Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Nghiên Cứu, Tôn Giáo Email bài này

Osho giữa lòng cuộc đời : một giới thiệu ngắn về Osho (1931-1990)

 

 

 

Osho là một đạo sư người Ấn độ.

Ông có tên khai sinh là Rajneesh Chandra Mohan Jain, sinh ngày 11/12/1931 tại làng Kuchwada, nơi ông bà ngoại của ông đang sống, thuộc bang Madhya Pradesh, Ấn độ.

Ông giác ngộ ngày 21/3/1953, nhưng không công bố.

Ông có bằng M.A Đại học Sagar với First Class Honors in Philosophy.

1957-1966: Ông là giáo sư triết học đại học và diễn giả cho đại chúng.

1962: Ông mở những trung tâm thiền định đầu tiên.

1962-1974 : Ông mở những trại thiền định .

1970-1985: Ông cho các tu sinh mặc áo màu đỏ và màu cam và đeo chuỗi hạt 108 hạt.

1970 – Ông đưa ra một định nghĩa mới về sannyas. Ông chống lại nghĩa cổ xưa sannyas là từ bỏ thế giới . Ông dùng theo nghĩa từ bỏ những hoàn cảnh thân phận thế giới trao cho bạn – tôn giáo của bạn, đẳng cấp xã hội của bạn, tôn giáo của bạn , sách thánh của bạn… Và “ sannyas nghĩa là thanh tịnh hoá hoàn toàn những gì áp đặt lên bạn và bạn sẽ khởi sự sống chính đời bạn – tươi mới, trẻ trung, thanh tịnh, không ô nhiễm” thế nên Sannyas là bản thệ lên đường đi vào trinh nguyên của bạn ( Sannyas is an initiation into your innocence).

Tôi dịch ý sannyas là “độc tự phi hành” (The flight of the Alone to the Alone; cũng là tên một tác phẩm của Osho — Độc tự phi hành tới Nhất chân pháp giới).

Tháng 5/1970 Ông đổi tên từ Acharya Shree Rajneesh, thành Bhagwan Shree Rajneenesh khi lần đầu tiên công bố Ông giác ngộ.

Ông nói ở Ấn độ, khi tôn kính, người ta không gọi tên, người ta gọi Acharya, chỉ có nghĩa là ‘the master’ (thầy). Thế nên suốt gần hai mươi năm, người ta gọi ông là “Acharya”.

Về tên mới bhagwan, Ông nói các đệ tử muốn gọi Ông bằng một tên mới để diễn tả tâm tình của họ đối với Ông, vì Ông rất quan trọng với họ, rất ý nghĩa tiêu biểu với họ, rất gần gũi với họ. Họ hỏi ý kiến Ông, Ông nói: Thật là tuyệt, bởi vì đó là từ rất có ý nghĩa với Ông : Ngài Cát Tường (They asked me, I said , “That’s perfectly good, because that’s a very meaningful word for me: the blessed one”).

Đại ý từ Sanskrit đó có nghĩa là li dục, cát tường, hữu đức, chính nghĩa, giải thoát,…. “The Blessed One” cũng có nghĩa theo Anh ngữ, là chấp thuận, tùy thuận, hỗ trợ.

Thuật ngữ Phật học, “The Blessed One” thường dịch là Đức Thế Tôn.

Ông cũng giải thích, từ đó đối với Ông, không có nghĩa God, không có nghĩa đấng sáng tạo – chỉ có nghĩa đấng cát tường – người đang ở nhà, đã về đến nhà; người đã tìm thấy, người đã gặp được chính mình (who has encounter himself). Đây cũng là ý thiền sư Viên Minh của Trung quốc – Ta về gặp lại tình ta / dấu chân viễn mộng chỉ là phù vân.

Ông nói, “Tất cả các bạn không thể là Van Gogh, tất cả các bạn không thể là đại thi hào, đại họa sĩ, nhưng tất cả các bạn đều là bhagwan. Cái đó không hiển thị một sự thành tựu; nó đơn giản hiển thị tính phổ quát của các bạn, bản chất chính của các bạn. Bạn là God rồi (God= Viên dung thân)” .

Khi Ông gọi Ông là bhagwan, nhiều đệ tử đã bỏ đi, Ông nói họ có bản ngã kiêu ngạo, họ chỉ muốn thu thập kiến thức, họ chỉ muốn Ông là acharya, họ bỏ đi cũng tốt. Ông cũng dùng tên này để chọc giận các đạo khác và đã buông bỏ sau một thời gian sử dụng. Ông giảng từ này có nghĩa gốc rất xấu, mà những người Ấn giáo không biết. Ông nói trò đùa đã qua rồi.

21/6/1979 sau mười ngày nhập thất, Ông giảng pháp thoại “Kinh Pháp cú. Con đường của Phật” sau in thành bộ 12 quyển. Ni sư Trí Hải tuyển dịch in thành 12 quyển. Ưu Đàm Canada xuất bản.

1974-1981 Ông mở đạo tràng tại Pune, Ấn độ .

Ngày 1/6/1981, Ông bay từ Bombay đến New York, với ban nhân viên nội dịch và y tế.

1981-1985:  Ông mở đạo tràng Rajneeshpuram tại The Big Muddy Ranch, Oregon, Hoa kì , có khoảng 5 ngàn người tu tập và nhiều ngàn người vãng lai. Việc mở đạo tràng này bị chống đối từ nhiều đoàn thể , tập hợp và các viên chức cao cấp trong chính quyền Reagan.

Khi tới Hoa kì, Ông đã tự giữ im lặng, không giảng đạo ba năm rưỡi, chỉ nói với ban nhân viên.

Tháng 10/1984: Ông chấm dứt thời kì tĩnh lặng và bắt đầu giảng đạo mỗi ngày.

14/9/1985:  Sheela, thư kí của Ông kiêm quản trị công trình xây dựng đạo tràng, cùng nhóm thân cận trốn chạy, bay sang Tây Đức. Sau đó, có nhiều tố cáo nhóm này vi phạm luật pháp Hoa kì.

Tháng 10/1985:  Ông và các phụ tá của Ông bị tố cáo đã vi phạm luật pháp Hoa kì . Cùng trong thời gian này, trong hoàn cảnh Vệ Binh Quốc Gia chuẩn bị tấn công vào đạo tràng,  Osho và sáu phụ tá đã bay đi Charlotte, North Carolina, để chờ các luật sư thương thuyết.

Tháng 28/10/1985: Nhân viên an ninh chĩa súng bắt Ông và sáu phụ tá, tại Charlotte, North Carolina, khi máy bay hạ cánh. Họ không có trát bắt giam, chỉ đưa ra một danh sách nghi phạm khủng bố nguy hiểm được faxed từ Oregon, mặc dù không có ai trong danh sách đó đi trong chuyến bay, nhưng Ông và cả nhóm bị giữ tại Charlotte. Phiên xử ba ngày sau cả nhóm được thả, nhưng thẩm phán ra lệnh Ông phải trở về Oregon để chờ phiên xử tại ngoại hầu tra.

Sau này Ông kể lại,

“Họ không đưa ra một trát lệnh bắt giữ nào cả và không đưa ra lí do bắt. Chỉ một mảnh giấy có ghi vài tên người – “Chúng tôi được lệnh rằng những người này phải bị bắt giữ ngay lập tức”. Tôi nói, “Nhưng ông nên nhìn vào các sổ thông hành của chúng tôi! Tên tôi không ở trên tờ giấy này; những tên của sáu người này với tôi cũng chẳng có trên tờ giấy này. Ông hoàn toàn là vô lí. Chỉ cần nhìn vào những sổ thông hành của chúng tôi và so sánh với những cái tên của ông; ông đang bắt lầm người.” Tuy thế, chúng tôi vẫn bị bắt.”

Ông bị giam và bị từ chối tại ngoại trong khi chờ toà xử , còn sáu người kia được thả. Ông đã bị đầu độc bằng chất kim loại nặng thallium nhiều lần với lượng nhỏ trong thời gian bị giam ở nhà tù Oklahoma County (bị bắt buộc ghi vào sổ tù với tên hư cấu David Washington mà họ nói để bảo vệ an toàn cho Ông) và tại Nhà tù trọng tội liên bang El Reno (El Reno Federal Penitentiary).

Ông bị áp giải 12 ngày, trên máy bay chở tù và qua 6 nhà tù ở Hoa kì. Theo lời khuyên của các luật sư, với lí do có những quan tâm đến an toàn của Ông trong tiến trình theo đuổi vụ kiện, Ông miễn cưỡng đồng ý plead “no contest” đối với hai cáo buộc là Ông đã tham dự vào việc giàn xếp các hôn nhân giả cho các đệ tử để ở cho họ ở lại Mĩ và Ông đã khai sai lạc ý định của Ông trên đơn đầu tiên xin nhập cảnh du lịch Hoa Kì (đến Mĩ để chữa bệnh). Khi họ thả Ông ra, họ ra lệnh Ông rời Hoa kì trong vòng 15 phút. Xe của Ông chờ ở cửa Toà án, và máy bay đang nổ máy chờ đưa Ông ra khỏi nước Mĩ. (Osho. Autobiography of a Spiritually Incorrect Mystic. St. Martin’S Griffin. New York, 2000, trang 259).

1985-1986. Ông du hành nói chuyện tại Nam Mĩ và châu Âu , nhưng bị nhiều nước từ chối không cho nhập cảnh.

1987. Ông trở lại đạo tràng tại Pune, Nay là Osho International Meditation Resort. Đạo tràng này có thời điểm có 60 ngàn người tu tập.

Trong buổi giảng pháp 6/7/1987, Ông thuật lại chuyện Ông bị bắt giam, chuyện các luật sư và câu chuyện Ông bị đầu độc trong thời gian bị giam giữ. Độc giả có thể đọc tại link này:

http://www.otoons.de/politics/osho_on_his_death.htm

Trong khoảng  tháng giêng đến tháng hai 1989: Ông chấm dứt dùng tên Bhagwan.

Ông bỏ các tên và chỉ giữ lại tên Rajneesh. Các đệ tử tặng Ông tên Osho, lấy từ các chuyện thiền. Ông vui vẻ nhận tên này. Ông nói tên Osho dẫn từ chữ “oceanic” của William James có nghĩa là tan biến vào trong đại hải. Oceanic diễn tả sự trải nghiệm, Ông nói, nhưng còn người trải nghiệm thì thế nào? Vì thế chúng ta dùng từ “Osho” (He says but what about the experiencer . For that we use the word “Osho”) . Sau đó Ông khám phá ra ở Viễn Đông trong lịch sử “Osho” có nghĩa là “The Blessed One, on whom the Sky Showers Flowers” — Đấng Thế Tôn nhận mưa hoa từ bầu trời..

Tháng giêng 1990, Osho yếu dần. Nhịp tim không đều. Y sĩ của Osho đề nghị sử dụng máy trợ tim. Nhưng Osho nói: “Không, cứ để tôi đi. Hiện hữu tồn sinh quyết định thời điểm của nó”. (No, just let me go. Existence decides its timing).

17/1/1990 tại thiền đường trong buổi thiền định tối, Osho chỉ xuất hiện để chào đại chúng và rút lui liền ngay sau đó.

18/1/1990 Osho ở trong phòng riêng gửi lời chào đại chúng trong buổi thiền định tối.

19/1/1990, 5pm, Osho từ trần.

Đến 7 giờ tối, thi hài của Osho được đưa tới Thính Đường Phật Cồ Đàm để làm lễ. Sau đó thi hài được đốt thành tro. Hai ngày sau, tro của Osho được an trú trong Thính Đường Trang Tử, nơi Osho đã ban pháp thoại và gặp gỡ các đệ tử trong nhiều năm. Tro của Osho nằm dưới nơi Osho nhập đại định, có ghi hàng chữ ghi lời của Osho:

Osho

Chưa bao giờ sinh
Chưa bao giờ chết
Chỉ đến thăm trái đất này giữa

11/12/1931- 19/1/1990

——————–

Các tác phẩm :

Các bản Anh : vài trăm bản

Các bản dịch Việt : khoảng 100

Các bản chính do Osho viết: chỉ vài bản,

1. Seeds Of Wisdom (Những Hạt Giống của Trí Tuệ), gồm 120 đoạn văn ngắn, viết gửi một đệ tử yêu quý, Ma Anandmayee, mà Ông tuyên bố trong một trại Thiền Định, là thân mẫu của Ông trong một đời trước.

2. A Cup of Tea, gồm 365 bài thơ , viết gửi các đệ tử và các bạn.

3. Path of Meditation

———————-

Các tác phẩm : tạm kể tên chín quyển

1. I am the gate. (Tôi là Vô Môn Quan ). Trong A Cup of Tea , Osho giảng “I Am the Gate. The gate means the emptiness.” Thế nên “I am the gate” cũng là gateless gate (vô môn quan). Bản dịch Việt của Minh Nguyệt. http://www.vietfreefun.com/forum/showthread.php?4969-Tâm-Vô-Sở-Đắc

2. The Great Challenge. Bản dịch Việt của Minh Nguyệt trên vietfreefun.com

3. Dhammapada: The Way of The Buddha.

4. The Book of Wisdom. The Heart of Tibetan Buddhism.

5. The Heart Sutra.

6. The Diamond Sutra

7. The Buddha Said

8. The Book of Secrets

9. Krishna, The Man and His Philosophy.

Vài trăm sách của Osho chỉ là những pháp thoại Osho nói trong 30 năm và được ghi âm và in thành sách. Các CD cho thấy các sách ghi đúng từng chữ, từng câu, ông đã nói. Sách không bị thay đổi, không bị viết lại.

————————————

Vài trích dẫn Osho

1. Giáo lí căn bản

“Phải chăng ý thức tỉnh giác là giáo lí căn bản của thầy?

“Tôi không có giáo lí căn bản nào; tôi tuyệt đối không phải là một bậc thầy, mà chỉ là một sự hiện diện. Bạn có thể học hỏi, nhưng tôi không có dạy gì. Bạn có thể thấm nhuần tinh thần tôi, nhưng nội dung cái tinh thần ấy hoàn toàn tùy thuộc nơi bạn.

Nếu có người cần ý thức tỉnh giác để tăng trưởng, họ sẽ học từ nơi tôi ý thức tỉnh giác. Có người cần yêu thương, họ sẽ học yêu thương. Tôi có nhiều chiều hướng nên có thể thu hút đủ mọi hạng người.

Nhân loại đang đi đến ngã tư đường. Từ bao thế kỉ, chúng ta chỉ sống đời sống của con người một chiều; bây giờ cần một nhân loạii mới mẻ đa phương gồm ba chữ C là Consciousness (ý thức) , Compassion (xót thương) và Creativity (sáng tạo).

Ý thức tỉnh giác là cốt lõi bản thể, là sự sống; xót thương hay tâm đại bi thuộc về cảm tính; sáng tạo thuộc hành động. Chúng ta phải đầy thiền định như đức Phật, phải đầy yêu thương như Krishna, phải đầy sáng tạo như Michelangelo, Leonardo da Vinci. Cùng lúc chúng ta phải là cả ba thì mới là con người toàn vẹn. Con người một chiều đã thất bại vì đã không tạo được thiên đàng trên trái đất, chỉ tạo ra một số rất ít người kì tuyệt đã tỉnh thức nhưng không thể chuyển hoá nhân loại, không nâng cao ý thức con người.

Chúng ta cần nhiều con người giác ngộ hơn nữa, và giác ngộ trong cả ba chiều hướng: tỉnh thức, yêu thương và sáng tạo.”

(Osho . Con đường của Phật. Thích Nữ Trí Hải tuyển dịch.Quyển10, trang 173)

2. Bạn là cả hai, khi chưa tỉnh giác

“Ở trung tâm bạn là một vị phật rồi, một người đã về đến nhà. Ở ngoại biên, bạn ở trong thế giới – trong tâm, trong những chiêm bao, trong những mong cầu, trong những xao xuyến, trong một ngàn lẻ một những tương tác theo duyên khởi (1001 games). Bạn là cả hai.

Theo giòng chảy tự nhiên có những sát na bạn sẽ thấy rằng bạn có vài sát na như một vị phật – cũng cùng một lòng yêu thương, cũng cùng tỉnh giác, cũng cùng tĩnh lặng; cũng cùng một thế giới của đại lạc linh thánh ( the same grace), của chấp thuận, tùy thuận và hỗ trợ (the same blessing), của lòng đem lại an ổn không sợ hãi (the same benediction).

Sẽ có những sát na, những sơ ngộ của trung tâm của chính bạn – Chúng không thể là thường hằng; bạn lại bị quẳng trở lại ra ngoại biên, lần nữa và lần nữa. Và bạn sẽ cảm thấy bạn ngu si, buồn thảm, thất vọng; đánh mất ý nghĩa của đời sống — bởi vì bạn hiện hữu trên hai bình diện, bình diện của ngoại biên và bình diện của trung tâm.” (ĐHP dịch, trích từ Osho. Awareness.p.187)

[Độc giả thân mến, Phật Quang Đại Từ Điển, Thích Quảng Độ dịch, in năm 2000, 7374 trang + quyển Mục lục , ghi :

Si , theo Ngài Vô Trước ( Asanga) trong Du già sư địa luận , quyển 86, Si còn có các tên gọi khác nữa là: Vô trí, Vô kiến, Phi hiện quán, Hôn muội, Vô minh, Ngu si, Hắc ám.

Bạn cứ đối chiếu những điều trông thấy ở Việt Nam hiện nay thì thấy giá trị của các từ đồng nghĩa Ngài Vô Trước giảng, đặc biệt là Hôn muội, Hắc ám]

3. Nhắm mắt chiêm bao, mở mắt chiêm bao: thật chứng như thị là giải thoát.

THAM DỰ VIÊN ĐÃ CHỈ HOÀN TOÀN LÀ MỘT PHÓNG CHIẾU

Tôi mới thức tỉnh từ một giấc chiêm bao. Lúc thức tỉnh, một sự thật đã được nhìn thấy: trong giấc chiêm bao tôi đã là một tham dự viên và cũng là sự giác chiếu (=chủ thể chiếu soi; sự chiếu soi; linh tâm tự chiếu). Suốt lúc tôi ở trong chiêm bao sự giác chiếu đã bị bỏ quên, chỉ tham dự viên tiếp tục ở đó. Nay tôi thức tỉnh tôi thấy rằng chỉ sự giác chiếu đã ở đó, tham dự viên đã hoàn toàn chỉ là một phóng chiếu.

Chiêm bao và thế giới cả hai đều giống nhau. Sự giác chiếu, tâm thức đơn biệt, là sự thật; tất cả các cái khác là tưởng tượng. Cái mà chúng ta nhận biết như là “tôi” thì không thật; chỉ cái nó nhận biết “tôi”này là thật.

Sự giác chiếu vạn hữu thì độc lập với vạn hữu và vượt ngoài vạn hữu. Nó chẳng làm bất cứ gì cả, cũng chẳng có cái gì làm ảnh hưởng đổi thay đến nó – nó chỉ là (=nó như thị; = nó như như ).

Khi cái bất thực “tôi” – cái chiêm bao “ tôi” – chấm dứt hiện hữu, lúc đó như thị hiển hiện. Thật chứng như thị là giải thoát.

(Thư 116. Những Hạt Giống của Trí tuệ)

The Participant was Just a Projection.

I just awakened from a dream. On awakening, one truth was seen: in the dream I was a participant as well as a watcher. As long as I had been in the dream the watcher was forgotten, only the participant remained. Now that I am awake I see that only the watcher was there, the participant was just a projection.

The dream and the world are both alike. The watcher, the consciousness alone, is the truth; all else is imaginary. What we have known as “I” is not real; only the one who knows this “I” is real.

The watcher of everything is independent of all and is beyond all. Neither has it ever done anything, nor has anything happened to it – it only is.

When the unreal “I” – the dream “I” ceases to exist, then that which is manifests. To realize this is liberation.

(Osho. Seeds of Wisdom. Letter 116.)

(watcher: chủ thể chiếu soi; sự giác chiếu)

4. “Tại sao thế giới có nhiều tôn giáo đến thế?

“Nadesh, tại sao có nhiều ngôn ngữ trên thế giới? Vì có quá nhiều người, quá nhiều cách diễn đạt. Và điều ấy không sao, lại càng tốt. Nhờ vậy mà thế giới phong phú hơn. Nó đem lại đa dạng, như trăm hoa đua nở trong vườn hoa, như chim chóc có nhiều giống loại….

Theo tôi, thế giới không nên chỉ có một tôn giáo. Thế giới cần tâm thức tôn giáo, rồi tâm thức ấy sẽ tuôn chảy vào mọi dòng, càng nhiều dòng càng tốt. Sự thực là trên thế giới có bao nhiêu người thì nên có bấy nhiêu tôn giáo, đấy là ý kiến của tôi. Mỗi người nên có một tôn giáo riêng.

Thực khó mà có một ngôn ngữ riêng cho mỗi người, vì người khác sẽ không hiểu được. Nhưng về tôn giáo, thì bạn có thể có riêng, vì tôn giáo không cần phải tương giao với người khác.

Tôn giáo không phải là cuộc đối thoại giữa bạn và người khác, mà là đối thoại giữa bạn và cuộc đời. Vậy thì muốn dùng ngôn ngữ nào cũng được, không có ngôn ngữ cũng được, hoặc đặt ra một ngôn ngữ nào đó như Esperanto chẳng hạn…

Mọi tôn giáo cần phải được xem như là những ngôn ngữ khác nhau, sự cuồng tín sẽ mất hết tính nguy hiểm của nó. Thế thì thực tuyệt…”

(Osho. Con đường của Phật .TN Trí Hải. Quyển 3 , trang 177)

5. Osho giảng Bồ tát, con đường của Phật

“Hỡi những bồ tát yêu mến của tôi! Tôi xem các bạn đều là bồ tát; và các bạn cũng nên tự xem mình như thế. Bồ tát là một vị phật tiềm tàng, đang còn trong hạt giống, một vị phật đang còn ngủ, nhưng có tất cả khả năng để thức dậy. Theo nghĩa ấy thì ai cũng là bồ tát, nhưng chỉ những người nào khao khát, bắt đầu sờ soạng đi tìm ánh sáng bình minh, thì mới có tên gọi ấy, không phải tất cả mọi người. Nơi những người ấy hạt giống không còn là hạt giống mà đã nẩy thành mầm mộng, khởi sự vươn lên.

Các bạn là bồ tát do lòng khát khao tỉnh thức, khát khao tìm chân lí. Chân lí không xa, nhưng trên đời chỉ có một số ít người may mắn biết khát khao chân lí. Chân lí không xa nhưng khó đạt, con đường đạt đến nó thực gian nan không phải vì bản chất nó, mà vì ta đã đầu tư quá nhiều cho giả dối…

Bạn đã khởi hành cuộc liều ấy, đã đi được vài bước mặc dù chập chững, sờ soạng, đầy hoài nghi, nhưng ít ra cũng đã bước đi, bởi thế mà tôi gọi bạn là bồ tát”.

(Con Đường của Phật. Osho. Thích Nữ Trí Hải tuyển dịch . Ưu Đàm . Bộ 12 quyển. Trang 5 quyển 1)—

[Nxb Ưu Đàm E-mail: ptnhu@yahoo.com]

6. Osho giảng: Thiền định và Bờ này, Bờ kia

Vượt qua bờ bên này
Và qua cả bờ kia
Ngoài bờ này bờ kia
Nơi không có đầu mối
Và cũng không chấm dứt

Đây là ý nghĩa của vượt qua khỏi cả bờ bên kia – khi bản ngã, tâm thức, tất cả đều chấm dứt, tan biến vào cái phổ quát nhiệm màu.

Khi vượt qua cả bờ này lẫn bờ kia, không gì còn lại, thì cũng đừng mang theo cái không ấy.

Đừng sợ, hãy ra đi
Hãy luôn luôn thiền định

Thiền định ở đây là ngắm nhìn, quán chiếu những dục vọng trong bạn, hiểu rõ thực chất của chúng… rồi để chúng tự rơi rụng như lá khô lìa cành vào mùa thu.

Sống trong sạch an tịnh”

(Con đường của Phật. Osho. Thích Nữ Trí Hải tuyển dịch)

7. Osho nói về God , nói về Thiền

Trích pháp thoại “Talks On The Isha Upanishad – I AM THAT” (1981)–bản in 2008.

7.1. Để trả lời câu hỏi “What is god?” (trang 25),

Osho nói: “God is a presence, not a person… Dialogue is possible only between two persons, and God is not a person but a presence – like beauty, like joy. God simply means godliness.”

“God là sự hiện diện, không phải là một người. Đối thoại thì khả hữu chỉ hai người, và god không là một người nhưng là sự hiện diện – cũng như đẹp, cũng như vui. God đơn giản nghĩa là viên dung”.

7.2. Osho nói về thiền: ( trang 27-28 ):

“Thiền có hai phần: khởi đầu và kết thúc. Phần khởi đầu được gọi là dhyana (thiền) và phần kết thúc được gọi là Samadhi (tam-ma-địa, tam-ma-đề, đại-định). Thiền là hạt giống, tam-ma-địa là sự nở hoa. Thiền nghĩa là trở thành nhận biết sáng tỏ (= viên minh) với tất cả công trình (workings: tiến trình tạo tác) của tâm bạn, tất cả các lớp tầng của tâm bạn – ký ức của bạn, những tham ái của bạn, các niệm tưởng, các giấc mơ của bạn – trở thành viên minh về tất cả các thứ diễn tiến bên trong bạn.

Meditation has two parts: the beginning and the end.The beginning is called dhyana and the end called samadhi. Dhyana is the seed, samadhi is the flowering. Dhyana means becoming aware of all workings of your mind, all the layers of your mind—your memories, your desires, your thoughts, dreams—becoming of all that goes on inside you.

Thiền là viên minh (awareness) và tam-ma-địa là khi viên minh đã trở thành thâm sâu hết sức, tinh yếu hết sức, toàn thể hết sức nên viên minh giống như một ngọn lửa cháy (tam muội hỏa – ĐHP) đốt trọn mất toàn thể tâm và tất cả các tiến trình chức năng của tâm (=tư duy, phân biệt – ĐHP). Nó đốt trọn mất tất cả các các niệm tưởng, các tham ái, các tác ý, các hy vọng, các giấc mơ. Nó đốt trọn mất toàn thể các thứ mà tâm tích tập tràn đầy.”

Dhyana is awareness, and samadhi is when the awarenesshas become so deep, so profound, so total that it is like a fire and it consumes the whole mind and all its functioning. It consumes thoughts, desires, ambitions, hopes, dreams. It consumes the whole stuff the mind is full of.

Samadhi là trạng thái viên minh có đó, nhưng không có cái gì (= chủ thể) đang viên minh ở trong bạn; sự chiếu soi (witnessing= Bản kiến) có đó, nhưng không có cái gì được chiếu soi.

Samadhi is the state when awareness is there, but there is nothing to be aware inside you; the witness is there, but there is nothing to be witnessed.

8. Osho và Sartre nói về đam mê

J.P. Sartre viết trong “Hiện sinh một nhân bản thuyết”, Bùi Giáng dịch:

Chúng ta cô độc lạc loài, và không có bào chữa. Đó là điều tôi muốn diễn tả, khi nói rằng con người ta chịu đày đọa trong tự do. Đày đọa bởi vì con người không tự ý tạo ra thân mình, và mặt khác lại tự do, bởi vì một khi đã bị vất vào giữa đời sống, thì con người phải chịu trách nhiệm mọi hành động của mình. Thuyết Hiện Sinh không tin ở quyền lực của đam mê lộng lẫy là một nguồn thác tơi bời lôi cuốn mãnh liệt con người, đẩy con người vào những hành động dữ dội không cách gì cưỡng nổi, và như vậy đam mê là một bào chữa. Không. Thuyết Hiện Sinh nghĩ rằng con người ta chịu trách nhiệm mọi đam mê say đắm cuả mình …

Osho giảng về Đam mê (passion ) và Đại bi (compassion)

(Osho. Compassion. The Ultimate Flowering of Love. 1985- bản in 2007):

“Chúng ta biết đam mê là gì ; từ đó đại bi là gì, chắc không phải là điều rất khó hiểu. Đam mê chính là một trạng thái cuả cơn sốt sinh học – nó thì cuồng nhiệt, bạn gần như bị chiếm hữu bởi những năng lượng có tính sinh học, không ý thức. Bạn không còn là người chủ của chính bạn, bạn tuyệt đối là một kẻ nô lệ.

Đại bi chính là bạn vượt trên sinh học, bạn vượt trên sinh lí học. Bạn không còn là một nô lệ, bạn trở thành ông chủ. Giờ đây bạn hành vận có ý thức. Bạn không bị sai sử, lôi kéo, thúc đẩy bởi những lực vô thức; bạn có thể quyết định những gì bạn muốn làm với những năng lượng cuả bạn. Bạn tự do hoàn toàn. Lúc đó chính cái năng lượng trở thành đam mê được biến hoá thành đại bi.

Đam mê là khao khát, mê say; đại bi là thương yêu quý mến. Đam mê là lòng dục (tham), đại bi là vô dục (vô tham). Đam mê muốn sử dụng người khác như một phương tiện, Đại bi tôn trọng người khác như một cứu cánh nơi chính mình. Đam mê tiếp tục trói buộc bạn vào mặt đất, vào bùn nhơ, và bạn chẳng bao giờ trở thành một đoá sen. Đại bi làm bạn trở thành một đoá sen. Bạn bắt đầu vượt lên trên thế giới bùn lầy cuả dục vọng, tham lam, sân hận. Đại bi là một sự biến hoá cuả các năng lượng cuả bạn …

Bạn trở thành một sự tùy thuận, chấp thuận và hỗ trợ cho chính bạn và toàn thể tồn tại. Đó là đại bi”.

9. Osho nói về ý nghĩa đời sống

“Đời sống tự nó không có ý nghĩa. Đời sống là một cơ hội để sáng tạo ý nghĩa. Ý nghĩa không phải được khám phá ra: nó phải được sáng tạo. Bạn sẽ tìm thấy ý nghĩa chỉ nếu sáng tạo nó…

Hàng triệu người đang sống những cuộc đời không ý nghĩa bởi vì chính cái ý tưởng hoàn toàn ngu ngốc này cho rằng ý nghĩa phải được khám phá ra. Như là nó đã ở đó rồi. Tất cả cái bạn cần là chỉ kéo tấm màn che, và nắm lấy! Ý nghĩa đang ở đây. Nó không giống như thế…Và thật là tốt khi ý nghĩa không nằm ở đó nơi nào đó, nói khác đi một người sẽ có thể khám phá ra nó – lúc đó có gì là nhu cầu cho mỗi người khác khám phá ra nó?”

(Osho. Creativity. p181)

10. Tôi là ai ?

Chúng ta, mỗi người đều là Tâm thức, đều là Tự do

(Trích từ– Osho — I AM THE GATE (1972, in lại 2008 , trang 4-16)):

Osho yêu quý
Tôi mong Ngài thứ lỗi về việc hỏi Ngài những câu hỏi rất cá nhân.
Tôi hỏi chỉ bởi vì tôi cảm thấy đây là những câu hỏi đang rực cháy trong lòng nhiều người.
Ngài là ai? Tại sao Ngài đến thế giới này? Công việc của Ngài ở đây là gì, và công việc cuả Ngài sẽ được viên thành như thế nào?

Những câu hỏi này có tính cá nhân hoặc không thì nó không tạo ra sai biệt bởi vì đối với tôi cá nhân không hiện hữu (because to me the person does not exist). Bạn không thể hỏi bất kỳ những câu hỏi cá nhân nào bởi vì không có ai để được quan liên như là một cá nhân (as a person). Thật ra không phải là bạo-dạn liều-lĩnh khi hỏi những câu hỏi cá nhân, nhưng đinh ninh rằng một cá nhân đang hiện hữu thì chắc chắn là bạo-dạn liều-lĩnh (but to assume that a person is iscertainly presumptuous). Cá nhân thì không hiện hữu, một bất-thực-thể (The person is nonexistent, a nonentity) . Thực ra không có một cá nhân nào cả, hoặc chỉ có Sở-lưu thân. (In fact , there is no person, or there is only one person). Chỉ có Viên dung thân (= God) có thể được nói có một nhân cách (= personality= tính cách của một cá nhân), bởi vì chỉ Viên dung thân có thể có một tâm điểm. Chúng ta không có những tâm điểm nào hết.

Tâm điểm thì không hiện hữu, nhưng chúng ta đinh ninh là có một tâm điểm. Tâm điểm thì là giả thuyết, hư huyễn. Chúng ta cảm thấy nếu không có một tâm điểm thì đời sống không thể có được. Sự vụ này đã tạo đinh ninh tâm điểm là cá biệt ngã (= the ego).

Bạn có thể nghĩ là câu hỏi này là thuộc về cá nhân. Từ bao xa đi nữa câu hỏi này được nhắm hướng tới tôi, nó thì được nhắm hướng đến một bất-thực thể. Bao xa như tôi được quan tâm tới, tôi không cảm thấy một chút nào là một cá nhân (As far as I am concerned, I do not feel at all to be a person). Người ta càng đi sâu, người ta là, càng giảm đi (The deeper one goes the lesser one is). Và từ thời điểm mà một ai đó tới được cái tinh yếu tối hậu của chính họ, chẳng có cá biệt ngã chi cả (And once someone reaches to the ultimate core of himself, there is no self at all) .

Hai là, bạn hỏi, tôi là ai  Tôi nói, ‘Tôi không là’ (Secondly, you ask, who am I? I say, “I am not”).  Tôi luôn luôn yêu cầu những người cầu đạo hãy hỏi “Tôi là ai?” không phải để họ sẽ nhận biết sáng tỏ họ là ai, nhưng chỉ để một thời điểm sẽ đến khi mà câu hỏi được hỏi một cách kịch liệt gắt gao mà người hỏi không còn nữa, chỉ còn lại câu hỏi. Một thời điểm buộc phải đến khi mà câu hỏi hoàn toàn kịch liệt gắt gao, càng sâu thẳm lúc đó sự vô lý của nó được vén mở. Bạn tỉnh táo nhận biết sáng tỏ rằng không có một ai là người để có thể hỏi ‘Tôi là ai?’ hoặc ai là người để có thể được hỏi.

‘Bạn là ai’. Câu hỏi được hỏi không để có câu trả lời, nhưng để vượt trên câu hỏi.

Không có một ai ở bên trong; thật ra, không có gì là bên trong và thời điểm bên trong sụp đổ, thì cũng không có bên ngoài. Thời điểm bạn không là, về bên trong, lúc đó không có sự-sự bên ngoài. Lúc đó tồn tại là nhất thể, không được chia thành nhị nguyên đối đãi của tôi bạn.

Thế nên đối với tôi, câu hỏi “Ngài là ai” chẳng có nghĩa lý gì cả. Đúng đắn hơn, “Là Gì?” là câu hỏi duy nhất có quan liên – không ai ? nhưng gì ? bởi vì cái gì? có thể là toàn thể. Điều đó có thể được hỏi về toàn thể, về tất cả cái hiện hữu (It can be asked about the totality, about all that exists).

Câu hỏi “ à Cái Gì” thì có tính liên quan đến hiện hữu, và không có tính lưỡng biệt quan trọng trong nó, nó không làm ra phân cách. Nhưng câu hỏi “Ai?” làm ra phân cách ngay từ chính khởi đầu. Nó chấp thuận tính nhị nguyên đối đãi, tính vạn thù sai biệt, tính nhị nguyên đối đãi của những hữu tình (beings).

Chỉ có hữu tình (being), không có những hữu tình (beings).

Khi tôi nói chỉ có hữu tình (being) điều đó nghĩa là chỉ có trạng thái hữu tình (beingness), bởi vì cái một (one) không thể hiện hữu mà không có cái khác (the other). Nếu không có cái khác (the other), lúc đó nói rằng cái một (one) hiện hữu là vô nghĩa.

Thế nên thực ra không có hữu tình (being), nhưng chỉ có trạng thái hữu tình (beingness)…

Secondly, you ask, who am I ? I say “I am not”…So to me, the question “Who are you ?” makes no sense at all. Rather , “ What is?” is the only relevant question—not Who? But What? Because the What can be the whole. It can be asked about the totality , about all that exists.

The question “What is?” is existential, and there is no dichotomy in it, it does not divide. But the question “Who?” divides from the very start. It accepts the duality, the multiplicity, the duality of beings.

There is only being, not beings.

When I say there is only being it means there is only beingness, because one cannot exist apart from the other. If there is no other, then to say that one exists is meaningless.

So there is not really being, but beingness….

Thế nên khi bạn hỏi, “Ông là Ai?”, tôi nói, “Tôi là tâm thức”. Và câu trả lời này thì bao hàm tất cả — mọi thứ đều là tâm thức. Tôi trả lời chỉ như là một đại diện cho tất cả. Bạn có thể không nghe nói rằng bạn là tâm thức, bạn có thể không biết rằng bạn là tâm thức, nhưng tôi đang trả lời ngay cả cho bạn. Tâm thức hiện hữu, và khi tôi nói một cái gì hiện hữu, nghĩa là nó sẽ chẳng bao giờ ở trong trạng thái không hiện hữu. Nếu một cái gì đó có thể đi vào không hiện hữu, điều đó nghĩa là nó chẳng bao giờ thật sự hiện hữu. Nó đã chỉ có tính hiện tượng, nó chỉ đã hiện tướng hiện hữu…

So when you ask, “Who are you?” I say , “I am consciousness”. And this answer is all inclusive—everything is consciousness. I answer only as a representative of all. You may not have heard that you are consciousness, you may not have known that you are consciousness, but I am answering even for you. Consciousness exists, and when I say something exists, it means that it will never be in nonexistence. If something can go into nonexistence, it would mean that it never really existed. It was only phenomenal, it just appeared to exist….

Thế nên tôi có thể kết luận rằng khi tôi nói “tôi”, thì bao hàm cả mọi người. Tôi là tâm thức, và tôi là tự do. Tôi dùng hai từ “tâm thức” và “tự do”, chỉ để làm cho những điều bất khả tư nghị bạn có thể hiểu nhiều hơn. Nói khác đi, cả hai có cùng một nghĩa. Tâm thức là tự do, tự do là tâm thức….

Tôi biết rằng bạn là tâm thức tự nó, không phải là một hữu tình có tâm thức. Tâm thức không phải là một tính đức (phẩm tính) được gắn kèm vào bạn. Bạn là tự do một cách toàn thể.

So I may conclude that when I say “I”, everyone is included. I am consciousness, and I am freedom. I use two words, “consciousness and “freedom”, only to make the mystery more understandable for you. Otherwise both have the same meaning. Consciousness is freedom , freedom is consciousness…

I know that you are consciousness itself, not the consciousness being. Consciousness is not a quality attached to you, you are consciousness.You are totally free.

———————–

Đạo Sư Osho mở đạo tràng, có các đệ tử từ nhiều nơi trên thế giới đến tu học thiền định và nghe giảng pháp mỗi ngày. Osho cũng giảng những điều như Đức Phật đã giảng: hữu tâm, vô tâm, tâm thức, tự do, vô ngã, phật tính, thiền định, niết bàn, giải thoát, chân như, duyên khởi, tính không, trung đạo , như huyễn, tuệ tri chính mình…nhưng với ngôn ngữ, văn hoá và tâm cảnh thời hiện đại.

Osho cũng nói những gì Ông nói các bạn thấy hợp với chân lí thì các bạn theo, những gì không hợp với chân lí thì các bạn bỏ chúng đi. Người viết bài này, vốn là học thiệt thứ giả, không phải học giả thứ thiệt, nên không dám viết giới thiệu về các pháp thiền Đạo sư Osho đã giảng dạy truyền bá.

Osho cũng dạy rằng chúng ta mỗi người không nên quan tâm “tôi sẽ được giải thoát hay không” mà nên quan tâm “giải thoát cách tuyệt cái tôi”.

Osho cũng xiển dương bồ tát đạo “Hỡi những bồ tát yêu mến của tôi! Tôi xem các bạn đều là bồ tát và các bạn cũng nên tự xem mình như thế”.

“ Chỉ có bồ tát là cái tối thiểu mới thoả lòng các bạn”. Và cũng giảng chúng ta, mỗi người đều chỉ là tâm thức, như đức Phật đã giảng hai ngàn năm trăm trước.

Trong giòng cuối, xin gửi tới độc giả hai bài tụng của Bồ tát Long Thọ trong Ca tụng pháp giới:

Giác chẳng xa, chẳng gần,
Và chẳng đến, chẳng đi
Trú: được thấy, không thấy,
Trong mù sương phiền não (49)
Thật chứng trí bát nhã
Đạt vô thượng tịch tĩnh

Thế nên kinh tạng nói:
Trú: tuệ tri chính mình (50)

(Enlightenment is neither far nor near
And neither does it come nor go
It’s whether it is seen or not
Right in the midst of our afflictions. (49)
By dwelling in the lamp of prajna
It turns into peace supreme

So the collection of sutras says:
“By exploring your self, you should rest ! ”. (50))

( Nagarjuna. In Praise of Dharmadhatu. Commentary by Karmapa the third. Translated & Introduced by Karl Brunnholzl. 2007).

Mong rằng tất cả “ta về gặp lại tình ta, dấu chân viễn mộng chỉ là phù vân” (Thiền sư Viên Minh) và “đang ở trong căn nhà hữu danh, mà lại sống nơi quê hương tuyệt ngôn, tịch chiếu trống rỗng” (Đại sư Tăng Triệu).

——————

Phụ bản

Để có thể hiểu được ý nghĩa lời Osho ghi ở mộ phần :

Osho
Chưa bao giờ sinh
Chưa bao giờ chết
Chỉ đến thăm trái đất này giữa 11 tháng 12 năm 1931 – đến  19 tháng Giêng năm 1990

Xin nhớ đến lời Đại sư Tăng Triệu (374 hoặc 378 – 414 ) (tịch lúc 27 hoặc 31 tuổi) trong Triệu luận, phần Tông Bản Nghĩa:

“Bổn vô, Thật tướng, Pháp tánh, Tánh không, Duyên hội, năm danh từ trên vốn chỉ có một nghĩa.

Để vạch ra tông chỉ chánh pháp là căn bản của bổn Luận, hai chữ BỔN VÔ chỉ ngay tâm tịch diệt vốn không một pháp, lià tất cả tướng, dứt bặt Thánh phàm, nên gọi là BỔN VÔ, chẳng phải có ý làm thành vô ( có nghĩa là chẳng phải từ hữu lần biến thành vô, vì BỔN VÔ này nó vượt ngoài cái có và không tương đối).

Vì tất cả pháp đều do vọng tâm tùy duyên biến hiện mà có, tâm vốn vô sanh, chỉ do nhân duyên hội hợp mà sanh nên gọi là DUYÊN HỘI.

Vì duyên sanh ra các pháp, vốn không có thật thể, do nhân duyên sanh ra nên nói không, nên gọi là TÁNH KHÔNG, vì pháp thể là chơn như biến hiện nên gọi là PHÁP TÁNH.

Do chơn như pháp tánh mà thành các pháp, chơn như không có tướng, nên bản thể các pháp tịch diệt, nên gọi là THẬT TƯỚNG.

Vì bổn vô là thể của tâm, duyên hội là dụng của tâm, thật tướng , pháp tánh , tánh không, đều là cái nghĩa do tâm tạo thành vạn pháp nên nói là một nghĩa vậy…

Tất cả các pháp đều do nhân duyên hội hợp mà sanh, duyên hội mà sanh thì khi chưa sanh không có, duyên lìa thì diệt, nếu mà thật có, có thì chẳng diệt. Theo đó mà suy ra thì biết, dù nay hiện ra có, cái có ấy tánh thường tự không, vì tánh thường tự không, nên gọi là TÁNH KHÔNG, bởi vì tánh không nên gọi PHÁP TÁNH, pháp tánh chân thực như thế nên gọi là THẬT TƯỚNG, thật tướng vốn không có tự thể , chẳng phải do suy lường mà cho đó là không, nên gọi là BỔN VÔ.”

(Trích từ Triệu Luận Lược giải. Thích Duy Lực dịch , in trong CHƯ KINH TẬP YẾU , trang 470 – 471)

Osho giảng Ngài và chúng ta mỗi người đều là Tâm thức tuyệt đối, là Tự do tuyệt đối .

Vì duyên hội là dụng của tâm, nên có sanh tử. Ngài chứng ngộ nên Ngài nói chẳng có sanh, chẳng có tử, chỉ đến thăm trái đất này giữa 13/12/1931 và 19/1/1990.

Có lần Osho giảng, bạn già rồi, bạn sắp chết, bạn nghe người ta nói chân tâm bạn thanh tịnh, bạn vội ôm lấy, bám víu điều này. Nếu bạn không nhận biết sáng tỏ bản chất của tâm bạn bằng thật chứng, thì tất cả những gì bạn nắm giữ, tin tưởng, chỉ là những thông tin, và tâm bạn lại tiếp tục lang thang trong sanh tử lưu chuyển.

Người viết nói thêm, nếu bạn cũng nói, bạn chẳng sinh, chẳng chết, chỉ viếng thăm trái đất này trong khoảng… thì biểu từ này cũng chỉ có màu sắc văn nghệ, “nghe trong tiếng ếch một màu xanh” (ếch ngồi đáy giếng) mà thôi.

Ngài Long Thọ trong Trung Luận XVIII, 9, có giảng , đặc hữu thứ nhất của Thật tướng là “không lệ thuộc vào cái khác” (=tự mình chứng biết) và Ngài Phật Hộ (Buddhapalita) cũng giảng:

“Đặc hữu thứ nhất là “không lệ thuộc vào cái khác”: Bạn không thể chỉ thuần thật chứng nó qua sự giảng dạy của một người khác. Nó phải được thật chứng trên chính bạn qua tuệ quán không bị nhiễm ô (uncontaminated insight)”.

bài đã đăng của Đặng Hữu Phúc


16 Bình luận »

  • Vũ Ngọc Anh says:

    Cám ơn tác giả về bài viết !…
    Tôi là 1 độc giả vô cùng…vô biên ngưỡng mộ con người này _ OSHO !…

    Tôi ko quan tâm tới những gì dư luận đã bàn về OSHO !_ Khen hoặc chê !..Tôi cảm nhận ông ấy theo những gì tôi đã trải nghiệm !.Và ko một luận cứ nào ,dù là bài viết của Hoàng Liên Tâm có thể xê dịch được lòng tôn kinh của tôi với con người này !.

    Đức Đat Lai Lat Ma đã phải thừa nhận OSHO là một chân sư giác ngộ,đang làm hết sức để cứu giúp con người ra khỏi tình trạng mê mờ !.
    Những gì ông nói,ko thể hiểu bằng vài câu chữ hời hợt.Mà trong đó là cả tư tưởng thâm sâu.Mà những gì thâm sâu,cô đọng,đột phá,sáng tạo.Nó đâu thể hiểu trong 1 sớm 1 chiều.Nó cần thời gian để thâm nhập.Cần trải nghiệm để minh chứng !.CHứ ko phải vừa nghe là đã công nhận hoặc phản bác.Đánh giá sự việc 1 cách chủ quan ,ko thám hiểu ,ko thực nghiệm.Hình thành thế MÊ TÍN !.

    Vậy chớ đánh giá người khác chỉ bằng vài lập luận cạn cợt.Đây phải và kia trái.Đem giáo huấn 1 chiều ra để so sánh các bậc giác ngộ.Bởi chân nhân bất lộ tướng.Lộ tướng bất chân nhân.Hành động của chân sư..mấy ai hiểu được.Hoạ chăng mình Giác Ngộ đi…thực chứng đi,mới đủ tầm cao để đánh giá người khác.

    Muốn nghe Pháp thì cần 1 tâm hồn cởi mở.Ko vội phán đoán sự việc đúng hay sai.Đem thành kiến ra để phòng thủ hoặc tấn công đối phương !.Như vậy đã tự cản trở sự phát triển tâm linh của chính mình !.Đó là SỞ TRI CHƯỚNG !.

    Văn _TƯ _Tu đó là quá trình mỗi người cần trải qua !..NGhe văn rồi suy xét ,rồi thực hành.Nhưng suy xét thế nào là cả 1 vấn đề !.Suy xét ko thành kiến đó !.SUY xét với tâm trạng hoài nghi tích cực !..Sự hoài nghi của tâm thức ham học hỏi,muốn biết và muốn thám hiểm sự thực.Với vấn đề người đó đặt ở thế giả thuyết.Qua chứng minh rồi mới dám kết luận !.NHưng phần đông người ta nghe Pháp ở thế “thành kiến”.Vội đối chiếu với những gì mình học.Quy kết là sai hoặc đúng !.Nó là phóng chiếu của chính mình.CHưa hẳn là sự thực !.

    NHững người quen sống với định kiến.Là nô lệ cho những tư tưởng và sáng tạo của người khác thì khó có khả năng “lắng nghe” 1 cách chân thực !.Vì họ ko nghe với tâm hồn ham học hỏi,mà nghe để tích luỹ tri thức .Hợp với mình thì theo.Ko hợp thì chống.

    Bà Hoàng Liên Tâm ư !.Ắt hẳn những Luận cứ của OSHO đã động chạm vào bản ngã của những con người như vậy.NHững người quen đi theo lối mòn kinh điển.Rập khuôn lề lối và quy ước.Y kinh thuyết Pháp thì oan ba đời chư Phật.Thật khổ tâm cho đức Phật Thích Ca.Khi những học trò của Phật đang đem giáo huẩn của ông ý ra làm mũi tên bắn phá người khác !.

    Tin ta mà ko hiểu ta là bài báng ta _ ông Phật đã nói như vậy !.Rồi thì “AI nói NHư Lai thuyết pháp là người đó phỉ báng Như Lai”.Rồi ” 49 năm ta chưa hề nói lời nào”.Vậy mà các học trò của Phật đang ôm giáo huấn của ổng như của báu.Ai nói khác Phật thì bị quy kết là tà ma ngoại đạo.Than ôi !.Oan ba đời chư Phật !.Thế ĐẠO ngày nay nghiêng ngửa.CHúng sanh toàn nhận phương tiện làm cứu cánh.

    Và OSHO !.Ổng ko chỉ dạy ai !.Khuyên người ta đừng tích lũy những lời ông nói.Nghe rồi thì quên hết đi.Tới ông ý với chiều sâu của bản thể .

    Phật với OSHO đã nói gì nào …mà người ta có thể công nhận hay phản bác .CHỉ có những người tri kiến hẹp hòi.Mới đem chuyện thiên hạ ra bàn bạc một cách rỗng suông.

    Mỗi người hãy tự làm hải đảo cho chính mình.Và đừng là tín đồ cho bất cứ hệ thống tư tưởng.Sáng tạo là ở chính mình .

    Thân ái !

  • Phan Đức says:

    Nghe nói ngày xưa,triết gia Vương Dương Minh đưa ra triết lý
    “Tri hành hợp nhất”.Còn thời nay,chẳng lẽ ngài Osho chủ trương
    “tri hành…bất nhất” hay sao nhỉ ?
    Kiểu này có lẽ na ná “nói một đàng làm một ngả chăng ? Xin qúy
    vị góp ý thêm cho kẻ hèn này được lĩnh hội những lời vàng ngọc !

  • XUAN THANH DO says:

    “Nhân sinh nhất mộng .
    Bất luận kiến tâm .
    Tâm vô sở cầu thị Phật .”

    Khi có cái tâm ” vô sở cầu” thì sẽ gặp được Phật . Phật không có mặt trong những bài thuyết pháp hoa mỹ !

    Sao quanh bài nói về sen mà chỉ ngửi thấy mùi bùn ?

  • Đặng Hữu Phúc says:

    Thưa quý Độc giả

    Phản hồi của ( Nhà văn)Namdao thật là tuyệt vời và đúng trăm phần trăm .

    Phản hồi đó làm tôi nhớ đến hai chuyện :

    1.Osho nói:
    Đam mê là khao khát mê say;
    Đại bi là thương yêu quý mến.
    Đam mê là lòng dục (tham)
    Đại bi là vô dục ( vô tham).
    Đam mê muốn sử dụng người khác như một phương tiện.
    Đại bi tôn trọng người khác như một cứu cánh nơi chính mình.
    Đam mê tiếp tục trói bạn vào mặt đất vào bùn nhơ, và bạn chẳng bao giờ trở thành một đoá sen.
    Đại bi làm bạn trở thành một đoá sen. Bạn bắt đầu vượt lên trên thế giới bùn lầy của dục vọng, tham lam , sân hận…

    2. Cụ Khổng nói, có lẽ ghi lại trong Mạnh Tử:
    Một ông vua hỏi cụ Khổng có một lời nói nào làm cho đất nước sụp đổ không. Cụ nói là không , nhưng nếu làm vua mà nói ta làm vua cũng chẳng thấy vui thú gì . Ta chỉ thấy vui khi ta nói gì thì không có đưá nào cãi. Đó là một lời nói có thể làm đất nước sụp đổ.

    Nước Việt ta , có một nhà trí thức nhớn , Tiến sĩ Kinh tế tài nguyên Nguyễn Mạnh Hùng , với ” một lòng yêu nước nồng nàn ” ( từ ngữ kinh điển Mác Lê Mao Hồ) ( từ ngữ đồi trụy Mĩ Ngụy =lòng yêu nước đắm đuối– vì đã yêu nước , thì có nước là có đắm đuối), sau 1975 , đã áo gấm về Thăng Long Ngàn năm văn vật ,nối vòng tay lớn với các bác, các chú , các cô ” đỉnh cao trí tuệ loài người” . Những vị thánh nhơn này , chắc chắn không phải thứ “đồ giả , giả trí tuệ” được nhà văn Namdao nói đến trong phản hồi ở trên.
    Sau nhiều năm có “một cõi đi về” , nhà trí thức nhớn đã thành nhà văn nhớn NAM DAO và cũng có tác phẩm nhớn trên Da màu .
    Nhà văn Namdao trong phản hồi là một , hoặc là khác với nhà văn nhớn NAM DAO , không là điều quan tâm của tôi .
    Tôi vẫn thấy phản hồi của nhà văn Namdao thạt tuyệt vời và đúng trăm phần trăm.
    Trân trọng.

  • namdao says:

    Cám ơn ông Võ Tấn Phong
    Chuyện bá láp nhiều quá, nhiều hơn cả số luợng bụi trên thế gian, và khi con người ngoa ngôn thì âm thanh, kiểu ” ta là ai, là cái gì?, vân vân”, là tiếng tru tréo của đồ giả, giả trí tuệ…

  • Võ Tấn Phong says:

    Nếu anh Đặng Hữu Phúc chỉ dịch những lời của Osho, dĩ nhiên độc giả sẽ không có ý kiến về đời tư của Osho. Nhưng trong bài giới thiệu ngắn về Osho, tôi chỉ thấy những lời tán dương về cuộc đời của Osho, và những bất công của chính quyền Mỹ trong cách hành xử với giáo phái của ông ta, thì thấy hơi lạ. Vì vậy tôi tò mò đọc phần tiểu sử để biết thêm chi tiết. Thì ra Osho cũng thuộc loại thần kinh bất ổn: hay tố cáo đồ đệ tính hại mình, cũng tiên đoán ngày tận thế (khoảng năm 1990).

    Cái chán ngán của những “đại sư” này là họ thường dùng sức lôi cuốn và khả năng hùng biện để kiếm đồ đệ và tư lợi cho bản thân.

    Mà cũng lạ, Kinh Pháp Cú và những kinh nguyên thủy của Phật sao không đọc (và quan trọng hơn là thực hành), mà lại đi đọc những giảng giải hoa mỹ của các “đại sư” kiểu này?

  • Đặng Hữu Phúc says:

    Thưa qúy độc giả,

    Đây là bản tóm tắt ý định và nội dung của bài viết
    “OSHO GIỮA LÒNG CUỘC ĐỜI: một giới thiệu ngắn về Osho :

    1.Về phần cuộc đời Osho:
    1.1 Đệ tử gọi Ông là bhagwan. Nên Ông xưng là bhagwan. Và Ông nói tất cả mọi người đều là bhagwan.
    Bhagwan: phiên âm Anh ngữ; Sanskrit: Bhagavan; Hán ngữ phiên âm:Bạt già phạn . Hán ngữ dịch nghĩa : Đức Thế tôn.
    Ông nói:” Tất cả các bạn không phải đều là Van Goh, đều là đại thi hào, đều là đại họa sĩ. Nhưng tất cả các bạn đều là bhagwan.
    Cái đó không hiển thị một sự thành tựu, nó hiển thị tính phổ quát của các bạn, bản chất chính của các bạn . Các bạn là God (= Viên Dung Thân).
    Ông dùng từ “The blessed one” là từ tương đương cho từ bhagwan.

    Tôi đã dịch ” The blessed One” là “Đấng Cát Tường” với từ nghĩa Hán ngữ là “Đấng Phúc Đức” ” Tốt Lành ” ” Thiện Hảo” và từ nghĩa Anh ngữ là “Blessing” = chấp thuận, tùy thuận và hỗ trợ. Từ này muốn diễn tả là các bạn là những đấng cát tường, phúc đức, tốt lành và các bạn sống ở giữa lòng cuộc đời , các bạn chấp thuận , tùy thuận và hỗ trợ cuộc đời, cuộc đời của bạn , của kẻ khác , của hiện hữu tồn sinh , các bạn chia vui , xẻ buồn , chung lưng đấu cật với những người khác để cùng nhau đối phó với các thảm hoạ do con người và do thiên nhiên để xây dựng một nhân gian tịnh độ.

    Diễn giải bên Đạo Phật :

    Đức Dalai Lama thứ 14 nói “có vô lượng vô biên các vị phật , có vô lượng vô biên hữu tình , có vô lượng vô biên thế giới . Khoa học hiện chỉ nói có một Big Bang , Kinh Phật nói đã có vài Big Bang”. Ngài cũng nói bạn không phải là Phật , nhưng là bạn có tính Phật ( Buddha nature). Bạn có tính của Bản Phật Phổ Hiền ( Skt. Samantabhadra; All around Good One ; Phổ Hiền)( HH. Dalai Lama. Dzogchen. The Heart Essence of Great Perfection. 2000.

    1.2.” Ông( Osho) cũng giải thích, từ đó( The blessed One, đấng Cát Tường) đối với Ông, không có nghĩa God, không có nghĩa đấng sáng tạo – chỉ có nghĩa đấng cát tường – người đang ở nhà, đã về đến nhà; người đã tìm thấy, người đã gặp được chính mình (who has encounter himself). Đây cũng là ý thiền sư Viên Minh của Trung quốc – Ta về gặp lại tình ta / dấu chân viễn mộng chỉ là phù vân.”.

    Đây chính là ” Bản lai diện mục” thường nói trong Phật giáo và cũng là Bản Giác( tiếng Anh trong sách Osho là “The Naked Awareness” mà nhiều dịch giả Việt Ngữ đã không biết từ “Bản Giác” nên cứ dịch phăng là ” Tính giác trần trụi” . Cũng may không có vị nào dịch thành ” Tính giác trần truồng “)

    2. Về các trích dẫn Osho; tôi đã có 10 trích dẫn , do Ni sư Trí Hải dịch , do tôi dịch, ý nghĩa rất sáng tỏ , vì Osho diễn tả mọi sự rất sáng tỏ.

    3.Phần kết tôi viết cũng rất sáng tỏ: tôi vốn là học thiệt thứ giả , không phải học giả thứ thiệt.Thế nên tôi không viết về các pháp thiền Osho giảng dạy và truyền bá.

    Tôi đã gửi đến độc giả hai bài tụng 49 và 50 của Ngài Long Thọ trong “Ca Tụng Pháp Giới”
    ( Tán Pháp Giới Tụng) ( Pháp giới = Phật tính) để nhắc đến “mù sương phiền não của chúng ta ” và ” tuệ tri chính mình”.

    Tôi cũng gửi đến quý độc giả lời chúc tốt đẹp:
    Ta về gặp lại tình ta
    Dấu chân viễn mộng chỉ là phù vân

    và ” đang ở trong căn nhà hữu danh “— biết bao người — kề lưng hùm sói gửi thân tôi đòi, các bạn hãy là bồ tát , chấp thuận , tùy thuận và hỗ trợ hiện hữu tồn sinh để xây dựng một nhân gian tịnh độ — mà Đức Phật nói: ” Sanh tử không ở ngoài nơi có Niết Bàn và Niết Bàn không ở ngoài nơi sanh tử”.
    ” Đang ở trong căn nhà hữu danh, mà sống ở quê hương tuyệt ngôn, tịch chiếu trống rỗng”

    “Tịch chiếu trống rỗng” vô lượng vô biên thế giới vẫn tịch chiếu trống rỗng , quang minh thường tịch . Các bạn không thấy được quang minh thường tịch vì chưa thật chứng vô tâm . Thế giới vẫn quang minh chan hoà , nhưng bạn nhìn phi thuyền du hành trong không gian tối đen là vì không thấy được ánh sáng . Chỉ thấy ánh sáng khi ánh sáng bị ngăn chặn và thấy có ngày có đêm.

    Trân trọng .

    TB.
    1. Nếu có độc giả nào chỉ quan tâm tới những phương diện nào khác của Osho và các đệ tử
    của Osho thì đó là tự do tư tưởng và tự do ngôn luận của qúy vị .

    2. Nếu độc giả nào quan tâm đến tuệ tri chính mình và ta là ai, ta là cái gì, vị ấy sẽ độc tự phi hành vào Nhất chân pháp giới– The Flight of the Alone to the Alone.

    3. Osho nói Osho chỉ kể trải nghiệm của Osho và các bạn là những người tìm kiếm độc lập và cá biệt và Osho chỉ là bạn đồng hành của qúy vị ( a fellow traveler )
    ( Osho.Autobiography of a Spiritually Incorrect Mystic. 2000. p.277).

    Mạt vàng thì qúy hơn hạt bụi . Nhưng nếu mạt vàng của Osho nằm trong mắt bạn thì chẳng giúp gì cho bạn trong việc tìm về bản lai diện mục của bạn . Mạt vàng là những gì Osho nói mà bạn cho là chân lí, chỉ thấy Osho và bạn, thế nên bạn không còn thấy bạn và hiện hữu tồn sinh . Mạt vàng cũng là những gì người ta nói về Osho mà bạn cho là chân lí– trong khi Osho đã nói — Những gì Osho nói nếu bạn thấy hợp với chân lí thì bạn theo , còn những gì không hợp với chân lí thì bạn cứ việc vất bỏ nó đi.

  • vương ngọc minh says:

    – chuyện về osho; những năm ở mỹ, được đệ tử tậu cho tới 93 chiếc rolls- royce để mỗi đêm cậu ngự một chiếc với một, có đêm hai em thơm như mít, những ai có ở mỹ vào những năm của thập niên tám mươi ấy khắc, phải biết; chàng khá nổi đình đám với danh guru; chao ôi! ngày guru bị còng áp tải ra phi trường thiệt, thảm làm sao! và cũng nhân chuyện osho, chúng ta phải vỗ tay hoan hô diễn đàn da màu với tính chất dân chủ hữu hiệu của nó là, okay! ai nói cứ nói/ai tin cứ tin/ ai lậm cứ việc lậm

  • hoàng says:

    Tôi có đọc vài cuốn sách của ông. Lời văn đầy ma lực. Nhưng khi tìm hiểu thêm, được biết ông không chủ trương diệt dục (tình dục) thì không đọc nữa vì nó trái với lời giáo huấn của Đức Phật.

  • Đặng Hữu Phúc says:

    Thưa qúy độc giả

    Trong lúc nói về ” Tôi là ai” , Osho nói:
    There is only being, not beings…. So there is not really being , but beingness.
    Và tôi đã dịch là being= hữu tình
    beingness= trạng thái hữu tình
    Chỉ có hữu tình (being), không có những hữu tình(beings)
    Thế nên thực ra không có hữu tình , chỉ có trạng thái hữu tình ( beingness).
    Osho là đạo sư người Ấn . Being , tiếng Sanskrit là sattva ( Hán văn dịch âm là tát đoả).Có thể dịch sattva= kẻ

    Phật giáo dịch là Hữu tình = Hữu thức = Hữu linh.
    Ngài Huyền Trang (600-664) dịch sattva là Hữu tình.(sentient being)
    Trước đó Ngài Cưu ma la thập dịch sattva là Chúng sinh (living being)
    Hữu tình là loài có tình thức và có sự sống còn.
    Hữu tình , trong phật giáo , ở trong 6 cõi và có tình thức , đó là loài người, các trời (chư thiên) , quỷ đói, súc sinh , và hữu tình địa ngục (hell being).
    Có nhiều cõi trời, có cõi nơi đó chuyện ái tình chỉ là các trời nam , trời nữ chỉ nhìn nhau mỉm cười, có cõi chỉ liếc nhau, có cõi chỉ cầm tay nhau , có cõi thì make love lôi thôi như trên trái đất này.

    Tôi dùng từ hữu tình = hữu thức để dịch, là có ý gồm cả 6 cõi .
    Mộng liên đường ca ngợi Nguyễn Du ( 1765-1820) — “con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt ngàn đời”.

    Hơn nữa, có những câu thơ diễn tả nỗi đau của thú dữ khi cháy rừng , nỗi đau của bò rừng nơi đấu trường trước mũi kiếm của matador(ở Tây Ban Nha mới đây mới có một miền ban hành luật cấm đấu bò. Và những nỗi đau của sinh vật sống trong nước khi có tsunami, hoặc nỗi đau thiếu oxygen để thở làm cả triệu co cá sardine phải chết ở bờ biển California mới đây vì tảo phủ đầy mặt biển ven bờ .

    Thế nên dùng hữu tình hoặc hữu thức để dịch từ ngữ being , là một điều thích hợp.

    Có thể dịch từ being theo nghĩa thông dụng trong triết học. Nhưng Osho , đã có thời là Giáo sư triết học đại học , khi giảng triết thì đầu buổi giảng thì trình bày các triết
    gia nói gì, nửa sau thì phản biện tất cả các triết lí , phá hủy hoàn toàn chúng.

    Osho có nói — trong Con đường của Phật — ” các triết gia là những người mù bàn về ánh sáng”.Osho cũng kể chuyện ở một làng kia có một anh mù từ lúc mới đẻ và anh ta nói trên đời làm gì có ánh sáng. Cả làng cãi không lại. Một hôm đức Phật đến làng đó thì dân làng liền đem anh mù tới Đức Phậtvà nói Đức Phật làm ơn giảng cho anh ta là có ánh sáng. Đức Phật trả lời– anh mù này đâu có cần tôi . Anh ta cần gặp vị y sĩ trong đoàn đi của tôi. Thế là sau đó anh mù có mắt sáng , đến lễ chân Phật và xin xuất gia.
    Trong kinh điển Phật giáo khi nói đó là quan điểm của các triết gia, đó là từ đức Phật gọi các nhà ngoại đạo.

    Osho nói ở Tây Phương người ta có khi gọi Đức Phật là Great Thinker ( Đại Tư tưởng gia). Nhưng ở Ấn độ không ai gọi Phật là Thinker ( Tư tưởng gia) . Người ta gọi Ngài là Seer(Giác giả). Osho nói bang Bihar, Ấn độ– Bihar nghĩa là Buddha ‘s walk– Phật đã đi khắp bang đó nên bang có tên là Bước đi của Phật.

    Trân trọng.
    ĐHP

  • DZUNG HO says:

    Cảm ơn anh Đặng Hữu Phúc đã ” nói rõ thêm ” về những ” ý nghĩa ” mà Osho đã “muốn nói đến “( củng là một suy đoán mang tính chủ quan ) . Nhưng ” diệu ngữ ” , “chánh ngữ” sẽ có nguy cơ trở thành “ngoa ngữ” hay ” ngụy ngữ ” khi một preacher chỉ THUYẾT mà không HÀNH hoặc phản bội những gì họ thuyết giảng . Có thể phát biểu thế này chăng ( mượn một mẫu câu nghe quen tai từ trước 1975) : “Đừng nghe những gì Osho nói ,(mà) hãy nhìn những gì Osho làm ” . Và …cũng đừng bắt chước làm theo Osho ! Đức Thế Tôn từng giảng : Đừng lầm lẫn giữa ngón tay chỉ mặt trăng và … mặt trăng . Nghĩ thêm : Đừng lầm lẫn giữa những điều nói về chân lý và .. chân lý ; ( và lầm lẫn giữa người nói về chân lý là chân lý thì lại càng không nên ! ). Cần phải balance YOURSELF trong một AWARENESS !
    Tôi buộc phải nhìn lại/đánh giá lại nhân vật Osho sau khi được đọc vài suy nghĩ /phát biểu ngắn của anh Võ Tấn Phong .
    Trân trọng !
    .

  • chucphuc says:

    Osho là ai?
    Osho không nằm trong câu chữ, không nằm trong những bài viết như thế này, không nằm trong lời nói…
    Osho nằm trong những bài nói của ông!
    Ông không viết sách, ông chỉ nói.
    Đến với các tác phẩm của ông để gặp ông.
    Quên chữ nghĩa đi.
    Ở Việt Nam thì nó ở đây : oshovietnam.net

  • Đặng Hữu Phúc says:

    Thưa Độc giả Da màu kính mến,
    Bạn Dzung Ho thân mến,

    Osho có nói về Chiếu soi( Watch; Watchfulness) Bình đẳng ( Skt. samata)và Chính niệm (Skt.samasati; Right awareness) như sau:

    Đạo Phật nói rằng: Hãy chiếu soi! (Watch!) Hãy để mỗi sát na của đời sống trở thành một trải nghiệm trong sự chiếu soi(watchfulness)–đớn đau , lạc thú, mọi thứ;yêu thương, gớm ghét, mọi thứ; tốt, xấu, mọi thứ. Tiếp tục chiếu soi (=ngắm nhìn). Hãy để một hương vị trải trên hiện thể của bạn(your being): hương vị của chiếu soi, và bình đẳng(samata)sinh khởi từ nó,bạn trở thành được quân bình một cách tối hậu ở trung đạo của những cực biên.

    Trong cái quân bình đó .. cũng như một người đi trên sợi dây căng ( tight-rope walker)bước đi được cân bằng trên sợi dây căng . Hắn vẫn ở chính giữa, không nghiêng về phía trái hoặc về phía phải; hoặc là bất cứ khi nào hắn tìm thấy hắn đang nghiêng về một phía, hắn cân bằng hắn một cách ngay lập tức. . Giữa đớn đau và lạc thú, ngày và đêm, sinh và chết, tiếp tục cân bằng… và lúc đó chính cái cân bằng đó sẽ cho bạn một tuệ quán của thật tại bạn là. ( and then that very balancing will give you an insight of the reality you are).
    …Tôi luôn luôn là chủ thể chiếu soi ( a watcher; chủ thể ngắm nhìn). Thân thể đã được sinh ra và tôi đã đang ngắm nhìn. Thân thể đã trở thành trẻ trung và tôi đang ngắm nhìn.Và thân thể trở thành già nua và tôi đang ngắm nhìn. Và một ngày nó sẽ chết và tôi sẽ đang ngắm nhìn. Tôi là sự ngắm nhìn của tôi ( my watchfulness; sự chiếu soi của tôi).
    ( đồng nghĩa với Linh tâm tự chiếu)

    Sự chiếu soi này Đức Phật gọi chính niệm –samasati (right awareness).

    Nếu trời mưa , hãy để trời mưa
    Nếu trời không mưa, hãy để trời không mưa
    Nhưng ngay cả trời không chắc chắn mưa
    Bạn phải du hành
    Với những tay áo ướt .

    If it rain, let it rain;
    If it not rain , let it not rain ;
    But even should it not rain ,
    You must travel
    With wet sleeves
    ( Ikkyu)

    Thế nên đừng bị lừa dối bởi đời sống thoải mái, tiện nghi của bạn– bởi vì cái chết đang đến kèm rối loạn tất cả, phá hủy tất cả . . Hãy chuẩn bị chính mình!
    Và sự chuẩn bị duy nhất là cân bằng ( Prepare yourself! And the only preparation is balance)
    (Trích từ OSHO ZEN. The Art Of Enlightenment.2005.p.196-197–Giảng về Thơ của Ikkyu. Nhất Hưu Tông Thuần . Ikkyu Sojun (1394-1481), Thiền sư Nhật bản)

    Osho và Đạo Phật đều giảng “Tôi và kẻ khác”, là một; “Tôi và thế giới bên ngoài là một”,…
    Osho nói: người sử dụng người là bất nhân nhất . Hại người là hại mình.

    Vậy mấy câu thơ trời mưa , trời không mưa của Thiền sư Ikkyu, bạn đọc kính mến và thân mến , các bạn đọc như thế nào?

    Riêng tôi , tôi đọc như thế này:

    Nếu trời mưa, hãy để trời mưa; Nếu Công An đánh chết người, hãy để Công An đánh chết người( đánh chết người, nhưng không phải là tôi)
    Nếu trời không mưa , hãy để trời không mưa; Nếu Công An không đánh chết người , hãy để Công An không đánh chết người ( Không đánh chết người nên tôi không chết)
    Nhưng ngay cả trời không chắc chắn mưa,
    Tôi vẫn phải du hành
    Với tay áo ướt
    Nhưng ngay cả Công An không chắc chắn đánh chết người
    Tôi vẫn phải du hành
    Từ tàn phế đến bỏ mẹ luôn do bị Công An đánh!

    Tôi và kẻ khác không phải là hai.Bạn hãy đọc bài– Thần chết nấp đâu đây cuả Blogger Đào Tuấn để thấy cái lo lắng của người Việt đi ra khỏi nhà hiện nay.Bạn có thể bị Công An đánh chết bất cứ lúc nào . Bạn đừng có mở mắt chiêm bao , trời mưa thì mặc trời mưa , tôi không có áo thì trời chừa tôi ra.

    Vậy thì chính niệm nghĩa là tôi và kẻ khác là một , tôi và thế giới bên ngoài là một.
    Một đệ tử hỏi Osho — Thế giới có nhiều vấn đề quá ( many problems), chiến tranh , nghèo đói , bất công, ….— Osho trả lời — Thế giới không có Problem , you are the problem — thế giới không có vấn đề, bạn là vấn đề.
    Vậy chúng ta nên hiểu thế nào — Thế giới không ở ngoài ta, ta không ở ngoài thế giới , ta nên có chính niệm, ta nên tuệ tri chính mình , thấy duyên khởi , cái này có , nên cái kia có , cái này sinh , nên cái kia sinh, cái này diệt , nên cái kia diệt , có người sử dụng người , có độc tài toàn trị , cái này có , nên cái kia có , cái này diệt nên cái kia diệt , tôi và kẻ khác không phải là hai , kẻ khác bị đánh bỏ mẹ, là tôi bị đánh chét cha , kẻ khác không tự do tư tưởng là tôi không tự do tư tưởng .

    Đó cũng là ý nghĩa khi Osho nói bạn không phải là hữu tình (being) có bờ mé , bạn là trạng thái hữu tình ( beingness) . Khi bạn nhìn hình ảnh động đất, Tsunami Nhật bản , bạn thấy bạn là beingness , bạn xót thương , bạn run sợ ,bạng đồng cảm với sự sư vật vật đang diễn ra, bạn không phải là một being mà là beingness.

  • DZUNG HO says:

    Xin cảm ơn anh Võ Tấn Phong đã giới thiệu thêm về nhân vật Osho,kèm theo nhận xét ngắn về nhân vật này ( Nếu chỉ đọc riêng bài viết trên, rất có thể dẫn đến việc đánh giá sai nhân vật này ) . Nhân tiện , nếu có thể, nhờ anh giới thiệu thêm về J. Krishnamurti , vị “đạo sư” có tác phẩm từng được Phạm Công Thiện dịch ( the first and last freedom )trong thập niên 70 . Vị ” đạo sư ” này chắc là có cuộc sống đời và đạo ” đẹp ” hơn nhân vật Osho (? ). Trân trọng !

  • Võ Tấn Phong says:

    Đọc tiểu sử của Osho trên wikipedia:

    http://en.wikipedia.org/wiki/Osho_(Bhagwan_Shree_Rajneesh)

    thì giáo phái của Osho có nhiều vấn đề: các đệ tử của ông âm mưu đầu độc dân Mỹ. Chính phủ Mỹ trục xuất vì tội trốn thuế và lo sợ giáo phái của ông. Các nước Tây Âu đều sợ giáo phái của Osho và cấm ông nhập cảnh. Trong khi các đệ tử của Osho sống đời đơn giản theo lời ông dạy, thì chính ông sống xa hoa, có lúc mua đến 93 chiếc xe Rolls-Royces. Thỉnh thoảng ông lại tố cáo các đệ tử toan tính đầu độc ông.

    Mặt trái của một bậc đại sư!

  • DZUNG HO says:

    Bài viết hay . Cảm ơn tác giả Đặng Hữu Phúc . Nên có thêm các bài viết về Osho để giới thiệu với bạn đọc DA MÀU . Trân trọng .

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)