chùm đèn treo đấy nhé!

Fettes đút tiền vào túi và tán thành ý tưởng đó. Anh là một triết gia đấy anh ta kêu lên. Tôi là một thằng khờ cho đến khi biết anh. Anh và ông K – giữa anh, kề cận bạo chúa Harry đấy!. Nhưng anh đã làm cho tôi thành một đấng nam nhi.

-Đương nhiên chúng ta sẽ là thế! Macfarlane tán đồng. Một nam tử ư? Nói cho anh biết việc này đòi hỏi một người đàn ông hỗ trợ tôi vào buổi sáng đặc biệt ấy. Có một số người hèn nhát to lớn, ồn ào, đã bốn mươi tuổi đầu rôi mà quay ra phát ốm lên khi nhìn thấy sự việc; nhưng anh thì không đâu – anh là người tỉnh táo, tôi đã quan sát anh.

-Được thôi, và tại sao lại không chứ? Fettes vênh váo. Đây không phải là phận sự của tôi. Về mặt này tôi chả thấy có gì lợi cả chỉ gây phiền phức thôi, tôi có thể trông chờ vào lòng biết ơn của anh ở mặt khác anh hiểu không?

Và anh vỗ vỗ vào túi quần cho đến khi những đồng tiền vàng kêu rủng roảng.

Những lời khó chịu ấy theo một cách nào đó đã làm cho Macfarlane động lòng giật mình . Ông ta tiếc là đã dạy người bạn trẻ của mình quá thành công nhưng lại không có thì giờ để xen vào, do đó anh chàng kia tiếp tục chuỗi ba hoa khoác lác.

Vấn đề quan trọng ở đây là không được sợ sệt. Giờ, giữa anh và tôi, tôi không muốn dông dài – thực tế là vậy; thế nhưng thật lòng mà nói, Macfarlane à, tính tôi sinh ra là người bất cần đời. Địa ngục, thánh thần, quỷ sứ, đúng, sai, lỗi lầm, tội ác và tất cả những phòng trưng bày xác – chúng có thể làm những thằng con trai hoảng sợ, nhưng đàn ông như anh và tôi coi thường chúng. Hãy nhớ lại vụ Gray đi!

Trời đã dần về khuya. Xe ngựa theo như sắp đặt đã được đưa tới trước cửa, cùng với hai ngọn đèn sáng, những người trẻ đành phải thanh toán tiền và lên đường. Họ thông báo là họ chạy về vùng Peebles, và cho xe chạy về hướng đó qua hết dãy nhà cuối phố; thế rồi thổi tắt đèn, quay đầu trở lại hành trình của họ, lần theo con đường nhỏ hướng về Glencorse. Chung quanh im lặng như tờ, chỉ có tiếng xe ngựa của riêng họ chạy trên đường giữa cơn mưa tầm tã không ngớt. Trời tối đen như mực; thỉnh thoảng có chiếc cổng trắng hoặc tảng đá trắng trên tường soi lối trong khoảng cách gần cho họ xuyên qua đêm tối. Nhưng phần lớn là đi bước một. và gần như dò dẫm, tìm kiếm đường đi trong đêm giữa vang vọng tiếng mưa tới nơi tôn nghiêm xa vắng mà họ nhắm đến. Trong khu rừng thẳm băng qua khu nghĩa trang chỉ còn lại chút ánh sáng lờ mờ yếu ớt, bắt đầu cần phải bật quẹt và thắp một trong hai cái đèn lồng trên xe ngựa. Cứ như thế, họ đi dưới những hàng cây, nước mưa nhỏ ròng ròng, giữa bóng tối mênh mông chập chờn vây bủa để tới được nơi thực hiện trò ma mãnh xúc phạm của họ.

Cả hai đã có kinh nghiệm trong những việc như thế này, và họ mạnh dạn xúc đất; phải tốn mất hai mươi phút trước khi nhận ra tiếng xẻng va vào kêu lụp bụp trên nắp hòm. Cùng lúc ấy Macfarlane bị một viên đá rơi trúng tay, vô tình ném nó ra sau qua khỏi đầu. Họ đang đứng trong ngôi mộ giờ đã cao gần đến vai mấp mé sườn đồi của khu nghĩa trang; và cái đèn xe ngựa, vật dụng soi sáng tốt nhất cho công việc của họ được treo trên một cái cây, ở ngay bờ một triền dốc đứng, đổ xuống một dòng suối chảy xiết. Viên đá tình cờ bị ném trúng hướng đó. Thế rồi tiếng thủy tinh loảng xoảng vỡ; bóng đêm bao trùm họ. Những tiếng bùm bụp xen kẽ tiếng leng keng cho thấy cái đèn nẩy vồng lên trên bờ giốc và tình cờ va phải các gốc cây. Một viên đá hay đã bị tách rời ra làm hai viên trên đường lăn xuống, rớt tỏm trong lòng vực sâu, thế là sự im lặng và bóng đêm lại ngự trị. Họ nghiêng tai cố nghe ngóng, nhưng không nghe gì cả ngoài tiếng mưa, khi thì kèm theo gió khi thì tầm tã rơi bao phủ hàng muôn dặm trên khắp vùng thôn dã.

Họ gần như sắp đi đến phần cuối công việc gớm ghiếc mà họ cho rằng khôn ngoan nhất khi hoàn tất trong đêm tối. Cái quan tài được khai quật nứt toang ra; thi thể được bỏ vào một cái bao ướt sũng và được hai người mang tới chiếc xe ngựa; một người lên để giữ cho nó yên tại chỗ, và người kia, kéo mõm con ngựa dắt đi, mò mẫm dọc bức tường và bụi rậm cho đến khi họ ra tới đường cái gần Fisher’s Tryst. Ở đây những tia ánh sáng khuếch tán lờ mờ tỏa ra mà họ cho rằng giống ánh sáng ban ngày; bằng thứ ánh sáng đó họ đẩy con ngựa tới một chỗ tốt và bắt đầu huyên thuyên vui vẻ trên đường về thành phố.

Cả hai đều ướt mèm trong khi làm việc, và giờ khi xe ngựa nẩy giựt lên giữa những bánh xe lún, cái vật được đặt giữa họ khi thì ngả về phía người này lúc thì ngả về phía người kia. Cứ mỗi khi sự va chạm ghê rợn lập lại thì lại càng bị hất ra nhanh hơn, và cái quá trình đó, mặc dù vốn dĩ tự nhiên thôi bắt đầu tác động đến đôi bạn đồng hành. Macfarlane nói một câu đùa rủa người vợ nông dân, nhưng bị nhòa đi khi vừa thốt ra khỏi miệng và rơi vào im lặng. Cái khối nặng bất thường cứ va từ bên này sang bên kia; và giờ thì phần đầu như thể tin tưởng nằm dựa vào vai họ, rồi cái mảnh vải thô ướt sũng lạnh buốt đập vào mặt họ. Fettes rùng mình ớn lạnh. Anh nhìn kỹ cái bao và thấy hình như nó có vẻ gì đó lớn hơn lúc đầu. Khắp vùng quê, cứ mỗi chặng đường họ đi qua, những con chó làng bám theo sau tru lên những tiếng thê lương; càng lúc anh càng nghĩ rằng có một điều gì đó lạ lùng không bình thường, một sự đổi thay không thể diễn đạt đã xảy ra cho cái tử thi này và chính vì khiếp hãi cái bị nặng nề đó của họ mà các con chó đã tru lên.

Lạy chúa tôi! Anh cố gắng lắm mới thốt lên được. Lạy chúa tôi, hãy thắp đèn lên đi!

Có vẻ như Macfarlane cũng nao núng như vậy, mặc dầu không trả lời, ông ta dừng ngựa, trao dây cương lại cho bạn, xuống xe và tiếp tục thắp ngọn đèn còn lại. Lúc bấy giờ họ đã đi không xa hơn ngã tư là mấy xuống vùng Auchendinny. Mưa vẫn trút xuống nước lũ, và cũng không dễ mà thắp được ngọn đèn trong cái thời tiết ẩm ướt và tối thui như vậy. Cuối cùng thì ngọn lửa xanh le lói đã được chuyển vào trong xe bắt đầu lớn dần sáng lên tỏa ra quét một vòng ánh sáng mờ đục quanh xe đủ để hai người trẻ họ bắt đầu nhìn thấy nhau cùng với cái bao của họ. Mưa dán chặt vào lớp bao vải thô in hằn cái dáng tử thi bên trong, cái đầu nổi lên rõ ràng từ thân, hai vai y chang như tượng đúc khuôn. Ngay lập tức một cái gì đó vừa rờn rợn vừa thương cảm khiến họ lom lom nhìn vào cái xác kinh khiếp cặp kè theo họ suốt cuộc hành trình.

Macfarlane đứng chết trân một lúc, giơ ngọn đèn lên cao. Như tấm vải ướt quấn quanh thi thể, một nỗi sợ không tên bao trùm quấn chặt lấy Fettes khiến cho khuôn mặt anh trắng bệch ra, một nỗi sợ lạ lùng, một nỗi kinh hoàng không thể thốt nên lời xâm chiếm lấy anh. Nhìn thêm một lần nữa anh tính lên tiếng. Nhưng bạn anh nói hớt trước anh

Đây không phải đàn bà. Macfarlane nói giọng nhỏ lại.

Đó là đàn bà khi chúng ta bỏ vào mà Fettes thì thào

Cầm cái đèn này đi nào! ông ta nói. Tôi cần nhìn mặt bà ta.

Và khi Fettes cầm cái đèn, bạn anh mở cái dây buộc bao và kéo tụt cái bọc xuống khỏi đầu. Ánh đèn soi sáng trong đêm tối, vóc dáng rắn rỏi như bức tượng, hai má râu cạo nhẵn nhụi của một khuôn mặt qúa ư quen thuộc, thường ám ảnh trong những giấc mơ của hai người đàn ông trẻ. Một tiếng kêu thét lên trong đêm tối; mạnh ai nấy mỗi người một phía nhảy bổ xuống đường; cái đèn rơi bể tan và tắt ngúm. Con ngựa hãi hùng vì sự chấn động khác thường, nhảy dựng lên phóng đi phi nước đại về phía Edinburgh, mang theo người duy nhất trong xe, tử thi lòng thòng bị mổ nát của Gray.

bài đã đăng của R.L. Stevenson


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)