Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 17, Dịch Thuật, Giới thiệu tác phẩm Email bài này

Con Chim Trong Đôi Tay Các Ngươi

0 bình luận ♦ 16.12.2006

Con Chim Trong Đôi Tay Các Ngươi (Phần I)
 
 
‘Ngày xưa có một bà cụ già. Mù nhưng khôn ngoan.’ Như vậy hay một ông cụ già? Một lão sư, có thể như vậy. Hay là một thầy phù thuỷ làm an lòng đám trẻ con bồn chồn. Tôi từng nghe câu chuyện này, hay một thứ truyện truyền khẩu như vậy trong kho tàng văn học dân gian của nhiều nền văn hoá.

‘Ngày xưa có một bà cụ già. Mù nhưng khôn ngoan.’

Trong mẫu chuyện tôi biết thì bà là con gái của hai người nô lệ, da đen, người Mỹ, sống một mình trong một căn nhà nằm ngoài quận trấn. Tiếng tăm về sự khôn ngoan của bà là rõ ràng không ai ví bằng. Đối với người dân làng mạc chung quanh thì bà vừa là luật pháp vừa là sự thách thức vượt qua luật pháp. Bà được nói tới với trọng vọng, nể vì, và tiếng tăm bà vang xa đi tới tận ngoài phố thị, nơi mà sự thông tuệ của những nhà tiên tri thôn dã vốn vẫn là nguồn mua vui cho dân thị phố.

Một ngày nọ bà cụ có khách viếng thăm, ấy là một đám thiếu niên muốn chứng minh sự thông tuệ của bà là không có thực, và tất cả là một trò gian, như đám thiếu niên này tin vậy. Mưu tính của họ đơn giản: họ vào nhà, hỏi bà cụ một câu hỏi mà câu trả lời dựa hoàn toàn vào sự khác biệt duy nhất giữa bọn họ và bà cụ, một sự khác biệt họ xem là một khiếm tật tuyệt đối trầm trọng.

Họ đứng trước bà, và một người trong đám lên tiếng hỏi, ‘Bà cụ già, ta nắm trong tay đây một con chim. Bà hãy nói là nó còn sống hay đã chết.’

Bà không trả lời, câu hỏi được lập lại, ‘Con chim trong tay ta đây còn sống hay đã chết ?’

Bà cụ vẫn không trả lời. Bà cụ mù không thấy được khách, nói gì tới cái trong tay họ. Bà không biết màu da, phái tính hay xứ sở của họ. Bà chỉ biết ý đồ của họ.

Sự im lặng của bà cụ kéo dài hơi lâu quá khiến cho đám trẻ gặp khó khăn khi muốn kéo dài tiếng cười đắc chí.

Sau cùng thì bà lên tiếng, giọng bà dịu mà nghiêm. ‘Tôi không biết,’ bà nói .’Tôi không biết con chim trong tay các anh sống hay chết, tôi chỉ biết một điều là chúng trong tay các anh. Chúng trong tay các anh.’

Câu trả lời của bà lão có thể diễn dịch hàm nghĩa: nếu nó chết, các anh đã tìm thấy nó như vậy, hay là các anh đã giết nó. Nếu nó còn sống, các anh vẫn còn có thể giết nó. Nó sẽ còn được sống hay không, ấy là quyết định của các anh. Đằng nào, ấy là trách nhiệm của các anh.

Bằng cách diễn hành uy quyền của đám trẻ và sự vô vọng của mình, đám khách đã bị khiển trách, đã bị bảo cho biết họ không chỉ chịu trách nhiệm với hành vi khiêu khích trêu ghẹo mà còn chịu trách nhiệm cho một sinh vật nhỏ đã bị hy sinh để họ đạt được cái mục tiêu của một ý đồ.

Bà cụ đã chuyển dịch sự chú mục từ sự trưng diễn quyền lực qua khí cụ để thi hành quyền lực ấy.

Diễn đoán gì (hơn là tấm thân yếu ớt của chính nó), ý nghĩa nào, qua truyện kể con chim trong tay luôn luôn đã lôi cuốn đối với tôi, nhưng đặc biệt là lúc này, như tôi vẫn từng suy nghiệm, về công việc mình làm, công việc mà đã đưa tôi tới với quí vị hôm nay. Tôi chọn đọc con chim kia là ngôn ngữ và người đàn bà trong câu chuyện là một nhà văn làm nghề. Bà ưu tư bằng cách nào ngôn ngữ, thứ ngôn ngữ trong đó bà đi tới với những giấc mộng, đã gởi trao cho bà tự sơ sinh, sẽ được sử dụng như thế nào, thậm chí sẽ bị tước đoạt khỏi bà ra sao cho những ý đồ ác hiểm. Là một nhà văn bà tư duy về ngôn ngữ, một phần ngôn ngữ như một hệ thống, một phần như một sinh thể mà một người có thể kiểm soát, nhưng phần lớn như là một tác nhân – một hành vi với những hệ quả.

Do đó, câu hỏi đám trẻ đặt ra cho bà: ‘Nó còn sống hay đã chết ?’ không phải là giả ảo, bởi vì chính bà vẫn quan niệm ngôn ngữ cũng chịu lẽ sinh tử; nó có thể bị đe doạ và chỉ có thể cứu vãn được bằng nỗ lực của ý chí. Bà tin rằng nếu con chim trong tay đám khách đã chết thì những kẻ bảo quản cho nó phải chịu trách nhiệm cho xác chết ấy. Đối với bà ngôn ngữ chết không chỉ là ngôn ngữ không còn ai nói, ai viết, mà thực ra ngôn ngữ xơ cứng, hài lòng để tự thán phục sư tê liệt của nó cũng là ngôn ngữ chết. Như là ngôn ngữ kiểm duyệt và bi kiểm duyệt của nhà nước chuyên chính. Cứng rắn không khoan nhượng trong nhiệm vụ cảnh sát, nó không có mục tiêu hay cao vọng nào khác hơn là duy trì sự thả rong của chủ nghĩa tự ca ngợi tự chiêm ngưỡng thế chế ngự độc tôn của nó. Dù ngắc ngoải thế nào nó vẫn không hết tác dụng, bởi vì nó đánh tê liệt tri thức, làm tắt nghẽn lương tâm, nhấn chìm những tiềm năng vươn tới. Câm điếc trước tra vấn, nó không thể nhóm thành hay dung túng những ý tưởng mới, tạo hình cho những tư tưởng khác biệt, đi kể một câu chuyện khác, phá đi sự im lặng khó hiểu. Ngôn ngữ nhà nước nhắm phê chuẩn sư ngu dân và duy trì đặc ân đặc huệ là một vỏ áo giáp được đánh lên ngời bóng tới kinh hoàng, một cái vỏ mà chàng hiệp sĩ đã thoát đi khỏi nó lâu lắm tự đời kiếp nào. Thế mà nó đứng đấy: im lặng đần độn, cổ lổ , tình cảm ướt át. Sư tôn kính phấn khích của học trò tiểu học đem lại chỗ trú an toàn cho những nhà độc tài, triệu gọi những ký ức mê muội gỉa tạo về sự ổn định xã hội, về sự hoà điệu nhịp nhàng giữa nhân dân.

Bà tin rằng khi ngôn ngữ chết, vì sự thiếu cẩn trọng, bỏ phế, thờ ơ, vì sự vắng mặt của lòng qúi trọng, hay vì bị thảm sát bởi qui thuận tán đồng, thì không phải chỉ bà, mà tất cả những người sử dụng ngôn ngữ và làm ngôn ngữ sẽ phải chịu trách nhiệm cho sự vong phế này. Trong xứ sở của bà trẻ con đã cắn đứt lưỡi và thay vì ngôn từ chúng đã sử dụng súng đạn để lập lại âm thanh của sự câm cứng, của ngữ ngôn bị tàn phế và gây tàn phế, của ngôn ngữ mà người lớn đã bỏ rơi tất cả, không còn đâu khí cụ cho cuộc đi tìm ý nghĩa, cho hướng dẫn chăm lo, cho tỏ bày tình yêu. Bà cũng biết cuộc tự-sát-tiếng-lời không phải chỉ là chọn lựa của trẻ con. Nó là rất phổ thông giữa những nguyên thủ quốc gia đầu óc làm như dừng lại ở tuổi lên ba, những con buôn quyền lực mà ngôn ngữ trống trơ của họ đóng bít lối đi vào phần còn lại của bản năng con người, bởi vì tất cả nhưng kẻ này lên tiếng chỉ cho những kẻ tuân phục dạ vâng, hay để lấy sức mạnh ép buộc sự tòng phục vâng dạ.

Sự vơ vét có hệ thống đánh vào ngôn ngữ có thể được nhận diện bởi khuynh hướng của những kẻ sử dụng ngôn ngữ buông bỏ tố tính tinh tế, đa phức, và bồng đỡ cuộc sản sinh của ngôn ngữ, để thay vì thế, hướng tới đe doạ và thôn tính. Ngôn ngữ trấn áp không chỉ là biểu hiện của bạo động; nó chính là bạo động. Nó giới hạn kiến thức. Là ngôn ngữ khuất tối của nhà nước hay ngôn ngữ giả tạo của giới truyền thông vô tâm; là ngôn ngữ hãnh diện nhưng xơ cứng hóa vôi của hàn lâm hay ngôn ngữ khoa học phục vụ thương mại; là ngôn ngữ ma lanh của luật pháp vô đạo lý hay ngôn ngữ được kế hoạch để xua đuổi thiểu số, giấu che sự tham ô cưỡng chế mang tính kỳ thị chủng tộc trong vỏ ngôn từ văn hoa, thì những ngôn ngữ ấy phải bị khước từ, phải được đưa ra ánh sáng và phải được thay đổi. Ấy là ngôn ngữ uống máu, lợi dụng sự yếu mềm, che đầu giày sô phát xít trong vải xoa đạo mạo và chủ nghĩa ái quốc trên tuyến đi không lơi tốc độ hướng tới vạch bần cùng và tâm thức bị cạo sạch. Ngôn ngữ kỳ thị giới tính, kỳ thị chủng tộc, ngôn ngữ thần quyền – tất cả tiêu biểu cho những ngôn ngữ cảnh sát lão luyện, không thể và không bao giờ cho phép kiến thức mới, hay khuyến khích cho những trao đổi tư tưởng hỗ tương. Bà lão ý thức rõ ràng những tay đánh thuê trí thức, những tay độc tài tham lam vô đáy, những tay chính trị bị mua chuộc bởi tài lực, những tay hùng biện xảo ngôn sẽ không bao giờ được thuyết phục bởi những ý tưởng của bà. Đang có và sẽ còn có thứ ngôn ngữ khơi động hầu vũ trang hóa người công dân trong nước; thứ ngôn ngữ gây thảm sát trong những thương xá, pháp đình, văn phòng bưu điện, sân chơi, phòng ngủ, đường đi; thứ ngôn ngữ khích động nhắc nhở ghi nhớ làm bình phong cho bao cái chết phí phạm không cần thiết. Sẽ có những thứ ngôn ngữ ngoại giao hơn để hỗ trợ cho cưỡng hiếp, tra tấn, ám sát. Sẽ có những ngôn ngữ biến thái hơn khiêu gợi hơn, được nghiên cứu có kế hoạch, để bóp cổ phụ nữ, để đóng chẹn vào cổ của họ như vào ngỗng béo làm paté bằng những chữ lời tục tằn phạm pháp của chính họ. Sẽ có thêm những ngôn ngữ giám thị ngụy trang nghiên cứu; ngôn ngữ của chính trị và lịch sử tính toán để làm câm nín khổ đau của hàng triệu con người; ngôn ngữ được tô điểm rực rỡ để gây mê cho những người nghèo khổ phải xâm hại láng giềng của họ; thứ ngôn ngữ kiêu ngạo giả danh thực nghiệm được tô vẽ để khóa trái người sáng tạo vào những cũi chuồng cúa mặc cảm thua kém và tuyệt vọng.

Dưới vẽ văn hoa hùng biện và những quan hệ hàn lâm, dù mời mọc hay gây xúc động ra sao, thì trái tim của ngôn ngữ ấy vẫn đang chết lần mòn, hay đã không còn một nhịp đập nào nữa – như là con chim kia đã chết trong tay nọ.

(còn tiếp)

bài đã đăng của Toni Morisson

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)