Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

Quyến Rũ Một Nhà Sư


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 18.02.2011

 

katherine_min

Nhà văn Mỹ gốc Đại Hàn Katherine Min

Katherine Min đã có nhiều truyện đăng trên một số tạp chí danh tiếng về sáng tác văn học, như Tri-Quaterly và Ploughshares. Bà nhận được tài trợ từ National Endowment for the Arts và New Hampshire State Arts Council và hai lần được mời đến cư ngụ ở trại sáng tác MacDowell Colony. Truyện Quyến Rũ Một Nhà Sư được dịch từ nguyên bản tiếng Anh, “Courting A Monk”, đã đăng trên tạp chí văn chương Tri-Quarterly (December 1995) và được thưởng giải Pushcart.

Tôi gặp chồng tôi lần đầu khi anh ấy đang ngồi xếp bằng dưới gốc cây trong khu ký túc xá, tóc anh ngắn như những sợi lông tơ trên quả đào, đôi mắt to màu xanh lơ hướng lên trời, miệng cười thật rộng nhưng không hướng về ai làm cho anh có vẻ hơi ngố. Tôi chạy như lướt bay đến gần chỗ anh cứ mỗi một hai phút, khi thì tranh giành, khi thì rượt đuổi, và từ khóe mắt tôi thấy anh ngắm tôi rồi mỉm cười. Điều làm tôi chú ý đến anh là cái khả năng anh giữ cho mình yên tĩnh đến bất động. Hai bàn tay anh giống như tranh tĩnh vật đặt trên đầu gối; cái dáng ngồi thật thẳng của anh không thể nào chê được. Anh có vẻ như là mọc lên ở chỗ ấy, giống cái nấm lạ độc đáo và vui vẻ, làm tôi cảm thấy ngượng ngùng vì đã cố gắng quá mức để gợi sự chú ý của anh. Mồ hôi tôi chảy vào chỗ trũng dọc theo xương sống, lạnh và dính rít, khi tôi ngưng lại, tay chống lên đầu gối, cố lấy lại hơi thở. Tôi cố gắng ngừng cơn há hốc mồm để thở, sửa lại cái đuôi tóc và lau tay lên phần mềm phía trước cái ống quần thể thao.

Anh vẫn còn ngồi đó sau khi tôi đã chơi hai hiệp và đội của tôi bị giảm đi một người. Sully chận bắt nó rồi ném sang Graham. Graham ném nó cho tôi rất mạnh, như quả bom bay bổng thành vòng cung rất rộng, và tôi lao theo nó, bay cùng cái đĩa Frisbee và có một khoảnh khắc tôi bay song song – trôi nổi, bay bổng, vươn người – trước khi rơi đánh uỳnh! trên mặt đất. Tôi rên rỉ. Tôi đã xô bật rễ cái cây trong hệ thống tia sáng mặt trời. Gió bị đánh bật ra khỏi thân thể tôi. Tôi nằm đó, nếm mùi vị lá khô trong mồm.

“Xin lỗi, Gina. Tôi ném tồi quá,” Graham nói và tiến đến gần. “Em có sao không?”
“Không sao,” tôi thở gấp, mấy ngón tay lần mò đếm xương sườn. “Để tôi ngồi nghỉ một tí.”

Tôi ngồi xuống đống lá khô, thở cẩn thận và nhìn các bạn chơi. Trời tối dần và khó nhìn thấy cái Frisbee. Mọi người đều mỏi mệt, chơi một cách uể oải ngập ngừng với những cái ném không trúng đích và những cú bắt hụt hay không thèm bắt.

Bên cạnh tôi trên cỏ, anh chàng ngồi dưới gốc cây rón rén đến. Tôi quên khuấy anh ta. Anh ngồi phục xuống cạnh tôi vẻ ngượng ngùng, lá khô lào xào dưới chân anh, và, khi tôi nhìn lên, anh thì thầm, “Em thật là tuyệt vời,” rồi bỏ đi miệng mỉm cười.

***

Tôi nhìn thấy anh ta hôm sau trong phòng ăn dành cho những người không ăn thịt. Tôi đi ngang, tay bưng cái khay bên trên là món thịt bê cuộn thịt heo muối và phó mát, thấy anh ngồi một mình cạnh cửa sổ. Anh lấy đôi đũa cất trong túi áo trên ngực và hờ hững xâm đũa vào miếng đậu hủ nấu với mấy hạt đậu xanh khô héo. Tôi ngồi đối diện với anh và đòi nghe chuyện đời của anh.

Anh muốn trở thành một tu sĩ. Không phải loại tu sĩ kiêm thi sĩ thời Trung cổ, đầu hói bụng béo, áo thụng mũ trùm, nói tục như quỷ và uống rượu như hũ chìm. Tu kiểu của anh càng khó hiểu hơn – tu sĩ Phật giáo. Anh mới vừa trở về sau một khóa học bốn tháng ở Nepal, nghiên cứu về chủng viện ở trên dãy núi Himalayas. Tóc anh vừa mọc trở lại như những sợi gai mềm trên đầu và anh có vẻ như nghe ngóng – không phải vì cẩn thận nhưng tiếp nhận và chờ đợi.

Anh lớn lên ở King of Prussia, trệch tuyến đường hỏa xa Main của Philadelphia, và gốc gác của anh làm tôi nghi ngờ chiều sâu đức tin của anh. Tôi khám phá rằng sự chú ý đến Đông phương (của người Tây phương da trắng) thường chỉ là bước đầu của chuyện tán tỉnh, một hành động lãng mạn bắt đầu bằng câu “Tôi nghĩ là các cô gái phương Đông rất xinh đẹp,” rồi sau đó là bàn tay bám chặt như gọng kìm vào phần trên của vế đùi. Nhưng Micah rất khác. Anh hiểu tôi không có ấn tượng tốt với đức tin của anh và anh cũng chẳng cố ý gây ấn tượng với tôi.

“Bố tôi theo đạo Phật từ bé,” tôi bảo với anh. “Nhưng bây giờ ông là khoa học gia.”
“Ô,” Micah nói. “Thế là ông không mấy chú trọng đến tâm linh.”
“Linh hồn không phải là điều cụ thể,” tôi nói. “Bố tôi không thể cầm nắm những thứ vô hình.”
“Cô không thể cầm nắm những hạt nguyên tử,” Micah chỉ cho tôi thấy.
“À,” tôi nói với nụ cười, “nhưng anh có thể đếm chúng.”

***

Tôi bảo Micah bố tôi là người của khoa học, và điều này là sự thật. Ông cũng là người của im lặng. Không như Micah, cái im lặng của anh có vẻ bình an, không bị quấy nhiễu, như một hồ ánh sáng trên mặt nước tĩnh mịch. Cái im lặng của bố tôi như cái nắp đậy nồi, niêm kín hơi nước sôi sục ở bên trong.

Chữ nghĩa không phải là phương tiện truyền thông của bố tôi. “Ngôn ngữ,” bố tôi thường nói, “là một dụng cụ không chính xác.” (Tuy ông ít lời, nhưng nếu gặp một câu ông thích là ông dùng mãi.) Bố tôi yêu thích chữ Hy Lạp và những con số được sắp xếp bên cạnh nhau trong các phương trình phức tạp, tượng trưng cho một thứ luật vật lý hay những giả thuyết thực nghiệm. Ông viết đầy những trang giấy màu vàng khổ dài bằng nét chữ thẳng cứng, chép những cái đẹp này xuống giấy bằng cây bút đầu mềm mực đen. Tôi nghĩ có lẽ ông bực mình ghê gớm khi ông không thể giao tiếp với người chung quanh một cách có nề nếp trật tự và ông cũng không thể đặt cái dấu bằng ở phía sau câu ông vừa nói, để người ta có thể giải phương trình tìm ẩn số x và y.

Cái tiếng Anh vấp váp ngập ngừng của bố tôi chỉ là một phần. Bình thường ông không phải là người hay nói, kể cả nói bằng tiếng Đại Hàn, trong vòng thân quyến hay với mẹ tôi. Và với cả tôi, cô con gái duy nhất của ông – người không biết dùng cả hai ngôn ngữ mà ông thích dùng, Hàn ngữ và khoa học – bố tôi, thật lạ lùng, hầu như chẳng có gì để nói. “Dọn dẹp chỗ bừa bãi này đi,” ông bảo tôi, buổi chiều lúc ông đi làm về. “Bài làm xong chưa?” ông hỏi, nhướng một bên mày phía trên bát cơm khi tôi ăn xong và xin phép đi xem ti vi.

Ông tự giới hạn trong trạng thái uy quyền, trong giang sơn của ra lệnh và chỉ huy; của những lời tuyên bố không cần nghe câu trả lời, không mở ngỏ cho thảo luận hay biện hộ. Cách giao tiếp này với bố tôi là loại ngôn ngữ tương đương với những phương trình toán học gọn gàng, như được niêm phong bằng bùa chữ, kể cả không khí cũng không thể thoát ra hay nhập vào.

Khi tôi vào đại học, lời từ biệt của bố tôi là bài diễn văn dài nhất mà tôi nghe ông phát biểu. Bị những chiếc xe của khác gia đình bủa vây chung quanh, mỗi xe chất đầy hành lý, những thùng sách và đèn học, giữa những bàn tán hứng thú và tiếng sinh viên í ới gọi nhau, giữa những cặp mắt lo lắng của cha mẹ soi mói chung quanh, bố tôi nghiêng người về phía trước đầy ngượng ngập, hai tay cho vào trong túi, nhìn tôi chăm chú. Ông nói, “Học cho chăm nhé. Đi ngủ sớm. Đừng ham chơi. Và đừng để bọn con trai Mỹ lợi dụng.”

Đây cũng là trường đại học bố tôi đến học từ hai mươi năm về trước. Khi ấy bố là cựu quân nhân chiến tranh Đại Hàn, chỉ có năm mươi đô la trong túi, và cũng chỉ biết chừng ấy ngữ vựng tiếng Anh. Những mẩu chuyện về thời sinh viên của ông trở nên huyền thoại của gia đình, lớn lên, tôi nghe nhiều đến độ chúng trở nên sống động và như những giấc mơ trong ký ức tôi. Bố tôi vào phòng vệ sinh của ký túc xá cố gắng một cách tuyệt vọng nấu cho chín quả trứng bằng cách cho nước nóng chảy qua quả trứng; ông thắng cuộc vẻ vang trong phòng thí nghiệm vật lý vì đó là nơi mà ông không bị trở ngại vì khả năng sinh ngữ, và đó cũng là nơi sự già dặn trưởng thành cộng với bộ óc khoa học tinh tế của ông đã giúp ông đạt số điểm cao nhất; sau đó là giải thưởng vật lý cao nhất trong năm cuối cùng ở đại học – đó là những sự kiện tôi có cảm tưởng đã được chứng kiến, như thể tôi là một bóng ma lẩn khuất đầy đố kị.

Lẩn khuất trong cái bóng thành công của bố tôi, trong chính trường đại học nơi lần đầu tiên ông cặm cụi trên cái kính hiển vi, đắm mình trong giấc mơ toán đầy bụi phấn, tôi theo đuổi chữ nghĩa, Anh ngữ. Tôi quyết tâm trau dồi chuyên môn. Tôi học Shakespeare và Eliot, Hardy và Conrad, Joyce và Lawrence và Hemingway và Fitzgerald. Hiểu biết cho đúng đắn là điều rất quan trọng, từng chữ, từng nghĩa, để lấp cho đầy cái im lặng di dân của bố tôi, những lỗ trống ông chừa lại cho tôi.

Nhiều lỗ trống của ông tôi bỏ lại. Thức khuya và học rất ít, tôi làm những chuyện động trời, bố tôi sẽ bị chấn động đến độ nếu bảo là ông không tán thành thì chẳng thấm vào đâu. Thí dụ như chuyện con trai Mỹ, tôi vâng lời bố tôi không để cho họ lợi dụng tôi. Trái lại, tôi lợi dụng họ, có họ ở kề bên, vẻ đẹp trai và rất dễ thương ở chỗ sẵn sàng rơi vào giường với mình chỉ cần mình cho khuyến khích chút ít. Tôi thích cái cách họ chuyển động đầy tự hào về thân hình của họ, cái cảm giác nham nhám của những cái má chưa cạo râu, bờ vai và bộ ngực trần nhẵn nhụi của họ, đường cong của lưng họ như là gỗ được đánh bóng. Tôi thích ngắm nhìn họ từ dưới lên, hay từ trên xuống, cảm nhận được cái rùng mình khoái cảm của họ như cơn động đất rất xa xôi; tôi có thể làm cho cơn khoái cảm ấy đến, chuyển động như những vòng tròn của sóng, từ phía trên hay phía dưới, ngắm nhìn họ, ôm ấp họ, làm cho họ thấy hạnh phúc. Tôi sưu tập bạn trai như đồ chơi, như những đồ vật không đắt giá người ta cất phía trong của ngăn kéo. Cách trao đổi thân thể thật hồn nhiên của họ là cái mà tôi thích. Tất cả những người này đều là các chàng trai da trắng.

Micah từ chối không chịu làm tình với tôi. Chuyện này trở thành một cuộc đấu trí của chúng tôi. “Tình dục làm cho hao mòn lý trí,” anh nói.

“Không nhất thiết,” tôi cãi lại, “chỉ đi con đường khác thôi.”

“Có những cách kết hợp cao quý hơn,” anh nói.

“Không thể có nếu không mặc áo quần,” tôi trả lời.

“Gina,” anh nói, nhìn tôi đầy nhân hậu, một sự quan tâm làm cho tôi đỏ mặt vì giận dữ. “Em có cái nhu cầu gì mà cần phải dùng tình dục để lấp đầy?”

“Im mồm, Micah,” Tôi nói. “Anh là nhà sư, không phải nhà tâm lý học.”

Anh cười phá lên. Tiếng cười của anh luôn làm tôi ngạc nhiên, như thể đó là một sự rối loạn nho nhỏ trong vũ trụ. Tôi muốn quyến rũ anh, thật đấy. Tôi xem Micah là nguồn thử thách khó khăn nhất giữa những cái dễ dàng. Nhưng quan trọng hơn cả sự quyến rũ, tôi muốn làm anh rúng động, muốn đâm thủng cái cảm giác yên tĩnh, cái nội tâm hài hòa ấy. Không có ai ở lứa tuổi của tôi, tôi tự thuyết phục, có quyền sở hữu bản thân toàn vẹn như thế.

Chúng tôi đi dạo vườn nuôi chim, bước lào xào dọc theo đường mòn thong thả thảo luận về Emily Dickinson hoặc nghệ thuật làm mật từ cây phong, nhưng tôi luôn luôn trở về chủ đề ấy.

“Thật là lãng phí cuộc đời,” có lần tôi nói. “Một sự hưởng thụ như thế. Tất cả những dâng hiến trong đời tu sĩ chỉ để cố gắng đạt đến mức tĩnh tâm. Quan trọng lắm à. Đó chỉ là một hành động ích kỷ. Không những chỉ ích kỷ, mà còn là lẩn tránh. Một sự chạy trốn cuộc đời và bao nhiêu rối rắm của thế gian.”

Micah lắng nghe, môi hé cười, lắc đầu tiếc nuối. “Em có cái đam mê rất tuyệt vời, Gina, thật sống động và hoàn toàn nhập thế. Tôi không thể giúp em nhìn thấy được. Có thể đây là một sự lẩn trốn như em nhận xét, nhưng Phật giáo không phân biệt giữa thế giới bên ngoài và thế giới bên trong chủng viện. Dựa vào lịch sử, giới tăng sĩ đã từng tham gia đấu tranh chính trị và bị cầm tù. Nhìn Tibet là biết.”

“Em nghĩ đến, ahem, những chuyện trần tục hơn,” tôi nói.
Micah cười to. “Dĩ nhiên,” anh nói. “Dường như em không hiểu, Gina, Phật Giáo chủ trương từ bỏ thèm muốn.”
Tôi khịt mũi. “Thèm muốn thì có gì sai chứ? Không có thèm muốn, có khác gì mình không sống đâu.”

Sự thật tôi bị hấp dẫn với cái ý tưởng này, từ bỏ thèm muốn. Cuộc đời của tôi bị thúc đẩy bởi thèm muốn, bởi những mơ ước to lớn và ầm ĩ; một nỗ lực cố vươn đến những thứ mà tôi không có, và có lẽ, không có cả hy vọng có được. tôi có thể mù mờ tưởng tượng ở một đầu, nơi nào đó qua khỏi mức độ thèm muốn, của thỏa mãn, nhưng tôi không thể hiểu thấu được chuyện từ bỏ thèm muốn, bỏ đi trong lúc còn thèm muốn tràn đầy.

“Cái thèm muốn từ bỏ thèm muốn,” tôi nói, “thì vẫn là thèm muốn, đúng không?”

Micah cho tay vào trong túi và mỉm cười. “Không đúng,” anh nói, và vượt lên đi trước tôi. “Đó là một chọn lựa có ý thức.”

Chúng tôi đến một cái hồ, mặt trời thấp thoáng ở một chỗ trống trải, bạch dương và phong vây quanh, màu lá đỏ rực giữa thu. Một vài chiếc lá rơi, đáp xuống mặt nước nhẹ nhàng như thể chúng được đặt lên đấy. Hồ xanh màu lá cây đậm; ánh sáng lấp lánh trên mặt hồ. Có tiếng hót đầy giai điệu của những con chim bồ câu, tiếng rỉ rả của côn trùng. Micah tận hưởng phong cảnh đẹp này. Tôi không biết sự tận hưởng này có liên quan gì với Phật giáo hay không, nhưng ngắm nhìn anh đứng ở cạnh hồ, đầu ngẩng cao ngả về phía sau, mắt anh hăng hái tiếp nhận ánh sáng. Tôi cảm thấy cái yên tĩnh của anh và cũng cảm thấy sự tán thưởng của anh. Anh đứng bất động rất lâu.

Tôi nhổ mấy cây dương xỉ, dệt những chiếc lá hẹp thành những mẫu hình thù không giống nhau, đánh bím những sợi dây leo, trong khi Micah ngồi trên tảng đá rộng, lấy đôi đũa từ trong túi áo trên ngực, bắt đầu gõ hai chiếc đũa vào nhau nhẹ nhàng với một nhịp điệu rất nghiêm trang.

“Mỗi buổi sáng ở chủng viện,” anh nói, bọn anh thức giấc trong tiếng mõ cầu kinh. Bốn giờ sáng và bầu trời vẫn còn tối, người ta có thể nghe tiếng gõ lên một món đồ bằng gỗ rỗng bên trong – cốp, cốp, cốp – kêu gọi mọi người thiền định. Anh cười vẻ mơ màng. Tiếng gõ của đôi đũa có vẻ kém hiệu lực, nghe như là ta ta ta. Tôi tưởng tượng mặt trời lên, băng qua thung lũng của Himalaya – một mảng mây mỏng nhuộm hồng vào một buổi sáng lạnh lẽo và hình ảnh cái tịnh thất thanh đạm của một nhà sư.
Micah nhắm mắt, mặt hướng về mặt trời. Anh tiếp tục gõ hai chiếc đũa vào nhau chầm chậm. Anh có vẻ riêng lẻ và mới mẻ, ngồi trên tảng đá ấy, như một anh hướng đạo tìm kiếm con đường dẫn đến một bộ lạc nào đó, với mái tóc mới mọc và vẻ tĩnh lặng, và cái cách thân hình anh chăm chú hướng đến thiên nhiên chung quanh anh.

Tôi nghĩ tôi bắt đầu yêu anh vào lúc ấy, hay là, đó là lúc cái thèm muốn chiếm hữu anh trở nên thật mãnh liệt đến độ nó không chỉ là một thèm muốn nhất thời. Tôi cần có sự hồi đáp của anh. Tôi bắt đầu hiểu, thèm muốn là cái gì, là sự khuấy động trong khoảnh khắc thật tuyệt diệu trong lúc chờ đợi cái khuấy động của một khoảnh khắc khác.

“Thức dậy đi,” tôi nói. Tôi cởi phăng cái áo cổ lọ và áo ấm một cách khéo léo rồi ném chúng dưới chân của Micah. Micah mở mắt. Tôi cởi quần, cởi cả quần lót và đứng đấy trần truồng, thách thức, “Cốc cốc, (giả làm tiếng gõ cửa), có ai ở nhà không?”

Micah không quay đi. Anh nhìn tôi, đôi đũa ngừng giữa thinh không. Anh giơ một chiếc về hướng tôi và giữ nguyên tư thế, như thể anh là một họa sĩ với chiếc cọ đưa lên ngắm để đo lường kích thước, hay là một trưởng ban nhạc đang chuẩn bị điều khiển ban hòa tấu. Anh giơ chiếc đũa lơ lửng giữa khoảng cách của hai chúng tôi, như là tôi không thể di chuyển khi nào anh còn giơ chiếc đũa. Đôi mắt anh xanh thăm thẳm như không đáy. Núm vú tôi teo lại vì lạnh. Chung quanh chúng tôi lá rơi trong ánh sáng chập chờn dịu dàng xuống mặt hồ, tạo nên tiếng lào xào như tiếng cọ xát vào vải thô. Anh bỏ tay xuống và tôi như được thả ra. Tôi quay người nhảy vào trong nước.

Vài đêm sau, tôi mua chai rượu vang rẻ tiền và dụ Micah uống rượu với tôi. Chúng tôi bắt đầu ở bậc thềm của thư viện sau khi thư viện đóng cửa, và uống từng ngụm vụng về từ chai rượu dấu trong bao giấy nâu. Ánh sáng từ rặng núi Holyoke nhấp nháy từ xa, vượt qua màu tối như nhung đen của khu sinh viên năm thứ nhất. Từ chỗ này chúng tôi bắt đầu lang thang trong đại học, các sân quần vợt trải rộng, cố chịu cơn gió lạnh cóng từ khu đồi cao ở trung tâm khoa học, và mê muội lăn xuống đồi trước thư viện như một cặp cỏ chong chong.

“Em có biết koan là cái gì không?” anh hỏi tôi, khi chúng tôi ngồi trên băng ghế phía sau sân banh. Chúng tôi lảo đảo nhưng muốn lăn xuống con dốc rất chênh vênh ở phía sau sân banh.

“Cái đó có giống như là kem không?” tôi hỏi.
“Không phải, ko-an. Trong Phật giáo.”
“Không biết.”

“Đó là một câu hỏi không có câu trả lời, như là một câu đố. Em biết không, thí dụ như ‘Tiếng vỗ của một bàn tay thì như thế nào?’ Hay là ‘Mặt anh ra làm sao trước khi anh được sinh ra?’

“Cái mặt anh giống thế nào trước khi anh sinh ra? Hỏi vô lý!”

“Đúng như thế. Em phải cố nghĩ về câu koan cho đến khi em tìm được câu trả lời.”
“Trả lời về cái gì?”
“Về đời sống, về ý nghĩa cuộc đời.”
“Ô, Ok.,” tôi nói, em hiểu rồi.” Tôi quay lưng lại, cái bao có chai rượu ở trong hai bàn tay tôi. “Thử cái này nhé, ‘Tiếng đánh rắm của một cái gò má ra làm sao?”

Anh cười ngặt nghẽo hồi lâu, rồi ọe nôn ra bên cạnh băng ghế. Tôi đưa anh về, đưa anh vào giường; trán anh nóng sốt, mắt anh mất thần vì cơn ốm.

“Xin lỗi,” tôi nói. “Em đúng là ảnh hưởng xấu.” Tôi hôn anh, môi anh nóng và không đáp ứng.

“Đừng bận tâm,” anh lẩm bẩm, nửa chìm vào giấc ngủ.
Đêm sau, chúng tôi ngủ chung giường với nhau lần đầu tiên. Anh mặc quần lót và tay anh để ngay ngắn khép chặt vào bên cạnh người, như Gandhi nằm giữa những nàng trinh nữ. Tôi quyết tâm gây khó khăn cho anh. Tôi cứ áp thân hình trần truồng của tôi vào cạnh anh, gác chân lên người anh, ngón tay tôi mân mê xoa bộ ngực hẹp của anh. Anh vùng vẩy và đẩy tôi ra, giả bộ ngủ. Khi tôi thức giấc buổi sáng, anh đã đi mất và bản nhạc Ode to Joy đang phát ra ầm ĩ trên máy của tôi.

Graham nói nhớ tôi. Chúng tôi đã ngủ với nhau một vài lần trước khi tôi gặp Micah, hưởng thụ cái ấm áp lành mạnh sau khi chạy hay chơi Ultimate, tắm hơi nước và ngã lên giường. Graham đẹp trai, tóc đen, vai rộng, hai cánh tay khỏe mạnh và bộ ngực rắn chắc. Hắn làm tình với đàn bà như hắn đang tập thể dục, luôn nghiêm nghị nhắm đến một kết quả và phải đến đúng lúc. Khó mà tưởng tượng làm tình như thế có sức hấp dẫn người ta. Tôi bảo hắn tôi đang quen người khác.

“Không phải cái gã tóc húi cua chứ?” hắn nói. “Cái gã trông giống như một con hải cẩu nho nhỏ?”

Tôi rùn vai.

Graham nhìn tôi vẻ ngờ vực. “Trông hắn không thuộc mẫu người thích hợp với em.”
“Không thích hợp thật.” Tôi đồng ý. “Nhưng ít ra hắn cũng không thuộc mẫu người thích hợp với anh.”

Đồng thời tôi tăng cường mức độ tấn công. Tôi hỏi không dứt những câu hỏi về giáo lý Phật giáo. Micah nói về dukkha, hay khổ đế, về tứ đế, ngũ uẩn, Bát chính đạo đưa đến giác ngộ. Tôi lắng nghe chăm chỉ, sẵn sàng đồng ý tất cả những điều này nghe rất hay, và cái mục đích hoàn toàn sáng suốt và tĩnh tâm rất là đáng đạt đến. Trong khi anh nói, tôi duỗi bàn chân cho đến khi ngón chân tôi chạm vào đùi anh. Tôi thò tay vuốt lưng anh; hay cúi người thật thấp để anh có thể nhìn thấy bên dưới lớp áo rộng, tháo tung vài cúc áo của tôi.

“Rất tiếc là anh không theo phái Tantra,” tôi nói. Tôi cũng đã nghiên cứu Phật giáo một ít.
Micah rầy tôi. “Đó là Phật giáo theo cách Hollywood,” anh nói. “Thở mạnh và đầy tính cách trình diễn.”

“Họ không cấm cản chuyện thèm muốn xác thịt,” Tôi nói. “Họ cho phép làm tình.”

“Phật không cấm những thèm muốn của thể xác,” Micah nói. “Nhưng đó là chuyện vô thường, thế thôi. Có một cái gì đó vượt qua những chuyện vô thường.”
“Để vượt qua chuyện ấy, “ tôi dằn dỗi, “anh phải làm chuyện ấy.”

Micah thở dài. “Gina,” anh nói, “em rất xinh đẹp, nhưng tôi không thể làm chuyện này. Về sau sẽ có rất nhiều người sẵn sàng làm.”

“Hiện tại cũng có nhiều người sẵn sàng làm.”

Anh cười hơi buồn, “Thế thì…”

Tôi cúi xuống tháo dây giày của anh. Tôi cột chúng lại vào nhau thắt gút hai lần.

Nhưng em muốn anh,” tôi nói.

Bố mẹ tôi ở cách trường chừng ba mươi dặm và mẹ tôi thường gọi tôi về nhà ăn cơm tối. Tôi về chỉ một lần trong năm ấy, cùng với Micah. Bố mẹ tôi không phải là người thích ứng dễ dàng với người lạ. Họ là những người khá cách biệt, không giao thiệp nhiều hay thường đi chơi hay ăn tối ở ngoài – hay nói cho đúng, bố tôi như thế và mẹ tôi cố gắng thay đổi sao cho phù hợp với bố tôi.

Mẹ tôi đã dọn bàn và trải khăn màu xanh trong phòng ăn. Có ly pha lê để uống rượu vang, và muỗng nỉa bằng bạc có chạm hoa. Mẹ tôi đã nướng một ít thịt gà hơi khô vì quá lửa, đậu và cà rốt nấu hơi nhừ – những món ăn mẹ dành để đãi khách Mỹ khi mời họ dùng cơm chiều. Nói về món ăn Đại Hàn, mẹ tôi là đầu bếp thượng thặng. Cái món sườn ướp và miến xào thịt bò với rau cải của mẹ, bánh bột nhồi thịt heo, tôm chiên và kim chi mẹ tôi tự tay làm chứa trong vại rất tuyệt vời. Nhưng món ăn Mỹ thì mẹ tôi không khéo, bà không thích chúng. Tôi nghĩ, bà cho rằng các món ăn Mỹ nấu cho đúng kiểu phải tẻ nhạt như thế.
“Mẹ chỉ cẩn nấu thức ăn Đại Hàn,” Tôi giục mẹ qua điện thoại. “Anh ấy sẽ thích lắm.”

Mẹ tôi nghi ngờ. “Cay lắm,” mẹ tôi nói. “Mẹ biết người Mỹ thích ăn gì.”

“Mẹ đừng nấu món gà nhé,” tôi năn nỉ. “Anh ấy ăn chay.”
“Để xem.” mẹ tôi nói, không thú nhận cũng chẳng hé lộ gì cả.

Micah nhìn đĩa thức ăn của anh chằm chặp. Mẹ tôi cười với vẻ yên tĩnh. Micah gật đầu. Anh dùng nỉa xúc đầy rau cải, cắn một miếng bánh mì. Cái xương nhọn ở cổ của anh có vẻ làm việc liên tục. Bố tôi cũng bận rộn nhai thức ăn, xương cổ của ông cũng chạy lên chạy xuống như cái bánh cóc trong cái máy chống thay bánh xe.
Không ai nói lời nào kể từ lúc bố tôi khui chai Chardonnay và đọc cho chúng tôi nghe đoạn miêu tả trong quyển sách bìa mềm có nhiều nếp gấp Hướng dẫn cách chọn rượu vang của New York Times.

Tiếng muỗng nỉa chạm vào đồ sứ nghe dường như to vang vọng hơn. Tôi để ý thấy tôi nhai lâu hơn. Bố tôi hắng giọng. Mẹ tôi nhìn bố tôi chờ đợi. Ông ho.

“Micah đang nghiên cứu về Phật giáo ở Nepal,” Tôi nói để đánh tan sự im lặng.

“Ồ!” mẹ tôi kêu lên. Bà cười nhỏ.
Bố tôi tiếp tục ăn. Ông nuốt đánh ực và nhìn lên. “Thế à?” ông nói, có vẻ chú ý.

Micah gật đầu. “Cháu ở đó chỉ có bốn tháng,” anh nói. “Gina nói với cháu là bác được giáo huấn Phật giáo từ khi còn bé.”

Bố tôi ậm ừ. “Đó là chuyện dĩ nhiên,” ông nói. “Ở Đại Hàn thời ấy, tất cả mọi người đều theo Phật giáo. Nhưng bây giờ, tôi không xem mình là Phật tử.”

Micah và tôi nhìn nhau.

“Phật giáo bây giờ là hợp thời trang lắm, tôi nghĩ thế,” bố tôi nói tiếp. “Với các anh chị sinh viên Mỹ. Phật giáo là một thứ thời thượng.

Tôi nhìn thấy Micah nhăn mặt.

“Tôi nghĩ đây là điều rất hay, Hi Joon,” mẹ tôi đỡ lời, “giúp người Mỹ hiểu biết về tôn giáo và triết học Á châu. Tôi học Triết ở đại học, Micah. Tôi nghiên cứu Whitehead, triết gia Mỹ theo chủ nghĩa thực dụng.”

Bố tôi tựa lưng vào ghế, quan sát, vẻ không hài lòng, trong khi mẹ tôi và Micah trò chuyện. Trông có vẻ như ông đang phân tích Micah, không phải cách phân tích của một Bác sĩ chuyên trị thần kinh – bố tôi vốn không có cái nhìn sáng sủa về tâm lý học – mà là cách phân tích của một nhà hóa học, tách rời anh ấy ra thành những nguyên tố, một công thức hóa học đơn giản để có thể định nghĩa cách cấu tạo của anh ấy.

Micah đang nói về một số chủ đề khác nhau, cảm xúc, nhận thức, cấu trúc tư tưởng, và cái ý thức bao gồm các bản ngã trong giáo lý Phật giáo. “Đó là một quan niệm về bản ngã rất khác biệt cái bản ngã trong Thiên chúa giáo,” anh giải thích, mắt nhìn mẹ tôi.

“Vô lý,” bố tôi ngắt lời. “Trong giáo lý Phật giáo không có cái bản ngã. . . .”

Tôi và mẹ tôi bất lực nhìn họ bắt đầu tranh luận. Tôi ngạc nhiên khi thấy bố tôi hiểu biết rất nhiều về chủ đề này, và trong cái cách ông tấn công, tôi ngạc nhiên khi thấy Micah luôn nhường nhịn. Dường như anh đánh mất vẻ chắc chắn, và những vách tường bảo vệ niềm tin của anh. Anh gật đầu liên tục và rút lui trước những luận điểm của cha tôi, cũng là những điểm mà anh đã cương quyết bảo vệ khi tranh luận với tôi. “Cháu nghĩ là cháu không biết rõ vấn đề này,” anh nói nhiều lần, và “Vâng, cháu hiểu ý Bác” nhiều lần, với một vẻ khiêm nhường yếu đuối.

Tôi quay nhìn từ vẻ thông minh lấp lóe và không thương xót của bố tôi đến vẻ kính trọng, thái độ rụt rè của Micah và cảm thấy cơn bực dọc tăng lên mà tôi không biết là do bởi thái độ hiếu chiến của bố tôi, hay cái chịu thua của Micah, hay cái động cơ quái lạ mà tôi đã dàn xếp cho hai người gặp nhau. Tôi có mong muốn là họ sẽ hợp tính nhau không? Tuy thế bố tôi đã chú ý đến Micah với một mức độ rất mãnh liệt – như thế anh là một đối thủ – mà bố tôi chưa bao giờ chú ý đến tôi như thế.

Khi cuộc trò chuyện tạm ngưng, và sau khi chúng tôi đã ăn rất nhiều thức ăn chúng tôi gọi là cách tiếp đãi lịch sự, mẹ tôi dọn thức ăn và mang vào một bát cơm với kimchi cho bố tôi. Mắt Micah sáng lên. “Cho cháu một ít thức ăn đó có được không, Bác Kim?”

Mẹ tôi nhìn với vẻ nghi ngờ. “Cay lắm đấy,” mẹ tôi nói.
“Ồ, cháu rất thích thức ăn cay,” Micah trấn an. Mẹ tôi đi lấy bát cho Micah.

“Cháu có dùng đũa được không?” mẹ tôi hỏi, khi Micah bắt đầu ăn.

“Mẹ, không có sao đâu,” tôi nói.

Bố tôi ngước đầu nhìn lên từ bát của ông. Bố mẹ tôi cùng nhìn khi Micah ăn một miếng bắp cải kim chi to.

“Ha!” bố tôi nói, thình lình nở nụ cười. “Gina không thích kimchi,” ông nói. Bố nhìn tôi. “Gina,” ông nói. “Chú bé này Đại Hàn còn hơn con.”

“Chuyện đó đâu có gì khó.” Tôi nói.

Bố tôi không thèm chú ý đến tôi. “Gina luôn luôn muốn làm người Mỹ,” ông bảo Micah. “Kể từ khi nó còn bé, nó muốn có mắt xanh, tóc vàng.” Ông trỏ chiếc đủa về phía mặt của Micah, “như mắt và tóc của cháu đấy.”

“Giá mà cháu có tóc” Micah nói, cười toe, bàn tay anh vò đầu.

Bố tôi nhìn đăm đăm vào chén cơm. “Nó không muốn làm con gái Đại Hàn. Nó nghĩ nó có thể là con gái Mỹ trăm phần trăm, nhưng không được. Nó có dòng máu Đại Hàn, trăm phần trăm. Nơi nào nó trưởng thành không phải là vấn đề – huyết thống mới quan trọng.” Ông nhìn Micah một cách nghiêm trang. “Cháu nghĩ cháu có thể thành một tu sĩ Phật giáo. Tương tự. Nhưng tư tưởng Phật giáo không nằm trong huyết quản của cháu. Cháu không thể hiểu biết chân lý của Phật giáo. Cháu nên nghiên cứu Thánh kinh.

“Trời ơi, Bố!” Tôi nói. “Bố nói như là một kẻ Phát xít vậy!”
“Gina!” Mẹ tôi nhắc nhở.

“Bố làm con hổ thẹn quá,” Tôi nói. “Bố thất lễ với bạn của con. Bố nói về con như thể con không có mặt ở đây. Bố có thể nói bất cứ điều gì bố thích. Con là người Mỹ cho dù bố có thích hay không. Dòng máu dân tộc chẳng có nghĩa lý gì, quan trọng là cái ở trong này. Tôi gõ nhẹ ngón tay lên thái dương.

“Nói thế không phải là Phát xít.” Bố tôi nói. “Đó là sự thật! Cái mà con có ở trong này,” ông chỉ ngón tay lên trán, “là huyết thống, từ di truyền. Con thừa hưởng từ bố!”

“Xin Trời giúp giùm,” Tôi nói.
“Gina!” mẹ tôi van nài.
“Bác Kim – “ Micah bắt dầu.

“Mày chỉ giống con gái Mỹ ở một điều là,” bố tôi hét lên, “Mày không biết kính trọng bố. Ở Đại Hàn, con gái không được phép trả lời với cha mẹ, đây thật là một điều nhục nhã.”

“Ở Đại Hàn, con gái phải nhẫn nhịn khuất phục như những tấm thảm chùi chân cho bố họ dẫm lên!” Tôi hét trả lại.
“Mày biết gì về Đại Hàn chứ? Mầy chỉ đến đó có một lần khi mày sáu tuổi.”

“Cái hiểu biết này nằm trong máu của con.” Tôi nói, và đứng dậy. “Con không ở đây để nghe những chuyện như thế này. Thôi chúng mình đi, Micah.”

Micah nhìn tôi dụ dự, rồi quay sang bố tôi.

Bố tôi lại tiếp tục ăn, từ từ dùng đũa và cơm vào mồm. Ông ngừng. “Nó luôn luôn như thế,” ông nói, dường như với cái bàn. “Luôn luôn giận dữ như thế này. Ngay cả khi nó còn bé.”

“Bác Kim,” Micah nói. “Um, cám ơn hai bác rất nhiều. Chúng cháu. . . Cháu nghĩ là tụi cháu ra về bây giờ.”
Bố tôi nhai đi nhai lại. “Đáng lẽ tôi không nên rời Đại Hàn,” ông nói lặng lẽ, hoàn toàn quả quyết.

“Gina,” mẹ tôi nói. “Ngồi xuống đi. Hi Joon, thôi mà!”
“Micah,” tôi nói. “Anh có đi không?”
Chúng tôi bỏ bố tôi ngồi một mình ở bàn ăn.
“Đáng lẽ tao nên gửi cho mày sống với cô Soo!” Bố tôi nói vọng theo.

Mẹ tôi theo chúng tôi ra sân mang theo hộp thịt gà mà Micah không ăn.

Trên đường về chúng tôi ngừng lại mua kem. Koan, tôi bảo Micah. “Âm thanh kem xô cô la hạnh nhân của Thụy Sĩ tan chảy như thế nào?” Tôi hỏi anh. “Trước khi vanilla ra đời thì nó là cái gì?”

Bên trong tiệm bán kem ánh sáng thật chói chang, một thứ huỳnh quang tẩy rửa mọi thứ thành màu trắng hếu của xương. Micah cúi người quan sát những hộp kem nằm trong tủ nhựa. Anh có vẻ như khô héo, lặng lẽ. Anh bảo mua cho anh một thìa kem xô cô la bạc hà và một kem thìa cérise đen cho vào vỏ bánh kem và ăn một cách chậm rãi, liếm láp đầy tiếc rẻ như một đứa trẻ đã dùng đến đồng xu cuối cùng. Có vẻ gì sầu muộn trong cử chỉ của anh, như một lời xin lỗi. Anh đánh mất vẻ trầm lặng của một nhà sư và thình lình anh có vẻ lạc hướng.

Kem lạnh làm tôi cảm thấy nhức đầu, tất cả những mạch máu trên thái dương của tôi dường như căng thẳng. Tôi run rẩy và lạnh; dường như cơn giận đã tỏa ra khắp người tôi với khí lạnh.

Micah chà xát lưng tôi.
“Em khó tính với bố của em quá,” anh nói. “Ông không phải là người xấu.”
“Bỏ qua chuyện này,” Tôi nói. “Thôi mình đi.”

Chúng tôi đi bộ về ký túc xá băng qua sân đậu xe trong im lặng. Có ánh đèn từ khu phòng trọ dành cho bốn người và nhạc trào ra khung cửa sổ lan vào trong trời lạnh. Một vài ngôi sao lẻ loi xem chừng quá xa để có thể phát ra ánh sáng đều đặn.

Về đến phòng, tôi mở nhạc the Rolling Stones thật to. Giọng hát của Mick Jagger đầy vẻ châm chọc và độc ác. Tôi tắt đèn và thắp một ngọn nến đỏ.

“OK. Chuyện này cần phải chấm dứt.” Tôi nói. Tôi cảm thấy run rẩy. Tôi đẩy Micah trở lại giường. Tôi đang cơn giận tột điểm. Anh ấy đã phá vỡ tất cả mọi thứ dùm tôi, cái thoáng nhẹ, cái cuộc đời đã được thanh lọc của tôi. Tất cả mọi thứ đều dường như dễ dàng, với đám trai trẻ, những lời chót lưỡi đầu môi và những cảm xúc không lâu bền, những mê đắm đơn giản và những lạc thú trên bề mặt. Nó như là cái cảm giác đang bay, nhảy lên để vói lấy cái Frisbee và bay bổng lên không trung. Trong một khoảnh khắc, bạn không cảm thấy trọng lực, vì cái ý thức của chính cơ thể bạn hay là của một giống loài. Trong một khoảnh khắc bạn cảm thấy tự do.

Tôi bắt đầu nhảy múa, rất nhanh, đong đưa, lắc lư ngay trước giường của tôi. Tôi nhắm mắt và xoay tít, dội vào tường như một viên bi, loạng choạng vì chính đôi tất của tôi. Tôi nhảy múa mạnh đến độ cái máy nhạc nhảy khúc, giọng của Jagger trở nên lắp bắp trong cổ họng với những âm thanh đơn điệu, nuốt hối hả những lời lập lại. Tôi xoay tròn và chạy theo vòng tròn, đầu ngả về hướng này đến hướng kia cho đến khi tôi nghe dòng máu chạy trong người kinh ngạc, tôi vén tóc tôi ra khỏi gáy và túm tóc bằng hai tay.

Micah nhìn tôi nhảy múa. Thân hình anh như một chữ S bẻ ngược trên giường tôi, tay chỏi đầu. Vẻ mặt của anh trông giống như lúc anh nói chuyện với bố tôi, cái vẻ nhường nhịn, đôi mắt nai hiền lành chịu thua. Nhưng tôi có thể nhìn thấy một vẻ khác còn đang ẩn chìm.
Với những ngón tay gần như tê dại, tôi tháo cúc áo ấm bên ngoài, giật phăng áo sơ mi bên trong và lột áo ra khỏi đầu. Tôi uốn éo cho đến khi váy và đồ lót rơi khỏi người, đá tất cả quần áo vào trong góc nhà, cho đến khi người tôi ướt đẫm và cháy bỏng – rồi tôi đè lên người anh.
Như mùi vị của thức ăn sau một ngày nhịn đói – rất mạnh và đầy đặn. Micah đáp lại cơn giận dữ điên cuồng của tôi với cái đam mê bí ẩn của anh; như thể đó là một cơn ấu đả, một cuộc cãi nhau, cái gì đó rất quan trọng đang bị thử thách mà cả hai chúng tôi đều không muốn đánh mất. Sau đó chúng tôi ngồi trên giường và nghe bài hát Ode to Joy trong khi Micah, có rất nhiều đôi đũa bỏ vương vãi trong phòng, đã dùng đũa để nhại nhà điều khiển giàn nhạc Leonard Bernstein. Sau đó chúng tôi đi ra tiệm All-star Dairy mua thức ăn và Micah thú nhận với tôi là anh đã yêu.

***

Bố tôi từ chối không chịu tham dự lễ cưới. Ông thích Micah, nhưng ông không muốn tôi lấy chồng người da trắng. Câu chuyện trở thành chuyện đùa tếu tôi kể mọi người nghe. Theo phong tục Đại Hàn, tôi nói, là đem cho cô dâu bốn tháng trước lễ cưới.

Micah trở nên giáo viên dạy Sinh vật học ở trường Trung học. Tôi là một người phụ tá giám học của trường đại học địa phương. Chúng tôi có hai cháu. Khi Micah kể lại câu chuyện thời bắt đầu yêu của chúng tôi, anh kể với một vẻ nhún nhường và khôi hài. Anh nói như thể anh là một kẻ hết sức điên rồ khi nghĩ đến chuyện trở thành nhà sư. “Thử tưởng tượng chuyện ấy,” anh nói với các con. “Bố của chúng mày.”

Về sau, tôi có cơ hội đọc thêm sách về Phật giáo. Siddharta Gotama chỉ có ba mươi lăm tuổi khi ngài ngồi dưới cội Bồ đề trên bờ sông Neranjara và trở nên giác ngộ. Đôi khi, khi tôi thấy chồng tôi nhìn tôi bên kia bàn ăn điểm tâm, hay đi về phía tôi từ bên kia phòng, tôi nhìn thấy một vẻ bất an trên mặt anh, một giây phút lẫn lộn, như thể anh không nhớ ra tôi là ai. Tôi bắt gặp vẻ mặt này một vài lần, trong một ngày Chủ nhật khi anh biến mất không có ở trong nhà, anh ngồi trên băng ghế với tờ báo trong lòng nhìn qua khu phố, chìm đắm trong tư tưởng đến độ anh không nhích động khi tôi gọi tên anh.

Tôi nhớ lần đầu tôi gặp anh, cái vẻ yên tĩnh trong anh, vẻ hiền hòa trên mặt. Tôi nhớ cách anh nhìn những hòn đá bên cạnh hồ như một nhà khai phá đất mới và tôi tự hỏi không biết anh có hối tiếc, như tôi đang hối tiếc, sự đánh mất cái niềm tin không được tán thưởng của anh. Anh có nhớ tiếng mõ cầu kinh, lời mời gọi của cuộc sống nội tâm không có dáng dấp của thèm muốn? Tôi nghĩ đến bố tôi, tràn đầy hy vọng khi cho nước nóng chảy lên chiếc vớ gói quả trứng lúc ông đang ở xa nhà hằng ngàn dặm, nhưng không biết là ông sẽ–cũng cùng mức độ tràn trề hy vọng và đầy cố gắng–nhưng lại hoàn toàn thất bại trong việc dạy dỗ đứa con gái. Tôi nhớ cách tôi hay đùa nghịch với koan và tôi tự hỏi,“Âm thanh của một cuộc đời không được sống thì như thế nào?”

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

  • Khiêm says:

    Cảm ơn tác giả Vũ Thất đã giới thiệu truyện ngắn Sao Hôm.
    The Dharma Bums thiệt ra chỉ là một tác phẩm làm bộ … thiền. Tuy nhiên nếu chỉ để “đọc” thì sẽ thấy rất thú vị và hiểu hơn về một thế hệ vùng vẫy thoát ra khỏi những nhân cách + lối cư xử nhàm chán và giả dối mà xã hội áp đặt lên các cá nhân.
    Chúc một ngày vui,

  • Vũ Thất says:

    Chào độc giả Khiêm,
    Cám ơn đã giới thiệu tác phẩm Dharma Burns. Sẽ tìm đọc sau khi dứt điểm bộ Thiền Luận. Tôi nói đọc vì chưa dốc ý tu thiền.

    Nhà văn Vương Mộng Long là tác giả Sao Hôm Sao Mai. Vũ Thất là tác giả Sao Hôm. Ngoại trừ cái tựa giống một phần, còn thì nội dung hai truyện hoàn toàn khác. Da Màu có đăng truyện này. Thân mời vào đọc: Sao Hôm (http://damau.org/archives/16630).
    Thân mến,

  • Khiêm says:

    Kg độc giả Vũ Thất,

    Có lẽ Gina liên tưởng đến cái giễu nhại the ice cream koan của Jack Kerouac trong tác phẩm The Dharma Burns, nên khi bước vô tiệm kem cô liền bật ra các koans.

    “If you have ice cream I will give you some.
    If you have no ice cream I will take it away from you.”

    – Jack Kerouac

    Xin phép được hỏi nhân đọc phản hồi của NTHH khi nhắc tới truyện ngắn Sao Hôm Sao Mai: Đây là sự trùng tên tác phẩm, hay tác giả Vũ Thất cũng chính là tác giả Vương Mộng Long?

    Kính,

  • @NtHH
    Đúng ra, ban đầu tính lấy tên “vô ảnh kiếm” cho ấn tượng. Nhưng sau đó, đổi tên Mẽo cho oai. Đùa thôi. Chẳng qua cũng là cái tên thôi mà. Ấy, có người dịch thử nghiệm được.
    thì tên cũng thử nghiệm được chứ.
    Của đáng tội, tui lại khoái trường phái “vừa dịch vừa bịa” của NtHH. Có khi bịa lại hay hơn thiệt thì sao.

    Kính.

  • Nguyễn thị Hải Hà says:

    Hải Hà xin cám ơn và ghi nhận ý kiến của Lũy và black racoon. Sẵn đây xin “tám” một chút black racoon hiếm thấy nhưng ở Central Park có vài con thường rượt đuổi nhau trên cây. Không hiểu vì sao black racoon chọn tên này?

  • Tản mạn về koan – công án

    Tui không rõ Thiền Học VN xưa nay có bàn về công án hay chăng (?). Đọc trong sách Lĩnh Nam Chích Quái , chuyện Từ Đạo Hạnh Nguyễn Minh Không :

    Từ Đạo Hạnh hỏi :
    -Pháp Hành Trụ là gì?
    Thiền Sư Phạm Hội :
    -Đói ăn khát uống là phép Hành Trụ !

    Từ Đạo Hạnh nghe xong thì liễu ngộ, pháp lực từ đó gia tăng, duyên Thiền thêm thắm thiết.
    Đói ăn khát uống là phép Hành Trụ !
    Có thể coi là một công án thiền hay không ?

    http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=vDukg_Tx9s

  • Lũy says:

    Theo tôi chữ “koan” ở đây cũng nên dịch ra luôn là “công án”. Chị Hải Hà nghĩ sao?

  • Vũ Thất says:

    Chào dịch giả Hải Hà và độc giả Khiêm,
    Xin cám ơn đã giải tỏa thắc mắc của tôi. Về câu: “Âm thanh kem xô cô la hạnh nhân của Thụy Sĩ tan chảy như thế nào?”, tôi hiểu đó là một koan vì ngay trước đó tác giả đã viết rõ(Koan, tôi bảo Micah).
    Ở phần đầu câu chuyện Micah có nói với Gina: “Em phải cố nghĩ về câu koan cho đến khi em tìm được câu trả lời.”
    “Trả lời về cái gì?”
    “Về đời sống, về ý nghĩa cuộc đời.”
    Vì vậy tôi hỏi lại dịch giả để được đọc câu nguyên tác trước khi suy nghĩ…
    Thân ái.

  • Nguyễn thị Hải Hà says:

    Xin chào nhà văn Vũ Thất, tác giả của truyện ngắn Sao Hôm Sao Mai mà có lần Hải Hà viết một bài tạp ghi trên Sài Gòn Nhỏ có nhắc đến. Nếu có gì sơ xuất xin ông thứ lỗi. Hái Hà xin ghi lời chỉ giáo về chữ chủng viện, lẽ ra nên dùng chữ tu viện hay thiền viện thì đúng hơn, Còn cái câu kia là do Hải Hà đang thử nghiệm cách dịch mới gọi là dịch bịa (ấy, có văn thơ và hội họa theo trường phái thử nghiệm thì cũng phải cho dịch thử nghiệm chứ). Vừa dịch vừa bịa. Thật ra Hải Hà không còn giữ bản chính, mượn của ai đó, nên chỉ nhớ mang máng hình ảnh của câu văn là hai người lăn xuống như hai tumbleweeds. Dùng google thì thấy tumbleweeds là cỏ khô người ta gom lại thành một bó to. Cọng cỏ thì xem chừng có gai. Lúc đó có lẽ vì mệt và thiếu suy nghĩ nên Hải Hà bịa đại là cỏ long chong vì cái vẻ long chong lổm chổm của nó. Đoán chừng tuy không đúng nhưng cũng không có hại gì. Giờ được nhà văn Vũ Thất chỉ ra thì lại thấy là mình vừa bịa vừa sai. Muốn dùng chữ cuộn thì lại dùng chữ cọng. Muốn dùng chữ long chong thì lại gõ chong chong. Xin nhận tội dịch vừa bịa vừa sai, do đó nên gọi cách dịch này là dịch sịa bai. Cám ơn nhà văn Vũ Thất đã đọc bài và cũng cũng xin cám ơn BBT Da Màu, đặc biệt là ĐT Bích Thúy, là những người sau một ngày làm việc mệt mỏi đã có công làm công việc biên tập, sửa những lỗi vặt vãnh trong bài, nhất là bài của tôi.

    Cám ơn ông Khiêm đã trả lời giúp.

  • Khiêm says:

    Nhân đọc câu chuyện, xin được phép thay dịch giả trả lời một câu hỏi của độc giả VT.

    “Âm thanh kem xô cô la hạnh nhân của Thụy Sĩ tan chảy như thế nào?”

    Đây không phải là một câu dịch khó hiểu. Đây chỉ là một koan mà Gina đặt ra.

  • Vũ Thất says:

    Cám ơn nhà văn dịch giả Nguyễn Thi Hải Hà đã dành nhiều công sức sáng tác và giới thiệu độc giả Da Màu nhiều truyện, sách và nhiều đề tài văn học thời thượng. Hôm nay thêm một truyện ngắn thật hay của nhà văn gốc Đại Hàn Katherine Min, nhờ đó, lần đầu tôi có dịp làm quen văn chương Đại Hàn, sau các phim nổi tiếng “Appril Snow”, “Spring Summer Fall Winter and Spring”. Bản dịch lưu loát, truyền cảm, rất Việt Nam. Tuy nhiên vì không có link đến nguyên tác nên xin nêu vài thắc mắc cùng dịch giả:
    1. Truyện bàn về Phật giáo, nên (tác giả, dịch giả) dùng từ “chủng viện” có thể không thích hợp chăng? Đúng ra là tu viện.
    2. Hai câu sau đây khó hiểu: “trước thư viện như một cặp cỏ chong chong” và “Âm thanh kem xô cô la hạnh nhân của Thụy Sĩ tan chảy như thế nào?”
    Rất mừng có được những dịch giả nhiệt tình như Nguyễn Thị Hải Hà và Đinh Từ Bích Thúy.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)