Trang chính » Giới thiệu tác phẩm, Phê Bình Email bài này

đọc bèo giạt của Ngọc Cường

0 bình luận ♦ 11.11.2014

 

Tác giả Bèo Giạt có lý do chính đáng để ký bút hiệu Ngọc Cường trên tác phẩm đầu tay của ông. Có nỗi đau không những người ta không thể quên, không muốn quên mà còn cần nó luôn hiện điện đâu đó, nhìn thấy được, chạm tay vào được, ở một chỗ quan trọng nhất, linh thiêng nhất. Là nỗi đau mất một đứa con mà không được nhìn mặt nó lần cuối, mà cái tang nát lòng ấy cũng đồng thời đánh dấu khoảng đời đen tối nhất của một người bỗng nhiên thấy mình phải vô cớ gánh chịu những oan khiên không có lời giải đáp.

Tuy nhiên, xin được nhà văn NGỌC CƯỜNG thứ lỗi, tôi thực sự vẫn muốn nhớ về ông dưới cái tên Tường Cường, năm ông lên mười và tôi 17 tuổi, cùng có bài viết được đăng trên báo Văn Hóa Ngày Nay bộ mới do nhà Phượng Giang phát hành.

Thời gian qua đã quá lâu, 57 năm kể từ ngày tôi đọc được bài viết ngắn, mô tả một con muỗi bay lạc vào màn của một cậu bé có óc quan sát vi tế, có trí tưởng tượng phong phú, ký tên Tường Cường. Bây giờ, tôi không còn nhớ rõ văn phong và nội dung nhưng có một cái gì trong bài viết rất cô đọng đó đã in sâu vào ký ức tôi và cứ ở đấy mãi, long lanh như một viên kim cương nhỏ.

Khi nhận được cuốn Bèo Giạt, tôi cố tìm bài viết này ở phần phụ lục mà không thấy. Gần đây, có dịp nhắc lại với ông, ông cười và cho biết ông cũng không còn nhớ gì về bài viết ấy. Như vậy, có thể tạm hình dung ra ngày xa xôi đó, cậu bé Tường Cường lên mười, một buổi tối bị người lớn bắt đi ngủ nhưng cậu chưa buồn ngủ nên cậu nhìn vẩn vơ và thấy con muỗi vo ve bay luẩn quẩn bên trong cái màn tuyn trong suốt. Chỉ có thế mà cậu viết thành một đoản văn. Chẳng biết cậu có đem khoe với ai trong nhà hay không hay cậu vứt lăn lóc đâu đó trên bàn học rồi lọt vào mắt một ông anh hay bà chị và người này thấy hay, bèn gửi đến tòa soạn Văn Hóa Ngày Nay của nhà văn Nhất Linh, thúc phụ của cậu, gọi là hoa trái vườn nhà.

Gần 60 năm đã trôi qua giữa Con Muỗi (tạm gọi thế) và Bèo Giạt. Bây giờ đọc ông, thấy lại rõ Tường Cường trong tác phẩm ông vừa gởi đến độc giả khắp nơi: chuyện không có gì mà làm thành chuyện.

Điều tôi sắp xin phép chia sẻ với quý vị trong thính phòng này có thể bị cho là lộng ngôn hay ngoa ngữ, tôi thành thực xin lỗi nếu sẽ làm rườm tai quý vị nhưng đó là cảm nhận hết sức chân thật của tôi lẫn với một chút nao lòng khi xếp lại cuốn sách lúc nửa đêm về sáng. Tựa như khi chúng ta bất ngờ gặp lại một người bạn cũ sau rất nhiều phong ba, bão táp đến trong đời nhau, thấy người ấy vượt thoát mọi khó khăn và câu chuyện được từ tốn, thong thả kể lại, với một dung mạo tầm thường, đơn sơ, không có lấy một nét hoa mỹ nên nó là sự thật và làm rung động lòng người.

Có lẽ nhiều quý vị ở đây đã ít nhiều đọc qua, nghe nói về khôi nguyên văn học Nobel năm 2013, nhà văn nữ Gia Nã Đại Alice Munro. Trong một bài điểm sách cẩn trọng, nhà văn Nguyễn Đức Tường đã viết về Alice Munro như thế này: “Munro viết về đời sống thôn dã vùng hạt Huron cùng những người sống trong vùng: chính mình, kinh nghiệm của mình khi lớn lên, rồi gia đình và những người chung quanh.Thật sự, toàn là những người bình thường, không có gì đặc sắc, sinh hoạt đời thường lập đi lập lại, tẻ nhạt. Nhưng viết về con người bình thường trong hoàn cảnh bình thường, sống đời sống bình thường không bao giờ dễ; chỉ dưới ngòi bút thần diệu của một nhà văn bực thầy ta mới có thể thấy được những con người, hoàn cảnh hay đời sống đó không những có thể tin được mà còn sống động một cách thần kỳ.” (Trích Alice Munro, Giải Nobel Văn Học 2013)

Tất nhiên tôi không dám bạo gan ngụ ý so sánh Ngọc Cường với Alice Munro nhưng quả là có một điểm tương đồng khá rõ nét trong cách thể hiện sự quan tâm của cả hai trước những cảnh ngộ hay con người trong cuộc sống dàn trải dưới mắt họ.

Cảm giác đầu tiên khi đọc Bèo Giạt là sự tẻ nhạt. Nhân vật trong Bèo Giạt chỉ là những con người tầm thường chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp đó đây: một chàng trung úy lương tiền không đủ nuôi vợ, bất ngờ được xếp thông cảm cho về thăm nhà vì vợ sắp sinh con đầu lòng. Ngồi xe ôm từ Tân Sơn Nhất về đến con ngõ chợ Bà Chiểu, nghĩ ngợi lan man từ lúc hai đứa gặp nhau, nhiều lần hò hẹn đến khuya nhưng vẫn không biết mình có thật yêu cô gái ấy không hay chỉ yêu “cái tình yêu mà mình đã tạo ra?” Hộc tốc chạy xe về nhà, nằm vật ra giường và nghĩ đến cô gái ấy, tưởng tượng nếu ngày mai mình không đón, cô ấy sẽ phải đi bộ một mình về nhà sau buổi tan trường, sẽ không còn nụ cười tươi tắn trên môi như thường ngày và thế là chàng chảy nước mắt, ngồi ngay dậy rồi phóng xe đến nhà cô. Chỉ có vậy rồi họ cưới nhau, rồi cô mang bầu, chàng từ đơn vị về thấy cô ngồi nhặt rau dưới bếp. Trong bóng chiều nhá nhem tối, cô vui mừng reo khẽ : “Anh đã về…” đôi mắt đen lánh ngước nhìn lên. Vài nét phóng họa đơn giản, mây đàng đông, mưa đàng tây, để rất nhiều không gian cho người đọc tha hồ tưởng tượng, tác giả đã vẽ ra cảnh đời của hầu hết mọi lứa đôi trong cái xã hội Việt Nam thời chinh chiến giữa thế kỷ 20, hạnh phúc lơ mơ khi không ai quyết định được một điều gì thực sự to lớn, thực sự nghiêm trọng, khiến người ta xót thương nhau từ chính cảm xúc trong đáy lòng mình. (Hương Dạ Lan.)

Nhân vật của ông cũng là một cô gái mồ cô mẹ, đã gần qua hết tuổi xuân, có cha bị kẹt trong vùng xôi đậu và cô phải chăm nom một đàn em nhỏ có đứa bị hen suyễn kinh niên. Gói ghém trong 5 trang giấy là cảnh nhà ông Thọ dời cư từ Hà Nội vào nam, vợ chết vì bệnh lao và ông vâng lời mẹ già, tục huyền để có người phụ nuôi con song thực tế đấy chỉ là lập luận sáo mòn của bà nội, không muốn con trai bà phải côi cút. Thực tế là thằng bé ốm nằm trên giường chỉ có cái quạt trần quay đều trên đầu nó làm bạn chứ không bao giờ thấy bố đến cúi xuống nhìn nó. Thực tế là chị nó cứ buổi trưa thì thay áo, soi gương chải tóc, nhìn qua nó, sờ trán nó, xem nó ăn được mấy cái bánh bích quy xong là đi thẳng ra phòng khách, chập chờn chờ anh Đức, đoán là anh có thể đến. Dưới ngòi bút tỉ mỉ, chậm chạp mà sôi nổi ngầm, nói ít hiểu nhiều của tác giả, các nhân vật tưởng chừng không có gì đặc sắc nhưng họ lôi cuốn và làm người đọc mủi lòng vì sự sống động của họ. (Buổi Trưa Hè)

Nhân vật của ông còn là hai người bạn cùng đi tù cọng sản sau tháng 4/75. Nay người ở Mỹ (Chương) đi thăm người ở Pháp (Tân) với thấp thoáng bóng một người thứ ba (Lộc) trong cánh gà sân khấu. Trong khi cuộc sống của hai gia đình Chương và Tân trôi theo tháng năm, êm đềm, buồn nản, cam chịu, như dòng sông Oise chảy giữa lòng thành phố Compiègne thì Lộc không có cái may mắn tối thiểu của họ. Vợ Lộc và đứa con mới tượng hình 2 tháng trong bụng mẹ khi chàng khăn gói đi tù Cọng sản, có cơ hội di tản qua Pháp trước. Hoàn cảnh đơn thân của bà mẹ trẻ với đứa con thơ cần sự đỡ đần và nơi nương tựa đã khiến Thủy dạt vào bến khác. Khi Lộc đi đoàn tụ gia đình thì người vợ trên giấy tờ bảo lãnh đã là vợ người ta, Lộc đành chấp nhận số phận, kéo lê những bước ê chề của một người tỵ nạn mất hết mọi thứ, xa lánh cả bạn cũ là nhân chứng của một đoạn đời chàng không còn muốn nhắc lại nữa. Bất hạnh không buông tha Lộc, chàng bị tai biến mạch máu não, trở thành phế nhân trên chiếc xe lăn. Trong một buổi chiều cô quạnh nơi xứ người, chàng mở lò ga nấu cho mình bữa ăn cuối cùng và không tắt lò. Lúc hàng xóm phát giác thì đã quá muộn. Câu chuyện xảy ra là một trong rất nhiều câu chuyện thương tâm khá phổ cập thời hậu chiến nhưng dưới ngòi bút của Ngọc Cường, sự bi thảm đạt đến cao độ khi Thủy đến dự đám tang và bất ngờ ôm quan tài Lộc khóc nức nở. Lộc đã yên nghỉ. Đầu hàng, phản kháng, tự xử hay trừng phạt, một hay tất cả những kết luận này sẽ là những ám ảnh lâu dài trên phần đời còn lại của người đàn bà chia sẻ bất hạnh với chàng, trong thực tế, luôn là nạn nhân trực tiếp của chiến tranh và những hệ lụy oan khiên của nó. Thủy sẽ mãi mãi thương đau trên những giòng lệ là tâm can đích thực, không thể dấu giếm của nàng.

Nhân vật trong Bèo Giạt còn là một đôi lứa đến với nhau tình cờ giữa ảo ảnh phù hoa của một chiếc “áo dài màu đỏ bám sát lấy thân hình thon thả” của Lan dưới mắt Huy, trong ca khúc Oui, Devant Dieu cũng rất tình cờ Lan buột miệng hát lên trong đám đông, chỉ một ngón tay kiêu hãnh về phía Huy như một sở hữu đầy hãnh diện. Và, về phía Huy, trong phút giây của “một cảm giác ấm áp xâm chiếm lấy mình…” Cơn lốc 30/4/75 như một thiên tai trời giáng, xóa sạch những năm tháng buồn vui gắn bó như giấc mơ qua của họ ở quê nhà. Di cư tới Mỹ, lạc lõng, bơ vơ trước cuộc sống đổi thay, Huy cố xua đuổi ký ức và cách xua đuổi hữu hiệu nhất Huy tìm được trong một đêm một mình vác cần câu ra biển, là thực hiện một tsunami cho mình…Câu chuyện với tình tiết tầm thường của không ít lứa đôi trong cuộc sống tầm thường nhưng cây cọ trong tay Ngọc Cường đã thành công khi tạo ra được sinh khí của bức vẽ, khi nóng hổi, lúc chìm đắm, với những mảng sắc màu rối rắm, đánh động xúc cảm của người thưởng ngoạn chìm ngập trong cái rối rắm chạm tay vào được ở xung quanh. Đâu đó trong mỗi chúng ta, có chút gì rất chung trong những nét vẽ đời thường, thật tội nghiệp và không gò gẫm ấy. (Tình Nghệ Sĩ)

Nhân vật trong Bèo Giạt còn là một nhúm nhỏ người Việt tỵ nạn họp thành một cộng đồng bé tí sinh sống ở Dayton, một tỉnh lỵ nhỏ thuộc miền Trung tây Hoa Kỳ, mùa đông thì băng giá và mùa hè nóng bức như thiêu đốt. Họ túm tụm bên nhau trong khu nhà rẻ tiền, hưởng trợ cấp xã hội. Họ được trả tiền để đi học nên một số người cắp sách tới trường, hy vọng thay đổi cuộc sống buồn tủi của họ. Họ tổ chức nấu nướng mời nhau ăn, đặc biệt vào dịp Tết nguyên đán. Có gia đình hanh thông, học xong kiếm được việc làm nên dọn đi nơi khác. Tình thân giữa họ do khoảng cách địa dư cũng nhạt dần, thỉnh thoảng chỉ còn những cú điện thoại thăm hỏi khi cần thiết. Sơn là một khuôn mặt trong nhóm này. Anh sáng dạ, chăm chỉ, quyết tâm tạo dựng cuộc sống mới cho gia đình gồm vợ và con gái. Anh đi học lại, khiêm nhường nhờ bạn bè phụ giáo. Trong một kỳ thi, có lẽ vì muốn được điểm thật cao để làm vui lòng vợ con, anh đã giở sách ra chép và bị thày giáo bắt gặp, bị đuổi ra khỏi lớp, bị đánh rớt và không được tiếp tục học nữa. Về nhà, Sơn báo tin cho vợ, bị vợ nổi trận lôi đình mắng nhiếc một cách thô lỗ, cả đứa con gái cũng về hùa với mẹ mà to tiếng với cha. Sau biến cố này, Sơn mất ngủ và rơi vào trầm cảm nặng, Sự nghiệp, tương lai trong ước mơ sụp đổ, người thân yêu nhất biến thành kẻ thù, cuộc đời trở nên một điều gì khó hiểu đối với Sơn bây giờ chỉ còn hai bàn tay trắng bẽ bàng, là câu trả lời phi lý cho biết bao cố gắng với thiện ý của anh. Trong một chuyến đi bề ngoài là thăm viếng người anh họ ở Texas, Sơn đã gieo mình từ lầu cao xuống đất để giải phóng cho vợ con anh và cho cả anh một hoàn cảnh sống mà cả ba đều không hội nhập được. Lý do tang gia đưa ra để giải thích cái chết bất ngờ của Sơn là anh bị tai biến mạch máu não, cho thấy nền văn hóa “tốt phô ra, xấu xa đậy lại” vẫn theo gót người Việt tỵ nạn đi khắp nơi, ngay cả ở Mỹ, nơi một cọng rác cũng có giải pháp hợp lý cho nó (Duyên Số)

Nhân vật của Bèo Giạt còn là hai cha con trong một tương quan ghẻ lạnh đầy ngộ nhận. Góa vợ rồi tục huyền, ông bố giữ nguyên bộ mặt nghiêm khắc, lạnh lùng với đàn con 5 đứa mà Bảo là đứa con trai út. Qua đời ở tuổi gần 80, khi sức khỏe đã suy sụp, mọi người trong họ ngoài hàng đều cho sự ra đi của ông là điều tự nhiên. Trong đám tang, khách khứa lao xao làm lễ, phúng tiền, phúng tràng hoa. Con cháu rủ nhau đi uống cà phê, có đứa cười hô hố làm người lớn phải cau mày. Bà cô đến viếng ông anh, kêu khóc bù lu bù loa nhưng hai mắt ráo hoảnh, âm thanh đang to hết cỡ bỗng tắt phụt như từ cái máy thâu âm hết băng. Quan tài còn quàn giữa nhà, đã thấy lái buôn đến cửa mặc cả mua lại những vòng hoa cườm. Sự xô bồ, huyên náo như vừa mô tả vãn đi lúc gần trưa, Bảo lẻn đi kiếm chỗ ngủ, trở ra chợt thấy bà dì ghẻ đang ngồi tiếp chuyện một người đàn ông lạ mặt ở cái bàn bên cạnh bàn thờ người quá cố. Ông khách trạc ngoài 50, “có vẻ là một công chức hạng thường, ăn mặc tề chỉnh với bộ complet màu xám đã cũ, có gương mặt xanh xao và đượm một vẻ buốn lạ lùng, nhất là đôi mắt trông như ngơ ngác. Đây là người đầu tiên từ hôm đám ma mà Bảo thấy có vẻ buồn do sự ra đi của cha mình. Có lẽ ông đang kiếm lời chia buồn hay an ủi bà Long hoặc đang nói đến kỷ niệm gì của mình với người quá vãng, một kỷ niệm đẹp giữa hai người.” Trở lại Chùa hôm 49 ngày, Bảo chợt nhớ lại hình ảnh ông khách lạ với đôi mắt buồn trong tang lễ của cha, khiến chàng ngờ ngợ như đã có ấn tượng sai lầm về cha mình. “Biết đâu trong thâm tâm, ông vẩn là một người dễ xúc cảm và thương người nhưng suốt đời ông quen che dấu nó, không muốn ai thấy, nhất là các con mình. Hôm nay Bảo mới mường tượng được một khía cạnh khác, có lẽ khá thật về con người của cha mình. Cảm thấy nỗi xúc động từ đâu bỗng dâng lên, làm chàng nghẹn ngào khó thở. Và, lần đầu tiên từ khi ông chết, chàng mới thấy thực sự thương ông.” Có lẽ tâm trạng này không xa lạ với một số độc giả đọc Bèo Giạt nhưng đôi mắt quan sát tinh tế và trực cảm bén nhậy của tác giả về người khách viếng tang là một kinh nghiệm hiếm hoi, giúp hòa giải tương quan gập ghềnh do nhiều ngộ nhận giữa hai nhân vật cha con, không còn lợi ích cho người đã khuất nhưng cơn khóc nức nở bất ngờ bật ra từ người con đã thực sự xua tan đám mây mù phủ bóng tối lên tâm hồn nó những năm tháng sống khô héo tình cha (Người Khách Lạ)

Phần còn lại của Bèo Giạt gồm nhiều nhân vật của nhiều cảnh ngộ khác nhau, từ Tùng, một ông bác sĩ trẻ có lòng nhân ái, không muốn nắm lấy cơ hội bỏ Phan Rang về Sàigòn sau khi trót nhẫn tâm bỏ qua lời cầu khẩn của một bà mẹ quê xin ông ra tay cứu chữa con bà nên đứa bé chết. Lỗi lầm này trở thành sự ràng buộc, cầm chân ông ở lại cái nơi có những người dân nghèo khó cần ông (Ràng Buộc) * Đến Dũng, một lãnh tụ hoạt động sinh viên hăng say ở Sàigòn trước đây, dấn thân và hy sinh, qua Mỹ làm chuyên viên địa ốc, bị kẹt trong cuộc tranh chấp âm thầm, ráo riết giữa mẹ và vợ nhưng xem ra anh đã chọn chữ hiếu, coi nhẹ người bạn đời, tin chắc rằng ảnh hưởng của Khổng Mạnh sẽ giữ được người đàn bà ở vị thế an phận và chịu đựng. Mất quân bình trong cuộc sống hôn nhân, anh tìm khuây khỏa trong thú vui uống rượu, đọc sách, đánh bạc; sau cùng, thình lình qua đời vì tai biến mạch máu não. Có vẻ như khi bị bế tắc với các nhân vật của mình, tác giả Bèo Giạt dùng giải pháp bỏ chạy để kết thúc tình huống trong đó vai chính không vận dụng được cơ hội đến trong tầm tay, vì thiếu viễn kiến, thiếu khả năng định hướng cuộc hải trình trên biển lớn cho chiếc thuyền nhỏ quen chạy trên sông rạch ở quê nhà. * Đến liên hệ kỳ dị giữa hai cha con cụ Tụng và Hải. Cụ Tụng rượu chè be bét, nói năng huyên thuyên, quần áo xộc xệch, mỗi khi nhà con trai cụ có khách tới chơi, Hải bắt cụ phải thay quần áo có bôi sẵn nước hoa. Gặp bất ngờ ở chỗ lạ, Hải chối phắt không phải là con. Hải được mô tả là “thành thạo lối giao tế với Mỹ” nhưng anh lại thường mang bạn gái người Mỹ đến nhà vợ chồng anh Hùng vào giờ cơm mà không báo trước, quất đầy một bụng rồi đứng dậy đòi đi, không để bạn gái có chút thời giờ phụ khổ chủ dọn dẹp bàn ăn bày ra vì họ. Không ít người Việt Nam định cư ở Mỹ sống cùng lúc và trọn vẹn hai nền văn hóa khôn nhà dại chợ như Hải. Truyện Hai Cha Con là màn hoạt cảnh sống động nhất trong cuốn Bèo Giạt, cho độc giả đủ bộ thất tình: hỉ, nộ, ái ố, bi, lạc, dục, phản chiếu những cái “bát nháo” được tác giả mô tả bằng một văn phong từ tốn, điềm đạm pha chút bỡn cợt kín đáo của người nghệ sĩ tấu hài làm chủ được cảm xúc và ngay cả hậu ý của mình. Hoạt cảnh trong Dạ Tiệc cũng náo nhiệt và đa đoan không kém: một người vợ H.O se sua, hãnh tiến qua cuộc đổi đời lịch sử, nương theo sự tiến thân của chồng, cảm thấy mình ở trên những người khác. Lối sống xa hoa, đua đòi của vợ rất khác với khuynh hướng yên phận của chồng khiến giữa hai người bắt đầu có sự so le. Cho tới một ngày, người vợ chạm mặt với sự thật phũ phàng khi bị ông xếp phê điểm xấu trong kỳ cứu xét tăng lương thường niên. Ý thức mình kém cỏi, chỉ có vỏ, không có ruột, cô tự ái, xấu hổ, nên tự ý bỏ việc, ở nhà vùi đầu vào phim ảnh. Cuối cùng, họ chia tay. Trong khi ở Maryland, những buổi dạ tiệc khiêu vũ tiếp tục diễn ra tại nhà các bạn bè cũ, người vợ nói trên theo mẹ và em trai đời cư về Cali, người chồng quay lại Việt Nam, cặp bồ với một cô trẻ chỉ đáng tuổi con mình tuy ông chưa bao giờ được nếm trải hạnh phúc làm cha. Truyện cuối cùng, Canh Bạc, gồm 3 người từng là bạn chí thiết từ thời trung học ở Việt Nam: Châu, Khanh và Tuấn. Sau trung học, Khanh vào trường kỹ sư Phú Thọ, Tuấn học Khoa học 2 năm rồi gia nhập hải quân, Châu thi rới tú tài toàn phần 4 khóa liền nên xếp bút nghiên vào quân trường. Biến cố 30/4/75 xảy tới, Khanh vượt biên đén Mỹ, hùn hạp với họ hàng kinh doanh 2 tiệm bán đồ gỗ, gặp thời phất lên khá giả tuy bề trong lục đục tranh chấp. Gia đình Khanh làm chủ một ngôi nhà lầu ít sửa sang, bàn ghế tuy mới nhưng là loại rẻ tiền. Trong bếp, chén bát, nồi niêu soong chảo để la liệt, bừa bộn, mùi thức ăn bốc lên cả phòng ngủ trên lầu. Mảnh vườn nhỏ sau nhà chỉ đủ trồng ít rau quả…Tuấn cũng qua được Mỹ để rồi trở thành kẻ không nhà, tất cả sự sản để vừa cái thùng xe phía sau. Đêm đêm, anh ngả ghế xuống nằm ngủ. Hôm nào lạnh quá, phải đập cửa nhà một đồng ngũ trước kia xin tá túc qua đêm. Anh sống bằng nghề đưa đón các tay chơi muốn đến sòng bài mà không thể tự lái xe, tiền kiếm được bao nhiêu nướng vào mấy canh bạc hết. Đối với anh, có lẽ cuộc đời cũng chỉ là canh bạc, gồm những người may mắn và những người xui xẻo. Con bạc cạn láng bỏ sòng bài. Anh sạch vốn, nhắm mắt xuôi tay giã từ cuộc đời.

Tôi mường tượng có người đọc Bèo Giạt bỏ nửa chừng, không chịu đựng nổi sự tẻ nhạt là âm bản sự tẻ nhạt bắt gặp mỗi ngày xung quanh hay trong chính bản thân mình. Cuốn sách đóng lại, sự tẻ nhạt của đời thường vẫn tiếp diễn. Chi bằng mở cuốn sách ra, nhìn ngắm những người đồng hội đồng thuyền để cám cảnh và thương xót nhau hơn.

Gần một thế kỷ sau, “Nhà Mẹ Lê” của Thạch Lam vẫn là hình ảnh vô cùng sinh động, được hậu thế ghi nhận là dấu vết một thời có những con người đã sống thật như thế. Trong Bèo Giạt, cũng có nhiều cảnh Nhà Mẹ Lê sau này sẽ là tư liệu của một giai đoạn người Việt tản lạc, nổi chìm trong cuộc tồn sinh bất đắc dĩ sau biến cố 30 tháng 4/1975.

Dưới cái dù màu to lớn của giòng họ Nguyễn Tường vả Tự Lực Văn Đoàn, Ngọc Cường (chứ không phải Tường Cường) đã tách ra đứng một mình. Ông không có sứ mệnh thay đổi một xã hội, không có cái bố cục sắc sảo của một nhà lập thuyết, không pha được những gam màu tuyệt kỹ để thể hiện mình như nhà văn/nhà danh họa Nhất Linh. Ông không có cái đa cảm, lãng mạn, mượt mà tơ lụa của Thạch Lam thượng bán thế kỷ 20. Thuộc thế hệ cầm bút thứ hai, ông không có cái liêu xiêu trăn trở của Duy Lam thập niên 1950 ở Huế, đốt hàng đống bản thảo đầu tay không vừa ý trước khi hoàn thành Gia Đình Tôi. Ông không có cái tham vọng kiêu kỳ khai sinh một trường phái tiểu thuyết mới của Thê Uyên khi phong trào Hiện sinh du nhập vào Sàigòn, viết về tình dục với sự thản nhiên giả vờ như viết về cơn mưa ồ ạt đổ xuống những mái tôn Sài gòn mùa hè. Ông cũng không có vẻ đẹp lung linh, bay bổng, siêu thực và quý tộc của Tường Hùng trong Con Ve Sầu. Ông không có cả sự cẩn trọng cân nhắc từng con chữ làm nên văn phong mẫu mực của Nguyễn Tường Thiết. Ông chỉ có một tấm lòng yêu mến con người, trong những ước vọng và thất vọng sâu xa của nó. Câu chuyện, với ông, mở ra dễ dàng, tự nhiên, diễn tiến theo cái cách ông bắt gặp chúng, lúc lề mề, dai dẳng, như một con dao cùn cứa mãi vào một vết cắt; lúc vội vàng, láu táu, mải mốt ghi chép trung thực tình tiết, con người như chúng đang hiện ra trong tầm mắt và cảm xúc của ông với nhiều khiếm khuyết, không hoàn hảo, một loại nguyên liệu ròng, thô sơ, thật có nên khả tín, có lẽ cũng rất cần thiết cho thời đại photoshop đầu thế kỷ 21, càng quý giá hơn khi chúng không là tác phẩm làm nên tiếng tăm của một tác giả mà chúng là một tập hợp cần mẫn, âm thầm, khó nhọc, những mảnh puzzles sứt mẻ, gãy vỡ, trôi giạt song nếu thiếu chúng, bức họa toàn cảnh cuộc di cư và định cư vĩ đại của người Việt Nam ở rải rác nhiều nơi trên thế giới cuối thế kỷ 20 sẽ không đầy đủ, không trung thực vì nhiều phận đời hẩm hiu bị bỏ quên và bị thời gian vùi lấp.

bùi bích hà,

Quận Cam, tháng 10/2014.

bài đã đăng của Bùi Bích hà


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)