trích dịch từ truyện của Alberto Ruy-Sánchez
Trong tập Những khu vườn huyền bí ở Mogador: Tiếng Gọi của Đất, Alberto Ruy-Sánchez đưa người đọc, một lần nữa, đến Mogador, tên cổ của thành phố Essaouira, nằm trên bờ biển phía tây của Morocco, một mê cung có tường cao bao bọc, có phố quẩn, chợ họp, nhà tắm thổ, và những khu vườn khuất mắt, quĩ tích cho những đam mê trong truyện của ông. Trong tác phẩm này, Ruy-Sánchez tra cứu về bản chất phức tạp của tình yêu lâu dài, đặc biệt là những thách thức hàng ngày tìm cách tái tạo cái thời khắc nhiệm mầu – lần đầu tiên tìm được thiên đường trên thân thể người tình. Truyện có bốn phần, mỗi phần có chín chương, kể lại qua một ngôn ngữ thơ đầy quyến dụ mà tác giả gọi là “văn cường tính” (prose of intensities). Trong phần nhất, người đọc biết được hai sự tình xảy đến một lúc trong đời sống của Hassiba, nhân vật chính trong truyện, khiến cô ta từ chối gặp người yêu sau bốn tháng yêu đương hạnh phúc: sự thay đổi về tâm lý và thể xác khi cô ta có thai, và nỗi buồn phiền sau cái chết của cha mình, Đại Uyển Gia thành phố Mogador. Không còn được vào khu vườn riêng tư nhất của Hassiba, người kể chuyện van nài, xin một cơ hội để chứng minh rằng hắn ta có thể thay đổi những vuốt ve mơn trớn của mình tùy theo đòi hỏi của người yêu. Cô ta đồng ý cho hắn vào ryad(1) riêng của nàng, với điều kiện: mỗi đêm hắn phải nói về một khu vườn huyền bí ở Mogador, mỗi vườn là một cống phẩm để bồi dưỡng cho đam mê và mong muốn. Với lòng tuyệt vọng tìm lại vùng thiên đường đã mất, hắn đóng vai một “Scheherezade(2) mới”, với một lời kể, để chờ đợi, một lần nữa, được sống gần với thân thể của người yêu.
————————
Trong một góc cổ ở Mogador, thành phố của vô số di dân, máu, giọng người và giấc mơ đan vào nhau trong một điệu múa không bờ không bến, lúc xưa có một khu phố người Hoa, nhỏ nhưng sầm uất, trong đó những khu vườn được tạo ra không bằng cây cỏ, nhưng bằng đá. Theo truyền thuyết, những phiến đá lạ này được đem về qua đường biển từ những xứ xa, nơi họ mua bán lụa là. Ngoài vẻ đẹp riêng, những phiến đá này còn được trời cho bọc một lớp rêu nhung đỏ, mọc nhanh. Cũng là lý do tại sao họ bảo rằng độ ẩm nơi đó giúp đá mọc lớn dần, cho đến khi chúng chạm đến trời cao, và chỉ có mây trời mới xoa dịu được chúng thôi.
Cũng cùng một góc phố hoang đường đó ở Mogador, rất gần những bức tường, giữa Cửa Đông và biển, có một khu vườn đầy ve, và một người mù làm vườn giúp chúng ca hát cả ngày không ngơi nghỉ. Nếu em đến thăm vườn vào buổi sáng, em sẽ thấy ông làm vườn mạnh tay nhổ hết tất cả những cây cỏ ông tìm gặp, kể cả những thứ đẹp và hiếm nhất. Điều đó lúc nào cũng làm phật lòng những ai thấy ông ta lần đầu, không biết rằng trong khu vườn này họ sẽ không tìm thấy lá thấy hoa trừ những gì đã bị ông ta ngắt đi và đặt vào những lồng nhỏ, làm thức ăn cho đàn ve của ông.
Ông làm vườn biết rõ những thứ cây cỏ nào mỗi con ve bé tí thích ăn, thứ nào có thể làm thấp xuống hoặc cao lên độ kêu của ve. Ông ta phân loại, đặt tên cho các loại hoa theo giá trị tiêu hóa của chúng, nghĩa là, theo tầm trình của âm sau khi được ve tiêu hóa, như thể lý do duy nhất cho sự hiện hữu của mỗi loại hoa chỉ là để hoán chuyển nó thành một bài ve hát tuyệt hay. “Hoa, cho bài hát, cũng giống như ấu trùng cho bướm. Một biến thái tuyệt đẹp,” ông ta vẫn thường nói thế với khách xem vườn.
Họ cũng ngạc nhiên với những cái hộp làm từ gỗ, ngà, hay xương, nơi ông ta giữ ve. Có cái rất đơn giản, nhưng không kém đẹp, chỉ làm từ những thanh rơm và có cửa kéo qua những lách gỗ nhỏ. Ông treo chúng trên cành như trái cây, những trái cây biết cất tiếng hát khi có người đến gần. Có cái chỉ là những bức tượng tí hon. Ông ta trang điểm chúng với gỗ hiếm, và viết bằng hoa văn tên ông đặt cho mỗi con ve, theo âm trình nó tạo được. Ông ta cũng khắc những tấm bảng hướng dẫn chỉ rõ vị trí của chúng trong khu vườn.
Đi trước ông, cha ông cũng đã làm thế, và ông nội của ông, và ông cố nội của ông. Một trăm năm trước ông cố nội của ông chăm sóc hai mươi lồng làm cảnh, như một vườn trái tuyệt thú. Con trai ông nhân số cây lên năm lần, rồi cháu nội ông được mười lần. Do đó, người làm vườn này thừa hưởng được một ngàn lồng ve và một gia tài nhỏ để gìn giữ chúng, cộng vào đó là một truyền thống gia đình, được tăng phần tinh tế bởi ba thế hệ trước ông, chưa kể đến bao nhiêu trăm năm nghệ thuật này đã được trau luyện ở Trung quốc. Hơn hai mươi lăm năm, người đàn ông này đã nuôi dưỡng vườn lớn mạnh lên, và bây giờ đã có được gần ba ngàn lồng, làm thành những ngã ngách mê trận, một mạng lưới tựa như mạng đường trong thành phố. Những ai không định hướng được qua những âm ve, sẽ có cơ hội bị lạc suốt đời trong khu vườn này. Có kêu réo cầu xin giúp đỡ cũng vô ích thôi, vì chỉ là một trong nhiều tiếng kêu réo như thế trong vườn.
Có nhiều thứ khác, ngoài thức ăn, có thể làm thay đổi giọng hát của ve. Một trong những thứ đó, tuy không thấy được, nhưng rất mạnh mẽ, là lòng mong muốn. Người làm vườn biết rằng nếu ông đặt một số lồng gần với những lồng khác, suốt cả đêm sẽ nghe được tiếng líu lo ve vãn đầy nhiệt tình. Và ông ta cũng biết nếu ông dời chúng xa ra, dần dần bài ve hát sẽ mang một âm điệu trầm, buồn. Khoảng cách là một hợp âm tưởng tượng của lòng mong muốn mà ông luôn dùng để hòa âm.
Bản tình ca của những sinh vật này nghe rất thương tâm và đầy kiên tính đến nỗi có một khoảng thời gian dài, những nhà thơ ở Mogador và những vùng lân cận đã so sánh nó với lòng đam mê trực cảm của một thân thể mong mỏi từ một thân thể khác. Ibn Hazm bảo rằng khi hai người đang yêu nhìn nhau nhưng không được gần nhau, “mọi con ve trong thân thể họ cồn cào đói với rạo rực.”
Aziz Al-Gazali viết rằng ở Mogador, ve đi tìm hơi ấm của lửa, đó là lý do tại sao chúng sống quẩn quanh nơi bếp núc, gần những lò làm bánh công cộng, hay gần những lò đun nước cho nhà tắm hơi, hammam, nơi chúng được trưng bày như một huy hiệu, khắc trên cổng vào. Chuyện cũng kể về một người đàn bà tên Fatma, “thấy giác quan mình tự nhiên nở rộ khi sự đòi hỏi thể xác bất ngờ bừng lên, có những con ve làm tổ dưới giường ngủ và ca hát như thể chúng đang sống giữa mùa xuân tươi mát hay mùa hạ hâm hấp nóng, dù rằng thật ra đó là những ngày đông buốt giá nhất.”
Mọi người ở Mogador dường như đồng ý rằng ve sẽ ca hát khác đi tùy theo mùa trong năm, và cũng có thể báo trước ngày chuyển mùa. Được tập luyện thuần thục, chúng có thể chính xác báo nhiệt độ trong ngày. Ông làm vườn, luôn làm việc siêng năng đến cùng, đã nuôi được một loại ve có thể đo nhiệt độ thân người. Nó nhỏ nhắn, có giọng hát yếu ớt, thấp nhưng với một rung động mãnh liệt. Họ gọi loại ve này “nụ cười của trăng.” Theo lời kể lại, người ta thấy rằng ve bắt đầu cất tiếng hát khi lòng khao khát giữa hai người tăng triển, và đương nhiên thân nhiệt họ cũng lên cao. Có người mang những con ve này khi đi gặp người yêu, giấu trong áo quần, gần sát với da, để cảm nhận được sự rung động của bài hát thay vì nghe đến nó.
Đó là lý do tại sao Ibn Hazm, trong quyển sách viết sau cuốn sổ tay thơ mộng về tình yêu Vòng đeo cổ của Bồ câu, có thêm vào một chương trong đó tác giả khuyên chúng ta, với lòng nhẫn nại và sự chờ đợi bền bỉ, hãy lục lọi tìm những con ve tang chứng này giữa hàng ngàn nếp gấp trong quần áo người mình yêu. Nữa, ông khuyên chúng ta tiếp tục tìm, qua những nếp gấp trong thân thể trần truồng của người yêu, có thể sẽ thấy trong đó cả ngàn “nụ cười của trăng.”
Trong khu vườn này ở Mogador, trước lúc mặt trời lên, khi chỉ mới một lớp sương mỏng rơi nhẹ trên những lồng ve, tích dần thành những hạt nặng, chúng ta có thể nghe được tiếng ve uống. Chúng ríu rít ẩm ướt, chúng hạnh phúc ồng ộc. Nếu chúng uống quá nhiều trước khi mặt trời lên, chúng sẽ phát ra một rung động kỳ lạ, không ý thức, như thể chúng đang bần bật run vì lạnh.
Có nhiều buổi chiều khi gió lặng, người làm vườn mù cố gắng đi vào giữa những đám mây muỗi, tụ lại trên bờ biển phía nam lúc hoàng hôn. Ông ta để yên cho muỗi chích, cho đến khi thân chúng chứa đầy máu, không còn bay nổi, ông ta bắt dễ dàng, đem về như một món ăn ngon quí cho vài con ve đắc ý. Đặc biệt là cho những con có màu sẫm, mập mạp, sau khi ăn chúng sẽ hát lên niềm vui sướng với những âm, trầm như tiếng chuông nặng.
Ông làm vườn nhận ra được mỗi con ve qua tiếng hát của nó. Ông ta biết rằng khoa học đã tìm ra nhiều phương cách hiệu quả hơn để phân loại chúng, nhưng ông chỉ quan tâm đến việc nhận ra qua tiếng gọi của chúng, một việc ông làm được với độ chính xác không ngờ. Ông khẳng định được 2633 loại âm khác nhau. Ông phải trừ bớt bốn âm từ danh sách này trong năm nay khi ông nhận biết ve không còn phát ra nó nữa, nhưng chính ông ta, hay nói đúng hơn là thân thể ông: khi ông bước vội, thở nặng trong những ngày nóng bức, vui sướng thở những hơi dài, thoải mái khi để tai lắng nghe sinh vật của ông, ông đã khó khăn nhai hết những lá những hoa ve ông không đụng đến mà ông lại không muốn bỏ phí.
Khi đêm xuống, một kẻ viết mướn mò mẫm tìm đến khu vườn tỏ ý muốn giúp đỡ, nếu ông muốn ghi lại những âm mới. Danh sách âm sẽ thêm được nhiều tên và mỗi lời miêu tả sẽ càng lúc càng chính xác hơn. Một thí dụ: bên cạnh Tiếng vọng của âm hạ trên lửa: âm 1327, có lời miêu tả đọc như sau: “Như nước bọt giữa răng; như một khát khao bất ngờ. Lập lại như thế trong quãng của mười âm hạ, mỗi quãng giống như nhau.”
Nhưng ông làm vườn chẳng bao giờ thỏa mãn với những miêu tả qua lời viết, thế nên ông nghĩ ra một cách ghi lại âm ve bằng những viên sỏi nhỏ, có nhiều hình dạng khác nhau, mà ông sắp trên một tấm phản dài. Mặc dù có người thấy cách dàn dựng sỏi đá này chả mang đến ích lợi gì, ông ta hoàn toàn tin tưởng rằng phương cách đó, tuy chỉ có mình ông ta hiểu được, cũng là một bản đồ trình, có thể sờ mó được, của những âm trong khu vườn của ông. Buổi tối, ông bắt gặp chính mình tự ngâm nga ra tiếng. Cũng có hơn một lần, nghe được tiếng mình hát lên đã giúp ông ta dời chuyển mấy cái lồng và tự đó, thay đổi bản tấu khúc từ lớp sỏi lạ lùng của ông.
Cảm nhận được cường độ của một số tiếng gọi nào đó trong vườn và lòng ông đầy ắp niềm tự hào với thành quả của mình, ông đưa một số âm ông tìm ra vào cái danh sách, dưới tên mình. Chúng chính là những sinh vật của ông. Và những câu chuyện ông hay kể lại về mỗi cái lồng ve, về cách nào ông bắt hay nuôi mỗi côn trùng, về đời sống và thói quen của những thú nuôi nhỏ bé, cũng có thể làm thích thú người nào có cơ may nghe được chuyện, như thể những truyền kỳ Cantebury(3), truyện Decameron(4) hay Đêm Ả Rập(5) đã có được cảm hứng từ cái khu vườn ve này.
Ông cũng tìm được cách kiểm soát nhiều trong số hàng trăm âm côn trùng này.Ông có thể khiến chúng sinh sôi nảy nở: một cách nào đó, ông có khả năng gieo giống được chúng. Ông thấy được niềm hạnh phúc lớn nhất khi ông nghe chúng phát triển, trưởng thành.
Đôi lúc ngay cả những gì người khác thấy bằng mắt và những gì ông ta chỉ sờ mó bằng tay trở thành một âm cho người đàn ông mù này, nếu có ai nghĩ đó là điều hết sức ngạc nhiên. Điều đó xảy ra qua nhiều ngã khác nhau nhưng đặc biệt là với một sinh vật đến được Mogador bằng đường thuyền, từ một thành phố có tường vây ở Guinea. Môt loài châu chấu lạ, đẹp, kiêu căng ngự trị trên khu vườn ông: đôi cánh – đẹp hơn, lộng lẫy hơn cả bướm Morpho(6) – có khổ lớn gấp hai thân hình nó. Đôi cánh có màu xanh lục, vàng và đỏ tía. Và tiếng rúc líu lo của con ve này mở ra một chuỗi ảnh hình, trong một cách nào đó chỉ có ông làm vườn nghe thấy được.
Với ông, mù từ lúc mới sinh, như cha ông và ông nội ông, không gian sẽ không hiện hữu nếu nó không tạo ra được âm thanh. Ngay chính ý tưởng về một khu vườn lặng im là một ý niệm ông không hề tưởng tượng đến. Những tiếng gọi trỗi mầm quanh ông, chúng nở hoa, kết thành vườn trái, dựng lên một hàng rào bao bọc, tạo nên những cảm nhận về khoảng cách và mật thiết, về chiều sâu và viễn cảnh vang vọng, về nét đẹp cảm được từ xa, và – đương nhiên – về sự mong muốn. Có lẽ đó là tại sao có người nói rằng ông làm vườn không có mù, ông chỉ nhắm mắt lại trong gần hết thời gian trong ngày, để có thể tạo ra cái cảm giác mình đang bước đi giữa những âm tiếng, những âm tiếng được gieo giống, nở hoa, và thu gặt.
Anh luôn luôn nhớ lại khu vườn đó, mỗi khi em chạm tay vào anh với mắt nhắm, và hơi thở em thăng trầm theo hơi thở anh. Khi trong đêm, tên anh đan cuộn vào tên em không sao tháo gỡ được. Khi chúng ta không còn biết chúng ta đã kể cho nhau nghe những gì, và sự trìu mến trôi theo những nguyên âm dài & chậm, những tiếng thở khát khao, những giọng rên ân ái, và những lời thầm thì khản giọng. Khi – ngay cả giữa những nếp gấp trong giấc mơ của em – anh tìm trong em những nụ cười phù du nhất của trăng. Khi anh nghĩ đến em, và nghe em như nghe một khu vườn tiếng gọi của riêng anh.
————————
(1) ryad: chữ Ả rập (= vườn)
(2) Scheherezade: Bà Hoàng trong thần thoại Ba tư, người kể lại Ngàn Lẻ Một Đêm.
(3) Canterbury Tales, tập truyện Geoffrey Chaucer, viết cuối thế kỷ 14
(4) Decameron, hơn 100 truyện của Giovanni Boccaccio, viết giữa thế kỷ 14
(5) Ngàn Lẻ Một Đêm, truyền kỳ Ả Rập, khoảng từ thế kỷ 9
(6) Bướm Morpho: một trong 80 loại bướm đẹp trong phái Morpho, http://en.wikipedia.org/wiki/Morpho
(chuyển ngữ từ bản dịch tiếng Anh “The Secret Gardens of Mogador: Voices of the Earth”, Rhonda Dahl Buchanan, White Pine Press, 2009)
VL
————————
Alberto Ruy-Sánchez
Sanh ở Thành phố Mễ tây cơ năm 1951, Alberto Ruy-Sánchez là tác giả nhiều tiểu thuyết, tập tiểu luận, tập thơ, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Ông được biết đến qua một loạt những truyện, đặt khung cảnh trong thành phố Mogador, ở Morocco (Ma rốc), về bản tính của dục vọng: Los nombres del aire (Tên của gió, 1987), En los labios del agua (Môi của nước, 1996 ), Los jardines secretos de Mogador: Voces de tierra (Những khu vườn huyền bí ở Mogador: Tiếng Gọi của đất, 2001), La mano del fuego:Un Kama Sutra involuntario (Bàn tay của lửa: Kinh Tình Yêu không tự ý, 2007). Năm 2005, Ruy-Sánchez viết một quyển đồng hành cho 4 tập về Mogador, mang tựa Nueve veces el asombro: Nueve veces nueve cosas que dicen de Mogador (Chín lần kỳ diệu: Chín lần chín điều để nói về Mogador). Từ năm 1988, Ruy-Sánchez là chủ bút một tạp chí hàng đầu ở Mỹ La tinh, Artes de México, nhận được hơn một trăm giải thưởng quốc tế. Thêm vào những vinh danh khác, ông cũng được Chính phủ Pháp tặng huy chương Officier de l’Ordre des Arts et des Lettre năm 2000.