Trang chính » Bàn Tròn, Bàn Tròn: Văn Học Nghệ Thuật, Biên Khảo, Nhận Định Email bài này

Cần tôn trọng nguyên tắc học thuật

 

Trong “một quái trạng văn hoá”,[1] ông Hoàng Ngọc-Tuấn phê bình tính cách học thuật của hai ông Trịnh Lữ và Hoàng Ngọc Hiến bởi vì: đối với ông Trịnh Lữ, từ “hậu hiện đại” (postmodern) là do Jean-Francois Lyotard đẻ ra vào năm 1979 trong cuốn La Condition Postmoderne; đối với ông Hoàng Ngọc Hiến, từ “chủ nghĩa hậu hiện đại” (postmodernism) là do Charles Jencks đẻ ra vào năm 1977 trong cuốn The Language of Post-Modern Architecture (xin tạm bỏ qua hai chi tiết sai nhỏ là tên tác giả và tên cuốn sách thiếu chữ hậu). Ông Hoàng Ngọc-Tuấn chứng minh nói thế là sai bằng một bài dài 10 trang A4, liệt kê hàng loạt tài liệu tham khảo để những ai quan tâm có thể nghiên cứu thêm. Trong bài này, ông Hoàng Ngọc-Tuấn không dấu được sự bất mãn gần như cùng cực của mình đối với tinh thần học thuật của một số học giả Việt Nam hôm nay. Không chỉ bất mãn, ông Hoàng Ngọc-Tuấn còn tỏ ra vô cùng thất vọng khi thấy những cái sai như thế lại được tiếp nhận một cách ngang nhiên tại các hội thảo mà ông cho là “cao cấp giả hiệu” nhưng chẳng ai phản đối, rồi được truyền bá sâu rộng mà chẳng ai thắc mắc để/hay kiểm chứng. Vừa bất mãn vừa thất vọng, thảo nào lời văn phê bình của Hoàng Ngọc-Tuấn tuy luôn nghiêm chỉnh nhưng không hề khoan nhượng đối với những cái mà có lẽ ông cho là phản học thuật (để rồi có người phải thắc mắc về chữ “danh” với ông, và sau đó là vài ý kiến qua lại về con người của Hoàng Ngọc-Tuấn mà cũng may, nhờ đó nên tôi biết thêm về ông).[2]

Hơn hai tuần kể từ khi bài này phổ biến trên Talawas, ngoài sự phản biện tiếp theo giữa các ông Hoàng Ngọc-Tuấn, Trịnh Lữ và Hoàng Ngọc Hiến,[3] mục ý kiến ngắn hầu như bị áp đảo về đề tài này. Mới đây, trong ý kiến “Một độc giả bị mờ mắt và điên cái đầu” (31/10/2008), Chu Việt cho rằng:

Vấn đề định danh hay định thời điểm thật là rối rắm và theo thiển ý không cần thiết. Điều quan trọng là thực chất và khả năng tiếp nhận và tiêu hóa những gì hiện có và sẽ có. Tôi hy vọng những nhà trí thức trong sân chơi hãy có độ lượng và giữ được cái gọi là “sự ngay thật trí tuệ” (intellectual probity). Và chấm dứt cái “trò chơi vô tăm tích” … này. Chúng ta còn nhiều vấn đề khác cần bàn tới. [4]

Mặc dầu rất tán thành tổng quát ý kiến này, tuy nhiên, nếu vô ý, chúng ta có thể bỏ qua điểm quan trọng. (Tuy trang Talawas đã tạm đình chỉ nên cuộc tranh luận không được tiếp diễn, nhưng vì tầm quan trọng của vấn đề này nên tôi muốn chia sẻ vài ý kiến xoay quanh nguyên tắc học thuật hơn là bàn về (chủ nghĩa) hậu hiện đại).

Theo tôi nhận định thì vấn đề ở đây không chỉ là “định danh hay định thời điểm”, mà quan trọng hơn, nhất là đối với Hoàng Ngọc-Tuấn, là tính cách hay tinh thần học thuật của người Việt nói chung, hai ông Trịnh Lữ và Hoàng Ngọc Hiến nói riêng. Đọc kỹ hai bài “một quái trạng văn hoá” và sau đó “Một lối nghiên cứu đáng ngờ, và một lối phản biện đáng chê trách”, Hoàng Ngọc-Tuấn phê phán một cách không khoan nhượng cái sự cẩu thả và, hơn nữa, cái sự gian lận và đánh tráo vấn đề trong nghiên cứu và học thuật. Thử bỏ qua những ngôn từ khó nghe hay có khả năng đụng chạm tự ái sâu sắc, Hoàng Ngọc-Tuấn muốn nhấn mạnh một số điều rất căn bản về học thuật.

Trước hết, đối với giới học giả thì vấn đề nghiên cứu phải nghiêm túc, phải đạt tiêu chuẩn học thuật chứ không thể nói ẩu, viết ẩu hay “múa gậy vườn hoang” được. Như Hoàng Ngọc-Tuấn đã dẫn chứng, cở một học sinh trung học siêng năng một chút có thể “google” một cách bình thường (hay nếu muốn tài liệu mang tính học thuật hơn thì dùng “Google Scholar”) để truy tìm các thông tin hay tài liệu nghiên cứu về “postmodern” hay “postmodernism”. Kết quả hiện ra hàng triệu, và chỉ cần chịu khó bỏ chút thời gian đọc và gạn lọc thì sẽ tìm ra được những nguồn khả tín, chẳng có gì khó đến độ vấp phải những cái sai như thế.

Xin mở ngoặc ở đây để nói thêm rằng với những ai không có thời gian hay muốn đơn giản hơn thì cứ vào Wikipedia để truy tìm rồi từ đó có khái niệm rõ hơn về các tài liệu mình muốn tham khảo. Nếu “google” từ “postmodern” hay “postmodernism” thì kết quả hiện ra đầu tiên chính là từ nguồn Wikipedia.[5] Và trong phần lịch sử của từ này thì chúng ta có thể tìm ra ít nhất là thời điểm cũng như bối cảnh liên hệ của nó, kể cả về lãnh vực kiến trúc. Wikipedia là cách thức rất phổ biến hiện nay mà hầu như đa số học sinh trung học nói riêng và nhiều thành phần xã hội khắp nơi nói chung bắt đầu sử dụng để truy tìm thông tin một cách cấp tốc.

Còn đối với các học giả đích thực thì thường họ không dùng cách thức đó, và nếu có thì cũng không dừng lại ở đó; hơn nữa, họ không nhất thiết phải “google” như thế nếu đã từng nghiên cứu đề tài/lãnh vực đó trước đây, trừ phi những lãnh vực đó không phải là điều họ quan tâm lắm mà chỉ muốn biết đại khái hay tổng quát mà thôi. Tôi không rõ ở Việt Nam các giáo sư và sinh viên có vào được cơ sở dữ liệu điện tử (electronic database) như hầu hết các trường đại học ở bên Úc này không. Các cơ sở dữ liệu này chứa đựng hầu như tất cả các tạp chí danh tiếng hàng đầu của thế giới, ngay cả những cái đã tồn tại từ hơn 100 năm nay mà ngày nay đã được “điện tử hoá” hết nên rất thuận tiện cho việc truy tìm tài liệu nghiên cứu. Đúng ra thì các sách chuyên ngành về mọi lãnh vực tại thư viện ở các trường đại học là nguồn tài liệu chính để giáo sư và sinh viên nghiên cứu, tham khảo. Đối với giới khoa bảng, đây mới là nơi khả tín để nghiên cứu, không phải từ Wikipedia hay Internet, mặc dầu mức độ khả tín của Internet càng ngày càng gia tăng, và tính cách giáo dục đại chúng của Wikipedia cũng rất đáng kể.

Tuy nhiên, vấn đề ở đây là hai ông Trịnh Lữ và Hoàng Ngọc Hiến đã thuyết trình về đề tài này như là những người chuyên môn hoặc có thẩm quyền tại các hội thảo cũng mang tính chuyên môn thì không thể có những sai sót hay lầm lẫn căn bản như thế được. Thêm vào đó, trong “Một lời cám ơn và một lời chúc mừng” vào ngày 29/10/2008 trên Talawas, ông Hoàng Ngọc Hiến một lần nữa khẳng định rằng trong lịch sử kiến trúc hiện đại, thuật ngữ “chủ nghĩa hậu hiện đại” lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1977 từ công trình của Charles Jencks. Và ông Hoàng Ngọc Hiến đã thách thức ông Hoàng Ngọc-Tuấn phản biện dữ kiện này, nhưng rồi cũng bị ông Hoàng Ngọc-Tuấn chứng minh là sai. Cho nên ông Hoàng Ngọc-Tuấn cũng không quá đáng gì khi nghi vấn tính cách học thuật của hai ông Trịnh Lữ và Hoàng Ngọc Hiến (tất nhiên không chỉ riêng hai ông) rằng có lẽ hai ông chỉ nghe hay đọc loáng thoáng một số tài liệu về chủ nghĩa/hậu hiện đại chứ chẳng phải chuyên môn và cũng chẳng chịu sưu tầm nghiên cứu nghiêm túc mà rồi dám “lên gân phun châu nhả ngọc” để “gây nhiễu thông tin”.

Từ đó, có thể cho rằng ông Hoàng Ngọc-Tuấn là người khó tính và nguyên tắc, nhưng sự nhấn mạnh và đề cao tinh thần nghiêm túc trong học thuật lại vô cùng cần thiết và lại cực kỳ căn bản bởi chính nó là nền tảng tinh thần để xây dựng và phát triển nghiên cứu, học thuật, khoa học và sáng tạo.

Tuy nhiên một tinh thần nghiêm túc như thế không phải tự nhiên mà có. Nó đòi hỏi nhiều điều kiện, chẳng hạn, về mặt giáo dục là sự đào tạo khoa học và đạo đức kỷ luật, về mặt văn hoá là sự tự trọng và tương kính, về mặt chính trị là sự tôn trọng quyền tự do ngôn luận và sáng tạo … vân vân. Nói chung là cần phải có một văn hoá học thuật để làm nền tảng. Văn hoá học thuật đó có lẽ bao gồm hai phần chính: 1) tôn trọng tuyệt đối các nguyên tắc căn bản trong học thuật; 2) thấu hiểu các nguyên do hay triết lý đằng sau các nguyên tắc này.

Thí dụ, khi viết một bài luận văn ngắn hay dài, một bài nghiên cứu nhỏ hay lớn, một tác phẩm hay một cuốn sách mang tính đại chúng hay học thuật, thì ngoài tầm quan trọng của các khám phá mới, các kết quả nghiên cứu cũng như phương pháp luận, nguyên tắc ghi rõ xuất xứ của các nguồn tài liệu sử dụng để bảo vệ hay phản biện cho lập luận của người viết là cần tuyệt đối tôn trọng. Lý do là vì thành quả cấu tạo nên một sản phẩm/tác phẩm như thế luôn luôn là sự tổng hợp của ba nguồn thông tin/kiến thức/quan điểm khác nhau: 1) ý tưởng và kinh nghiệm riêng (độc lập) của tác giả; 2) kiến thức tổng quát hay tin tức căn bản mà đa số mọi người đều biết và chia sẻ nhau; 3) những ý tưởng và kinh nghiệm của người khác.[6] Trong ba nguồn này, điều kiện quan yếu là người viết cần phải ghi nhận rõ ràng và chính xác nguồn thứ ba.

Đối với các bài báo hay các tác phẩm mang tính đại chúng thì không nhất thiết phải ghi mọi xuất xứ, nhưng đối với học thuật thì đó là điều bắt buộc. Lý do là: một, người nghiên cứu cần/muốn chứng tỏ sự tham khảo nghiên cứu sâu rộng và kỹ lưỡng và người nghiên cứu khác có thể đối chiếu hay phản biện khi cần (một bài viết giá trị thường là bài tham khảo nhiều tài liệu đúng đắn của nhiều học giả nghiên cứu đúng đắn); hai, ghi nhận và tôn trọng ý tưởng/kinh nghiệm của người khác chứ không phải vay mượn của người khác làm của mình. Điều này rất quan trọng bởi trong học thuật hoàn toàn không chấp nhận sự gian lận về văn, ý hay kết quả nghiên cứu v.v…

Nhưng thế nào là gian lận (plagiarism)? Theo định nghĩa, thí dụ của trường đại học Melbourne chẳng hạn, thì “gian lận là hành động biểu trưng tác phẩm sáng tạo của người khác như là nguyên thuỷ của chính mình mà không ghi nhận một cách đúng đắn tác giả hay xuất xứ (của nó)”.[7] (Các sản phẩm sáng tạo định nghĩa ở đây có thể bao gồm những tài liệu viết đã được hay chưa được xuất bản, những bản dịch thuật, những nhu liệu computer, các thiết kế, âm nhạc, hình ảnh, bức ảnh, và ý kiến hay các khung sườn ý thức hệ được hình thành qua sự làm việc với người khác hay trong một nhóm. Những sản phẩm này có thể ở dạng in hay dạng điện tử). Từ plagiarism đến từ một từ La Tinh có nghĩa kẻ bắt cóc “kidnapper”, ám chỉ một người ăn cắp ý kiến hay từ ngữ của người khác rồi trình bày nó như là của chính mình. Thí dụ, nếu một người sao chép từ một bộ sách giáo khoa (encyclopedia) rồi thay đổi sơ sơ và phổ biến như do chính mình viết thì đó là gian lận một cách cố ý. Nếu người đó cẩu thả quên không để trong ngoặc hay không ghi xuất xứ để chứng tỏ các từ hay ý mình dùng đó thuộc người khác thì đó là gian lận một cách vô tình. Dù là vô tình hay cố ý thì vấn đề gian lận là một tội nghiêm trọng trong lãnh vực học thuật. Đối với sinh viên đại học thì nếu vi phạm sẽ hội đồng kỷ luật của trường điều tra kỹ lưỡng, nhẹ thì bị cảnh cáo, trừ điểm hay cho rớt, và nặng thì bị kỷ luật, có khi bị tướt bằng hay đuổi học.

Vì tầm quan trọng như thế cho nên bất cứ một sinh viên nào, đặc biệt là sinh viên năm thứ nhất khi mới bước vào ngưỡng cửa đại học, đều được nhắc đi nhắc lại trong giờ học đầu tiên của mọi môn học rằng gian lận là điều không bao giờ được chấp nhận trong trường học. Trong phần đánh giá trình độ học vấn của sinh viên (assessment), các giảng sư (lecturer) và phụ giảng (tutor) đều nhấn mạnh rằng thật không đáng chút nào để gian lận bởi thứ nhất, chắc chắn sẽ không qua mặt được thầy cô, thứ hai, sự trừng phạt sẽ rất nặng nề và, thứ ba, người gian lận không tiếp thu được những kiến thức mà nếu thật sự học thì sẽ có. Nặng hơn, không ghi nhận nguồn (tài liệu, kiến thức) ở trong bài tập của mình thì bị xem là có tội gian lận trí tuệ (intellectual fraud).

Tuy nhiên, không phải tất cả những người vi phạm tội gian lận đều cố tình, nhưng rất có thể vì họ không biết các quy tắc viết bài luận văn là phải làm theo một cách thức nào đó. Thí dụ, một số người không biết hay không có khả năng viết luận văn theo kiểu học thuật vì không có kinh nghiệm hay vì cẩu thả không để ý… Chính vì thế nên tất cả sinh viên được cho một bản quy định khá cụ thể để biết rõ hầu tránh gian lận một cách vô tình. Tất cả sinh viên được yêu cầu phải theo sát phương thức đã được hình thành và áp dụng công thức có sẵn lâu nay khi ghi xuất xứ của các nguồn tài liệu mình trích/sử dụng.

Cụ thể hơn, sinh viên trường Melbourne được cung cấp một số thí dụ về tội gian lận điển hình như sau. Một, sao chép trực tiếp (hay để cho người khác sao chép) một hay nhiều đoạn văn, một hay vài câu văn, hay có khi chỉ một câu văn hay một vài ý quan trọng của một câu văn, là gian lận. Ngay cả sau một đoạn trích dẫn mà không dùng ngoặc kép để cho biết ý tưởng đó là nguyên thuỷ của người khác thì cũng có thể bị kết tội gian lận. Hai, sao chép ý kiến, khái niệm, kết quả nghiên cứu, các bản thống kê, các chương trình vi tính, các thiết kế, hình ảnh, âm thanh hay bản văn hay tất cả những cái vừa nói, là gian lận. Ba, diễn giải hay viết lại bài luận văn hay sản phẩm của người khác, với vài thay đổi nhỏ nhưng ý nghĩa, hình thức và sự khai triển các ý tưởng này chủ yếu vẫn còn nguyên, là gian lận. Bốn, dựa vào một ý tưởng hay sự diễn dịch cụ thể không phải của mình nhưng cũng không ghi nhận rõ ý kiến hay diễn dịch đó của ai, là gian lận. Năm, cắt dán (lấy chỗ này đắp chỗ kia) các đoạn văn hay nhận định từ nhiều nguồn khác nhau và ráp lại thành một nguyên bản như của mình, là gian lận. Sáu, trình bày như là độc lập, trong khi công việc đó lại hợp tác với những người khác, là gian lận. Bảy, nộp bài như là của chính mình, nhưng trong đó có một phần hay toàn phần là thuộc nguyên bài của người khác, là gian lận. Tám, ngay cả khi làm bài hoàn toàn đúng quy định và tiêu chuẩn, nhưng lại nộp một phần lớn hay toàn phần bài tập cho hai môn học khác nhau, là gian lận. Chín, quay cóp trong lúc thi cử, hoặc sao chép từ những sinh viên khác hay dùng các những lời ghi chú không được cho phép, là gian lận.

Ngoài các quy tắc nêu trên và các thí dụ cụ thể để hướng dẫn sinh viên tránh vi phạm gian lận, một quy tắc quan trọng không kém đi kèm là cách thức ghi xuất xứ của các nguồn tài liệu sử dụng trong bài luận văn. Nghĩa là khi trích dẫn tài liệu tham khảo thì phải thật rõ ràng và phải tuân theo một hệ thống nhất định nào đó, thí dụ như hệ thống Cambridge hoặc Oxford, hoặc hệ thống Harvard, chứ không thể trong cùng một bài đổi từ hệ thống này sang hệ thống khác.[8] Trích dẫn đúng tài liệu là một yêu cầu căn bản để các giáo sư chấm điểm biết sinh viên mình có thật sự đọc tài liệu đó không, và giữa giới học giả với nhau có thể trao đổi ý kiến và tranh luận dựa trên các nguồn tài liệu gốc bởi có khi cũng cùng nguồn đó nhưng sự thẩm thấu hay diễn dịch có khác nhau. Nếu làm không đúng cách hay không trích dẫn thì sẽ bị xem là gian lận, cho dầu không cố ý. Cũng cần để ý rằng cách trích dẫn xuất xứ các tài liệu điện tử (E-Book, E-Journals, WWW, TV and Radio… mỗi cái có khác nhau) sẽ khác với cách trích dẫn từ nguồn văn bản in (Books, Journals, Proceedings, Newspapers, Magazines… mỗi cái cũng có khác nhau) và giữa các hệ thống trích dẫn tài liệu tham khảo cũng khác nhau. Tóm lại, đây là bước căn bản cần phải làm quen ngay từ những ngày đầu vào đại học, nếu không thì khó thể nào bước qua được ngưỡng cửa đại học.

Lý do của sự nghiêm khắc đối với các hình thức vi phạm học thuật như nói trên, theo trường đại học Melbourne chẳng hạn, là vì trường “tin tưởng rằng sự ưu tú trong cách dạy và học có thể đạt được trong một môi trường trí thức nơi mà sự liêm chính học thuật được đánh giá cao và được tôn trọng kỹ càng. Chính sách của trường về sự trung thực và gian lận trong học thuật được dựa vào hai giá trị cốt lõi sau đây: một, giáo dục và nâng cao nhận thức là căn bản trong việc phát huy sự tôn trọng đối với sự thật và đạo đức học thuật; hai, bài tập được nộp để chấm điểm phải là do chính sinh viên hay các nhóm sinh viên (được chấp thuận làm việc chung với nhau) độc lập thực hiện để chứng tỏ sự thành thạo của họ đối với các mục tiêu của môn học đó”.[9] Tóm lại, một người có hành vi gian lận, tức vi phạm vào đạo đức học thuật, thì không những sẽ không học hỏi tiếp thu được kiến thức một cách nghiêm chỉnh mà còn có khả năng gây nhiều tai hoạ về sau, ít nhất là không tôn trọng đối với những thành quả công sức trí tuệ của những người khác.

Một số điều kết luận

Nếu cẩu thả là một sai sót nghiêm trọng trong nghiên cứu học thuật, thì gian lận là một điều cấm kỵ không thể chấp nhận được. Đối với một sinh viên chẳng hạn, thì sự cẩu thả cùng lắm chỉ lấy điểm thấp hoặc bị cho rớt phải học lại mà thôi. Thí dụ, đọc bài “Liều lĩnh song ngữ” của Lê Hùng (9/9/2008) trên Talawas thì tôi cũng hơi bị sốc bởi cách dịch “liều lĩnh” cẩu thả như thế. Tương tự, cách quả quyết về các từ “postmodern” và “postmodernism” xuất hiện vào năm 1979 và 1977 cũng cho thấy sự liều lĩnh cẩu thả rất thiếu tính nghiêm túc.

Nhưng chỉ cần đi xa hơn sự cẩu thả đó một chút thôi, dù không cố ý, thì có nguy cơ trở thành sự gian lận trong học thuật. Nếu áp dụng các quy tắc trên (một cách tương đối thôi) để đánh giá thì có thể nói rằng rất nhiều những bài viết, đặc biệt những bài mang tính cách học thuật, được đăng trên Talawas hay những nơi khác đều phạm ít nhiều lỗi lầm như thế. Thí dụ, trong bài “Vài điều cần nói với Phạm Xuân Nguyên”,[10] Hoàng Ngọc-Tuấn đã phơi bày quá rõ sự gian lận của Phạm Xuân Nguyên khi nói về đề tài trí thức chẳng hạn. Gần đây, ý kiến ngắn “Lấy ai điểm danh dùm” của Bùi Bụi (23/9/2008), hay bài “Cũng chuyện vây mượn” của Trần Đình Hoà (2/10/2008), hay bài “Đỗ Lai Thuý và trường phái “luộc văn”” của Nguyễn Tôn Hiệt (9/10/2008) đã bàn về sự vay mượn không trả hay, nặng hơn, sự gian lận ý, văn, chữ nghĩa v.v… Ngay cả đối với Hoàng Ngọc Hiến, một học giả được xem là uy tín và tiếng tăm tại Việt Nam, thì vấn đề trích dẫn tài liệu tham khảo cũng mắc phải những lỗi lầm căn bản mà Hoàng Ngọc-Tuấn đã vạch ra (không đúng theo quy tắc tên tác giả, nhan đề tác phẩm, và xuất xứ (nơi xuất bản và năm xuất bản) của tài liệu ấy). Tôi không dám quả quyết ông Hoàng Ngọc Hiến đã vi phạm quy tắc đạo đức và nghiên cứu học thuật vì cố tình, nhưng dù là sự vô tình đi nữa thì với tư cách là một học giả có tiếng tại Việt Nam, hy vọng đây là bài học và kinh nghiệm không nên tái diễn. Tôi cũng chưa có thời gian đọc hết các loại bài như thế và cũng không có ý định liệt kê ra hết, nhưng nhìn chung thì e rằng đây là một vấn đề trầm trọng trong giới cầm bút Việt Nam. Tuy không chỉ riêng tại Việt Nam nhưng hình như nó khá phổ biến tại Việt Nam. Nguyên do, theo tôi, là ngoài sự thiếu ý thức tôn trọng nguyên tắc nghiên cứu học thuật từ xa xưa đến nay, có lẽ các yếu tố chính trị, văn hoá và giáo dục cũng phải chịu trách nhiệm một phần lớn lao không kém.

Trước hết, tôi không tin rằng các ý niệm về gian lận hay các nguyên tắc viết văn theo tinh thần học thuật, như có nói trên, tồn tại như một quan niệm chỉ đạo và một nguyên tắc hành xử trong các đại học hay giới học giả Việt Nam. Nếu có đi chăng nữa thì sự áp dụng của nó có lẽ cũng khá tuỳ tiện, điều cũng không mấy gì lạ trong một xã hội chẳng hề đề cao nguyên tắc và pháp luật, nếu không nói là thường xuyên phải phá nó để tồn tại. Với tình trạng như thế, và qua thời gian dài được bình thường hoá và trở thành thói quen, nó có khả năng trở thành bệnh truyền nhiễm mà khó ai vô nhiễm, trừ phi những người đó được đào tạo từ một môi trường hoàn toàn khác hay có sẵn một tư duy khác thường. Nghĩa là phải có một sự tự trọng và kỷ luật cá nhân rất cao cũng như một tinh thần cầu tiến, cầu toàn không ngừng để tìm đến cái chân thiện mỹ bằng một tư duy độc lập. Thiếu một trong những yếu tố này thì sẽ khó thể tránh việc vi phạm vào các nguyên tắc nghiên cứu học thuật.

Thật vậy, tư duy độc lập vẫn là một cái thiếu căn bản, thiếu trầm trọng tại Việt Nam. Điều này có thể nhận thấy rõ ràng qua cái quan niệm xưa nay luôn đề cao trí nhớ (thuộc lòng) hơn là trí sáng tạo hay tính độc đáo, vốn vẫn tiếp tục ảnh hưởng sâu đậm lên phương pháp giáo dục tại Việt Nam mà không dễ gì thay đổi. Vì cái kiểu học từ chương hồi xưa vẫn chưa được thay đổi hoàn toàn, do đó nó luôn có khả năng lấn áp các giá trị quan yếu về mặt học thuật như tính độc đáo (originality), tính sáng tạo (creativity), tính khai phá v.v… Ngoài ra, khi viết một bài luận văn, các yếu tố rõ ràng (clarity), thuyết phục (cogency), chặt chẽ (coherence) và bao hàm toàn diện (comprehensiveness) là tiêu chuẩn để đánh giá, hoàn toàn không phải cái kiểu hợp ý hợp tình hay phải đạo (politically correct) đối với giáo sư chấm bài. Thêm vào đó, cái nền giáo dục chính trị độc đoán bắt buộc sinh viên học sinh phải học mấy thứ như chủ nghĩa Mác-Lê và đạo đức Hồ Chí Minh, chẳng hạn, chỉ làm thui chột thêm tính độc lập và sáng tạo, góp phần đóng khung suy nghĩ cứng ngắt và hạn hẹp của giới trẻ. Nói chung thì cái văn hoá chính trị xưa nay nó không thuận lợi chút nào để giúp cho giới nghiên cứu và học thuật nói riêng và nền khoa học và giáo dục nói chung đứng một cách độc lập để trên nền tảng đó có thể tự xây dựng và phát triển, không bị lệ thuộc bất cứ nhóm nào, nhất là về mặt chính trị. Về đề tài này thì nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc cũng đã trình bày rất thuyết phục về các nguyên nhân thuộc lãnh vực văn học và văn hoá.[11]

Trong một môi trường như Việt Nam mà tự do ngôn luận, tự do sáng tác và tự do xuất bản vẫn còn bị kìm kẹp khắt khe thì điều đáng buồn nhưng không thể tránh khỏi là một tình trạng nhiễu nhương, cho nên Hoàng Ngọc-Tuấn mới nhận định: “…giới hiếu học bị rơi vào một cõi hỗn loạn thông tin, toàn là những điều mâu thuẫn, chẳng còn biết đâu là đúng là sai nữa”. Cũng theo Hoàng Ngọc-Tuấn nhận định thì tình trạng đó đã lặp đi lặp lại trong suốt nhiều năm qua ở Việt Nam cho nên các nỗ lực của các học giả nghiêm túc đều bị phá hoại không ngừng. Từ một quan điểm mỹ thuật như thế, không có gì ngạc nhiên nếu một người đam mê văn học nghệ thuật như Hoàng Ngọc-Tuấn lại có tinh thần không khoan nhượng đối với “kẻ thù” của chúng.

Khi các vấn đề nêu trên là thuộc văn hoá chính trị thì việc cách tân nó đòi hỏi một sự thay đổi rốt ráo trong tư duy của giới làm văn hoá, và các điều kiện chính trị khác nữa. Trong một điều kiện tối ưu là giới văn nghệ sĩ có được tự do ngôn luận, sáng tác và xuất bản và đứng độc lập với chính trị thì sự thay đổi sẽ nhanh hơn rất nhiều, đặc biệt khi được giao lưu giữa trong và ngoài nước. Nhưng trong điều kiện như hiện nay, khi những người thuần tuý phê bình văn học như Nguyễn Hưng Quốc về tới Việt Nam liền bị trục xuất,[12] thì vấn đề không hề đơn giản. Cho nên việc phê bình hai ông Trịnh Lữ và Hoàng Ngọc Hiến là rất đúng và cần thiết để chính những người lầm lỗi như thế phải tự nhìn lại mình mà trao dồi học thuật cho nghiêm túc hơn. Tuy nhiên, tôi vẫn e rằng đó chỉ là cái ngọn của vấn đề, còn cái gốc thì … vẫn chưa được giải quyết, vẫn chưa đụng tới. Cái văn hoá văn chương và văn hoá chính trị như thế vẫn còn bám rễ quá sâu vào tư tưởng và hành động của người Việt Nam. Có lẽ nó cần một cuộc “lột xác” hay “giải phẫu” tư tưởng.

Giải quyết vấn đề này cụ thể như thế nào thì tôi chưa dám có ý kiến và chưa dám bàn tới. Nhưng tôi tin rằng mấu chốt của vấn đề có lẽ nằm ở tinh thần tự trọng của người Việt Nam. Sự tự trọng có nghĩa là mình sẽ tôn trọng chính mình như tôn trọng người khác, không phải theo kiểu tự tôn, mà chủ yếu là không làm điều gì mà mình không muốn người khác làm đối với mình. Cho nên tôn trọng ý kiến của người khác, hay ghi nhận tác quyền của người khác, là quan yếu bởi chính tinh thần tự trọng sẽ mang lại sự kính trọng của người khác dành cho mình, dẫn đến một sự tương kính cần thiết trong học thuật. Từ đó thì không còn lý do gì để bảo rằng vì lơ đễnh nên không ghi xuất xứ v.v… Giới học giả và nghiên cứu cần phải làm gương cho giới cầm bút Việt Nam và cho sinh viên học sinh. Khi một người thầy vi phạm những lỗi lầm như thế thì mức độ tai hại của nó cho nền giáo dục nói riêng và văn hoá nói chung không phải là nhỏ. Cho nên vấn đề cải cách nền giáo dục quá tồi bại hiện nay có lẽ cũng cần bắt đầu từ cái gốc của sự việc, nghĩa là cần phải thay đổi hoàn toàn quan niệm triết lý về giáo dục mà trong đó sự tôn trọng kiến thức và quan điểm của người khác là một yêu cầu thiết yếu. Điều đó cũng có nghĩa là không chủ trương độc đoán các ý kiến hay ý thức hệ nào đó là chỉ đạo trong văn học nghệ thuật (và các lãnh vực khác) trong khi cấm đoán các hệ tư tưởng khác. Trong nghiên cứu học thuật thì cần tuyệt đối tôn trọng các nguyên tắc đó hơn nữa.

Melbourne 10/11/2008


[1] Hoàng Ngọc-Tuấn, “Một quái trạng văn hoá”, Talawas, 17/10/2008, <http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14495&rb=0106>.

[2] Xin đọc các bài của Tôn Thất Quỳnh Du, “Đôi lời với Hoàng Ngọc-Tuấn về chữ danh”, 25/10/2008, <http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14569&rb=0306>, Hoàng Ngọc-Tuấn., “Trả lời thắc mắc của anh Tôn Thất Quỳnh Du”, Viet-Studies, 25/10/2008, <http://www.viet-studies.info/HNTuan_traloi_TTQuynhDu.htm>, và Võ Quốc Linh, “Đôi lời về chữ “danh” và Hoàng Ngọc-Tuấn”, Talawas, 28/10/2008, <http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14600&rb=0306>.

[3] Ông Trịnh Lữ viết bài “Góp chuyện “quái trạng””, Talawas, 23/10/2008, <http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14549&rb=0106>, ông Hoàng Ngọc Hiến phản biện bài “Một lời cám ơn và một lời chúc mừng”, Talawas, 29/10/2008, <http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14611&rb=0106>, và ông Hoàng Ngọc-Tuấn phản biện lại bài của ông Hoàng Ngọc Hiến “Một lối nghiên cứu đáng ngờ, và một lối phản biện đáng chê trách”, Talawas, 31/10/2008, <http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14626&rb=0106>.

[4] Chu Việt, “Một độc giả bị mờ mắt và điên cái đầu”, Talawas (mục Ý kiến ngắn), 31/10/2008, <http://www.talawas.org/talaDB/showThu.php?res=14632&rb=12&von=0>.

[5] Xem website của Wikipedia, từ postmodernism, tại <http://en.wikipedia.org/wiki/Postmodernism>

[6] Đây là sự cấu tạo thông thường của một bài luận văn nghiên cứu. Xin đọc Practical Advice to Students, “Knowing what to acknowledge”, University of Melbourne, http://academichonesty.unimelb.edu.au/advice.html.

[7] Website của trường đại học Melbourne là <http://www.unimelb.edu.au/>. Riêng về phần tính trung thực và gian lận trong học thuật (Academic Honesty and Plagiarism) thì xin vào trang <http://academichonesty.unimelb.edu.au/>.

[8] Xem website của đại học Melbourne, Common Citation Styles, “Citation guidelines”, The University of Melbourne, <http://www.lib.unimelb.edu.au/cite/index.html>.

[9] Xem website của đại học Melbourne, “University Policy and Procedures for Academic Misconduct”, <http://academichonesty.unimelb.edu.au/policy.html>.

[10] Hoàng Ngọc-Tuấn, “Vài điều cần nói với Phạm Xuân Nguyên”, Talawas, 11/2/2003, <http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=225&rb=0102>.

[11] Xin đọc các bài như “Văn học trong một nước mù chữ” hay “Tính chất thuộc địa và hậu thuộc địa trong văn học Việt Nam” v.v… trong tác phẩm Văn học Việt Nam từ điểm nhìn hậu hiện đại (cũng như một số bài viết trong tác phẩm Văn hoá văn chương Việt Nam).

[12] Xin đọc Nguyễn Hưng Quốc, “Không được nhập cảnh vào Việt Nam!”, Talawas, 23/11/2005, <http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=5842&rb=0401>.

bài đã đăng của Phạm Phú Đức

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

4 Bình luận

  • Trần Minh Lý says:

    Trịnh Lữ Hiểu Nhầm, Dịch Sai Tựa Đề cuốn Introducing Translation Studies của Jeremy Munday
     
    Cuốn sách này của Munday đã được (hay bị) ông Trịnh Lữ hiểu lầm một cách trầm trọng. Nguyên tác “Introducing Translation Studies”, với hai từ “Translation Studies” không phải là “Nghiên cứu dịch thuật” đâu, nó chính là “Phiên Dịch Học”, tức một ngành học mới và một cái tên mới do học giả James Holmes đặt: bắt đầu vào năm 1972 khi học giả Holmes đặt tên cho ngành học này là “Translation Studies” ở Hội nghị Quốc tế lần thứ Ba về Ngữ học Ứng dụng ở Copenhagen (Đan Mạch).
     
    Tham luận của James Holmes có tựa: “The name and nature of translation studies”. Holmes là người đầu tiên đề nghị dùng danh xưng “Translation Studies” theo nghĩa –ology (ngành học) để chỉ toàn bộ hoạt động của ngành phiên dịch. Vì vậy, tựa sách của Munday chỉ là: Nhập Môn Phiên Dịch Học, chứ không phải “NHẬP MÔN NGHIÊN CỨU DỊCH THUẬT’ như ông Trịnh Lữ hiểu (nhầm).
     
    Toàn bộ cuốn sách nói NGÀNH HỌC, còn “nghiên cứu dịch thuật” chỉ là một khía cạnh hoạt động thuộc ngành học này.
     
    Than ôi, sai trầm trọng như vậy ở tựa đề, và toàn bộ nội dung cuốn sách trong bản dịch (vì hễ thấy chữ “translation studies” là Trịnh Lữ dịch “nghiên cứu dịch thuật”) lại được giới thiệu là sách giáo khoa cho sinh viên.
     
    Chúng ta cần nghiêm túc phê bình lại toàn bộ công trình dịch thuật này, dù rất công phu, nhưng sai thì phải sửa vì đây là học thuật. Nếu không chỉ ra sự sai nhầm, không lẽ toàn bộ trí thức nước nhà đều… “thôi đi gượm ơi” hay sao!
     
     
    Xem cách Trịnh Lữ trả lời ở www.sachhay.com/…/nhap-mon-nghien-cuu-dich-thuat-ly-thuyet-va-ung.aspx

  • Nhất Như says:

    Cám ơn tác giả Phạm Phú Đức về bài viết. Tiện đây cũng xin hồi đáp ý kiến phản hồi của Trần Thu Uyên rằng, những điều trong bài viết trên đây, theo ngu ý thì không có gì là quá cao siêu cả. Nó rất đỗi bình dị, tóm gọn hết thực trạng của đất nước hiện nay. Một học sinh trung học có “đầu óc bình thường”, có “kinh nghiệm sống” dưới mái trường XHCN sẽ hiểu được nó dễ dàng.

    @Nguyen Minh Vuong:ý kiến của anh rất hay, nhưng áp dụng nó vào thực tế thì không khả thi chút nào. Vì sao? Vì cách học kiểu Thiền Tông không thích hợp với căn cơ của đại chúng, nó chỉ dành cho những bậc tri thức thượng thừa, nói ít hiểu nhiều. Nếu áp dụng hàng loạt vào đại chúng thì thành ra chỗ máy móc, đi ngược lại với tinh thần “trực chỉ nhân tâm”.

    Trong khi đó, tư duy học thuật, giáo dục của người phương Tây rất rõ ràng rành mạch, là cái có thể áp dụng cho dại chúng dễ dàng. Mặc dù (có thể) có nhiều khuyết điểm so với phương pháp “trực chỉ nhân tâm” nhưng nó lại là nền tảng để chúng ta noi theo, để từ đó mới có thể lên mức độ cao hơn. Tình trạng VN hiện nay còn không theo kịp cái “mức dưới” (theo cách hiểu cá nhân từ comment của anh) là tư duy học thuật phương Tây thì làm sao có thể “trực chỉ nhân tâm” được. Nếu làm theo, ắt sẽ loạn.

  • Nguyen Minh Vuong says:

    Thực trạng giáo dục ở VN tồi tệ như thế nào thì ai ai cũng thấy rõ. Vạch ra những thiếu sót, sai lầm, bất cập thì không khó, nhưng khó ở chỗ là một khi đã thấy sai lầm rồi, ta phải sửa chữa làm sao và nếu có thay thế, thì ta phải lấy hệ thống nào để thay mới là vấn đề quan trọng. Bài viết của ông Phạm Phú Đức đã cho thấy tính cách gian lận trong học thuật của những nhà nghiên cứu có tiếng ở VN là một việc chính đáng. Nhưng ông đã dùng hệ thống giáo dục của Tây Phương, cụ thể là hệ thống của đại học Melbourne làm tiêu chuẩn để phê phán lối giáo dục VN lại là điều tôi cảm thấy nghi ngờ. Bởi giáo dục nếu chỉ giúp con người khai phá, phát minh ra kiến thức mới thì nền giáo dục đó mới chỉ thành công có một mặt. Nói theo Krishnamurti thì nếu chỉ thuần theo cái học Tây phương thì con người chúng ta giống như một vật thể ba chân với một cái chân dài hơn hai cái chân kia, và chúng ta đã bị mất thăng bằng. Có thể nói rằng, giáo dục phương tây đã biến con người thành một sinh vật đi bằng đầu, chứ không còn đi bằng hai chân nữa. Chính vì thế, dựa theo hệ thống giáo dục Phương Tây mà phê phán giáo dục VN thì lại vô tình đẩy chúng ta vào một thực trạng gian lận khác tinh vi hơn. Chỉ có kiểu giáo dục lấy kiến thức từ trong lòng mình ra, hay giáo dục theo kiểu trực chỉ nhân tâm, không dựa vào sách vở của Thiền tông mới giúp con người không gian lận. Không biết thiển ý này có đáng để bàn luận không?

  • Hoan nghênh ông Phạm Phú Đức đã viết bài này rất hay và cần thiết, nhưng bài của ông còn nhắm vào phương diện “cao cấp” quá. Ở những phương diện dễ quan sát hơn thì ai cũng thấy tình trạng học thuật ở VN hiện nay đã đến hồi phá sản. Giáo sư đại học chạy sô hội thảo, dùng một bài viết, xáo trộn, thay đổi đề bài để biến thành 4, 5 bài. Hiệu trưởng đại học ăn quỵt lương bổng của giảng viên. Tiến sĩ mua bán luận án cho nhau. Giáo sư đạo văn từ các bài luận văn của sinh viên. Giáo sư chủ nhiệm cưỡng ép tình dục sinh viên để tăng điểm thi. Các nhà nghiên cứu ghép các đoạn dịch từ sách nước ngoài để xuất bản thành sách của mình. Nói chung, có sống trong môi trường đại học ở VN mới biết là bản chất của đa số “giáo sư”, “tiến sĩ”, “hiệu trưởng”, là những con buôn đã đứt hết dây thần kinh xấu hổ.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)