Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 11, Phỏng vấn Email bài này

Gặp Gỡ Nỗi Buồn Bã Tuyệt Vời

Gặp Gỡ Nỗi Buồn Bã Tuyệt Vời

Trong Văn Chương Của Ngô Nguyên Dũng

Hồ Trường An (HTA):
Xin anh tóm tắt đường lối văn chương, đề tài trong hai tập truyện ‘‘Mười hai hoa cúc’’ và ‘‘Dòng chữ tâm tình’’ của anh. Có phải anh viết về cái thế hệ thanh niên Việt Nam trưởng thành trong thập niên 70 của Thế Kỷ 20, trong đó có anh? Vậy cái khát vọng của họ ra sao?
Ngô Nguyên Dũng (NND): Hai tập truyện đầu tiên của tôi, ‘‘Dòng chữ tâm tình’’‘‘Mười hai hoa cúc’’, là những bước khởi hành cho một chuyến phiêu lưu vào thế giới văn chương, tuy dọ dẫm, e dè nhưng với thật nhiều đam mê và hăng hái. Không gian và thời gian của những truyện ngắn trong đó tương đối đa dạng, không nhất thiết phản ảnh ‘‘thế hệ thanh niên Việt nam trưởng thành trong thập niên 70 của thế kỷ 20’’. Thuở đó, những năm 1987-1988, mỗi khi tôi đặt bút là một chặng đường mới với những ý tưởng được nhặt nhạnh đâu đó, rất thường xuyên: lúc ngồi trong xe điện tới trường, khi xem một đoạn phóng sự hay một cuốn phim hay trên màn ảnh vô tuyến, sau khi nghe kể một mẩu chuyện thương tâm, … Có thể nói, khát vọng của những nhân vật truyện cũng là khát vọng của tôi, cố gắng đóng trọn vai trò của mình bằng cái đẹp của văn tự, có sức mạnh bó buộc người đọc phải bận lòng suy ngẫm khi gấp sách lại. Chúng ẩn náu ít nhiều giữa những hàng chữ. Tôi đã tự chọn cho mình những lối đi khúc khuỷu để khởi hành.
HTA: Trước khi bắt đầu viết tác phẩm ‘‘Đêm’’, cái khuynh hướng mà anh nhắm tới là gì? Tạo dựng cho mình một trường phái mới? Hay chỉ nhắm vào nghệ thuật sáng tạo của mình, chẳng cần biết tác phẩm ấy được đặt vào trường phái nào?
NND: Tôi đã và sẽ không bao giờ sử dụng loại văn chương có khuynh hướng. Tôi thích chọn những nhân vật có những ham muốn vị kỷ, tầm thường, nếu không muốn nói là hạ cấp, nhưng tiềm tàng trong họ, đâu đó, là những chấm sáng của lòng vị tha khác thường, với lối hành xử độ lượng, và những ấn tượng huyễn hoặc, gây hoang mang cho đối tượng văn chương cũng như người đọc. Đó là một trong vài mục tiêu cố ý của tôi khi viết ‘‘Đêm’’. Hẳn chúng không phải là ‘‘khuynh hướng’’, cũng không phải là ‘‘trường phái’’ hay ‘‘đoản phái’’ gì, mà chỉ là những cảm xúc ngẫu nhiên trong khi sáng tạo. Của tôi. Khoảnh khắc đó.
HTA: Long là một nhân vật phụ, nhưng đứng ở thế chủ động nhiều hơn Khải, nhân vật chánh. Theo anh, sự có mặt của Long để tác giả khai thác hoặc thắp sáng điều gì cho nhân vật Khải?
NND: Long trong ‘‘Đêm’’ là đối ảnh trong gương của Khải. Tôi dựng nhân vật Long không phải để thắp sáng nhân vật Khải, mà với ý định khơi thức đốm lửa hạnh bao dung, phóng khoáng trong tâm cảm của người đọc. Mỗi chúng ta, ai cũng có thứ ‘‘lửa hạnh’’ ấy. Chỉ vì tro bụi của định kiến xã hội mà đốm lửa tuyệt vời ấy bị che lấp. Nhiều khi sâu kín tới độ, có người cho rằng, ‘‘Đêm’’ là một quyển truyện nhơ nhuốc, lầy lụa, được viết ra với mục đích cổ xuý thứ dục cảm đồng tính bệnh hoạn. Với họ, không có năng lực nào khả dĩ nhen sáng đốm lửa đã tắt ngúm tận đáy tiềm thức hẹp hòi. Nhưng tôi luôn luôn tin rằng, nó vẫn hiện hữu đó. Có lẽ văn chương tôi không phải là chất xúc tác thích hợp để tạo phản ứng. Hoặc, mục đích của Long, của ‘‘Đêm’’ và cũng là của tôi nặng nề quá, tài sức cá nhân tôi không kham nổi.
HTA: Cả Long lẫn Khải đều là hai nhân vật lưỡng tính luyến ái. Nhưng trong hai chàng ấy, ai nghiêng nặng về đồng tính luyến ái nhiều hơn? Tôi có cảm tưởng Khải làm tình với Hanna vì thiếu thốn tình cảm vì nhu cầu xác thịt hơn là theo động lực của tình yêu. Anh nghĩ sao?
NND: Long ‘‘bị’’ tôi bức ghép hành nghề điếm đực cũng như bản sắc lưỡng tính luyến ái vì ‘‘hoàn cảnh văn chương’’ thuần tuý. Long ‘‘yêu’’ Khải qua hình tượng quê hương Việt nam mắc xích chằng chịt phân nửa trong nhiễm sắc thể anh. Long làm cái nghề hạ tiện ấy vì hội đủ yếu tố ‘‘hoàn cảnh’’. Còn Khải mới đích thực là người đồng tính luyến ái. Quan hệ dục tính của anh với nhân vật Hanna chỉ là một cách định hướng cảm xúc. Khải thiếu may mắn hơn Long, vì anh ‘‘bị’’ tôi xử ức, tròng cho thứ tâm lý dằng co, muốn chối bỏ, tráo trở bản tính mình bằng cách này hay cách khác. Thất bại là lẽ đương nhiên. Riêng Long được tôi ưu đãi, ban tặng cho anh cái tâm lý biết rõ mình muốn gì, cái phong cách xử sự sòng phẳng, đối đãi với bản thân và với tha nhân không quanh co, khách sáo. Anh chọn đường thẳng mà đi. Anh có được khả năng tự nhen lấy lửa hạnh để thắp sáng hành trình trong đêm tối của dục vọng nhân sinh thường tình.
HTA: Tại sao Khải cứ loay hoay trong cái lưỡng tính luyến ái của mình mà đương sự gọi là bản ngã nhị trùng nhưng vẫn chưa nhận thức được cái bản chất của tình yêu của mình. Như thế, tác giả cứ để anh ta loay hoay cho tới cuối truyện. Đó có phải là tấn thảm kịch của con người thời đại (mình đánh lạc chính mình) chăng?
NND: Anh nhận xét đúng về bản chất tình yêu của nhân vật Khải. Chính Khải lại không thể nhận diện mình, còn bào chữa cho đó là một thứ ‘‘bản ngã nhị trùng’’. Cứ vậy, loay hoay, quanh quẩn rối rắm trong ngục thất của tư tưởng, suốt đời. ‘‘Thảm kịch của thời đại’’, nhiều khi, là do mình gây ra, dựng nên, xây thành đắp lũy, kiên cố tới độ không ai lay chuyển nổi. Thật sự là như vậy.
HTA: Anh có xem phim ‘‘Psychose’’ của Alfred Hitchcock không? Nhân vật Norman Bate (do Anthony Perkins đóng) có bản ngã nhị trùng: khi thì anh ta sống bằng con người hiền lành nhút nhát của anh ta, khi thì anh sống bằng con người ghen tuông độc ác của mẹ anh ta. Anh có cái bản ngã nhị trùng khi cầm bút viết văn không? Thế có nghĩa là khi viết văn anh sống bằng con người nào ngoài con người đích thật của anh?
NND: ‘‘Psychose’’ của Hitchcock là một cuốn phim lừng danh, đã trở nên một thứ ‘‘di sản tôn thờ’’ của bộ môn điện ảnh. Nhưng tôi nghĩ, khi đạo diễn Hitchcock quay nó, chắc hẳn ông chỉ có ý nhằm gây chấn động tâm lý. Tôi viết ‘‘Đêm’’ không với mục đích đó, mà với những dằn vặt, trăn trở với vấn đề được tôi đưa ra. Long và Khải hoàn toàn vô tội. Nếu bị kết tội, tôi xin đứng ra nhận lãnh. Tội của tôi là đã khai sinh ra những nhân vật đứng bên lề đời sống, là rác rưởi của xã hội. Tội của tôi là đã dan díu với họ bằng thứ dục tính cấm kỵ, nhơ bẩn đó. Thật vậy, thoạt đầu tôi chỉ có ý định viết một truyện ngắn có tựa ‘‘Đêm như bàn tay dịu dàng’’, được cảm hứng sau khi tôi đọc đoản văn ‘‘Verwirrung der Gefuehle’’ của Stefan Zweig. Nhưng rồi tôi cảm thấy vẫn còn những băn khoăn trong tôi, như thể nuốt phải trái cấm, bị nghẽn ở cổ, phải viết thêm với hy vọng tiết đủ dịch vị tiêu hoá nó. ‘‘Đêm’’ trở thành quyển truyện vừa vì vậy. Thuở ấy tôi đang làm luận án tiến sĩ, trọ trong một căn phòng hẹp dưới mái ngói. Tôi chỉ có thì giờ viết vào ban đêm. Tôi nhập vai dễ dàng, lúc là Khải, khi là Long, nhập nhằng, lẫn lộn. Nếu gọi đó là ‘‘bản ngã nhị trùng’’, chắc cũng không sai. Nhưng tính phân đôi bản ngã của tôi không trực tiếp gây ra thảm kịch như nhân vật Norman Bate trong ‘‘Psychose’’. (Xin nhắc thêm, lúc phim này được chiếu ở Sài gòn, cấm trẻ em dưới 18 tuổi. Tôi ức lắm vì không được chị dẫn theo. Hỏi chị, phim có gì mà họ cấm con nít coi. Chị tôi không tiết lộ. Khi ra nước ngoài, tôi mới được xem trên truyền hình.)
Các nhân vật trong ‘‘Đêm’’, không có ai bị ám sát. Ngược lại, Long còn được tôi dâng tặng cho diễm phúc gặp người bạn đời Hansi tử tế. Phần Khải, anh tìm cách tự bôi mình, về thăm quê hương, thuở chưa xảy ra biến cố 1975, để tìm quên. Nói như vậy có nghĩa, người nghệ sĩ nào, dù trình diễn hay sáng tạo, cần (phải) nhập vai mới có thể hình thành trọn vẹn những nhân vật hư cấu. Họ là kẻ khả dĩ đáp ứng được nhu cầu tiêu khiển cho người khác. Thành công hay thất bại, lại là chuyện khác.
HTA: Bức thư ở chương chót của ‘‘Đêm’’ mà Khải viết cho Long rất thấm nhuần tư tưởng Phật Giáo. Nhưng Khải đã dự tính gì? Đi tu? Vun quén những tư tưởng giác ngộ? Hay tài bồi cho hệ thống nhân sinh quan của mình thêm phồn thịnh? Hay còn ý tình nào khác nữa? Hoặc là anh buông lửng để cho dộc giả tự suy đoán lấy?
NND: Không có nhân xưng ngôi thứ nhất trong ‘‘Đêm’’, nhưng toàn truyện gần như được viết qua nhãn quan của Khải. Tâm trạng anh ta khi rời chỗ trọ chung với Long là một nỗi hoang mang lớn, không biết bản sắc dục tính đích thực của mình là gì? Tôi ép suy tư Khải vào đôi ba mảnh vụn của tư tưởng Phật giáo, phần lớn cốt ý bồi đắp vào câu chuyện cái nền tảng đông phương cho những nhân vật tình cờ hạnh ngộ nơi xứ lạ. Họ lưu vong theo ý nghĩa không được may mắn sống ở quê nhà, nhưng hoàn toàn không lưu vong trong miền đất tâm cảm. Phần khác, tôi dùng đó để chắn gió. Thuở ấy tôi còn thiếu tự tin. Quả thật, sau khi chương ‘‘Như hạnh của đất’’ được phổ biến, đã có người cho rằng tôi đã ‘‘bày đặt’’ đem triết lý Phật giáo vào một truyện đồng tính luyến ái xấu xa, dơ bẩn. Đã là người viết, cho tôi xin có được cái quyền tự do tối thiểu ‘‘bày trò’’ và ‘‘đặt điều’’ trong lúc sáng tạo. Thì có gì là sai trái?
HTA: Vấn đề đồng tính luyến ái, trong văn chương và trong kịch ảnh bị nhìn một cách phiến diện và lệch lạc. Những anh chàng gays thường bị nhà văn và nhà viết kịch bản vẽ bằng những nét biếm họa lố lăng. Anh đã được xem qua cuốn phim nào, cuốn tiểu thuyết nào mô tả trung thực các anh chàng gays cùng tâm tình và nếp sinh hoạt của họ?
NND: Nhiều văn bản cũng như kịch bản điện ảnh mô tả chuyện đồng tính luyến ái phiến diện, lố bịch, lệch lạc một cách ngớ ngẩn, chỉ vì người viết không muốn (?) và không hội đủ trình độ nhận thức tính đa dạng, sâu sắc của tình yêu. Tôi nghĩ không nhất thiết được nhắc tới ở đây.
Vài cuốn phim đúng đắn, có giá trị về đề tài này, mà tôi được xem, có ‘‘Maurice’’ phỏng theo tiểu thuyết cùng tựa của E.M. Forster, thuật lại chuyện tình hoa niên, thánh thiện giữa hai sinh viên đại học Cambridge vào đầu thế kỷ 20; phim Trung hoa ‘‘Vĩnh biệt hầu thiếp’’ (Lebewohl, meine Konkubine) nói về cuộc đời của một nam diễn viên hát Hồ Quảng chuyên đóng vai đào trong giai đoạn Nhật bản chiếm đóng Trung quốc; phim ‘‘Philadelphia’’ với một Tom Hanks cực kỳ xuất sắc; và mới đây ‘‘Brokeback Mountain’’ của đạo diễn Ang Lee gây nhiều tranh luận trái ngược tại Hoa kỳ, … Trong bộ môn văn chương, ở người, ngoài ‘‘Maurice’’ ra tôi còn đọc được ‘‘Tự thú của một chiếc mặt nạ’’ (Gestaendnis einer Maske) của Yukio Mishima, ‘‘Hãy ngắt những nụ non…’’ (Reisst die Knospen ab…) của Kenzaburo Oe, … Ở ta, ngoài nước, ‘‘Hợp lưu’’ của Hồ Trường An, theo tôi, là một trong vài quyển tiểu thuyết sáng giá của văn chương Việt nam lưu vong, và một số truyện ngắn đặc sắc khác. Tuy nhiên, ‘‘Hợp lưu’’ không phải là cuốn tiểu thuyết thuần đồng tính luyến ái, nhưng sâu sắc ở chỗ tác giả đã ghép được đề tài này vào cuộc sống tình yêu, tình dục dị tính như một lẽ tự nhiên với những dục vọng bất an, trăn trở được thăng hoa bằng tư tưởng Phật giáo đã tới độ phá chấp. Trong tương lai, nếu cơ duyên đưa đẩy, tôi cũng sẽ cho ấn hành một tập truyện với chủ đề này. Tại sao không ? Nhiều quốc gia Tây phương đã có riêng những nhà xuất bản chuyên ấn hành sách văn chương về đồng tính luyến ái, đủ hiểu số lượng độc giả tiêu thụ thể loại này rất đáng quan tâm.
HTA: Theo anh, Long và Khải yêu nhau có trái với thiên nhiên không? Anh có thể chấp nhận một anh chàng gay mà phải sống như người đàn ông bình thường tức là người đàn ông dị tính luyến ái không (les hétérosexuels) không?
NND: Tôi nghĩ, đáng lẽ nên dùng hai chữ ‘‘tự nhiên’’ hơn là ‘‘thiên nhiên’’. Tôi e rằng ‘‘thiên’’ cũng có thể được hiểu ‘‘do trời xếp đặt’’. Vậy, đã là tình yêu thật sự, thì sao lại trái tự nhiên, dẫu đó là thứ tình yêu giữa hai người cùng phái ? Riêng tôi khó lòng chấp nhận một người đàn ông có bản sắc đồng tính luyến ái lại lập gia đình, có con, vì như vậy tức là ông ta là người dối trá. Khéo, chỉ cá nhân ông ta triền miên đau khổ. Vụng, sẽ liên luỵ tới nhiều người khác. Nhưng, tôi chỉ có thể phán đoán được như vậy, vì thói lề xã hội hiện đại đã phóng khoáng nhiều lắm so với quá khứ. Những văn gia tăm tiếng như E.M. Forster, Stefan Zweig, Thomas Mann, và nhiều người khác nữa không may sống trong những thế kỷ trước, đành phải mang theo xuống mộ nỗi khổ và tính dối lừa chỉ vì luật lệ của số đông.
HTA: Nhân vật con điếm rẻ tiền Rita và cảnh du học thiếu thốn của Khải gây cho tác phẩm một chút hơi hướm của tiểu thuyết xã hội, một chút bụi phấn của trường phái hiện thực. Anh có đồng ý không?
NND: Thứ nhất, chủ ý của tôi khi đưa nhân vật Rita, một ả điếm đứng đường rẻ tiền nghiện bạch phiến là để vấy bẩn diện mạo xã hội, khiêu khích những kẻ tự cho mình đạo đức, thánh thiện; đồng thời khơi sáng thêm tính hạnh của nội tâm Long. Thứ hai, ‘‘hoàn cảnh du học thiếu thốn’’ của Khải là phản ảnh trung thực cuộc sống của chính tôi thuở đó: gần như không có gì ngoài mớ hành trang học thức hào nhoáng, nhưng rất chân thật trong những khuya tịch mịch với bút giấy hoang tưởng trước mặt. Rita và Khải được khai sinh không nhắm vào trường phái văn chương nào cho tác phẩm. Nếu có, thì đó chỉ là phân định của những nhà phê bình văn học.
HTA: Từ bao thế kỷ qua, thiên hạ thường đóng khung cái giá trị của tác phẩm văn chương trong ba yếu tố: Chân, Thiện, Mỹ. Nhà văn Doãn Quốc Sĩ cho rằng ba yếu tố ấy phải soi gương cho nhau để làm thành một tác phẩm hay. Nhưng hình như theo vận hành đổi mới của văn chương, cái Chân, cái Thiện bị lu chìm. Còn cái Mỹ thì thiên biến vạn hóa khó xác định. Vậy thì cái giá trị của văn chương căn cứ vào đâu?
NND: Tôi tin rằng, số người viết hiện thời không còn đóng khung trong bất kỳ tiêu chuẩn sáng tác nào. Văn chương là gì, nếu không là tấm gương soi rọi đời sống nội tâm cũng như ngoại giới. Cho tôi đặt lại vấn đề: Chân, Thiện, Mỹ sẽ không hiện hữu nếu không có cái Giả, cái Ác, cái Xấu đối chiếu. Mọi vận sự xảy tới cho chúng ta, cũng như quan niệm về tất cả biến cố nhân sinh, theo tôi, đều có tính cách tương đối. Sự thật qua lăng kính xét đoán của mỗi cá nhân không hoàn toàn giống nhau. Giết người là ác, nhưng có trường hợp phải giết thai nhi để cứu người mẹ, thì sao? Còn tính Đẹp phải được định nghĩa như thế nào cho phải, để tất cả mọi người chúng ta đều công nhận ? Vì vậy, một tác phẩm hội đủ ba yếu tố Chân, Thiện, Mỹ chưa hẳn là một tác phẩm hay hoặc có giá trị. Tiểu thuyết diễm tình của bà Quỳnh Dao, theo nhận xét của nhiều người, nhất định là hay, nhưng không hẳn có giá trị. ‘‘Ulysses’’ của James Joyce có giá trị, nhưng chưa chắc đã hay. Thế nên, rất khó định giá một áng văn chương, cũng như không thể gò bó tiêu chuẩn giá trị một văn phẩm trong bất kỳ công thức nào. Nếu gượng mà chọn cho nó một cái khung để chấm giải (chẳng hạn), thì chấp nhận được.
HTA: Anh có thường đọc những nhà văn gốc Đức không? Nếu có, anh còn thích những ai ngoài Thomas Mann và Herman Hesse? Họ đã soi sáng cho anh những điều gì trong nghệ thuật sáng tạo? Cả Truman Capote, nhà văn Hoa Kỳ nữa, ông ta đã giúp anh gặt hái những điều gì trong kinh nghiệm viết lách?
NND: Tôi có đọc những nhà văn Đức, nhưng không nhiều. Đúng ra, tôi không thật sự yêu thích ai, cả Heinrich Boell hay Guenter Gras. Có một dạo, tôi tâm đắc văn phẩm của W.S. Maugham (một nhà văn Anh) đến nỗi tìm mua và đọc cạn ráo tất cả những gì ông viết. Không phải quyển nào của ông cũng xuất sắc. Ông có lối hành văn (được chuyển dịch sang Đức ngữ) tự nhiên, đơn giản theo phong cách của một người kể chuyện. Nhiều truyện ngắn của ông lấy bối cảnh Đông phương, nhất là tại các quần đảo trong Thái bình dương, rất gần gũi với cảm quan tôi.
Còn văn phong của Truman Capote hoàn toàn khác. Tôi đắc ý ‘‘Điểm tâm ở Tiffany’’ (Breakfast at Tiffany), phần lớn do cuốn phim với một Audrey Hepburn tuyệt vời. Truyện ngắn ‘‘Soi vùng ký ức’’ của tôi trong tập ‘‘Mười hai hoa cúc’’ được khởi hứng từ đó.
HTA: Anh thường bảo bạn bè rằng anh thích các tác phẩm Gabriel Garcia Marquez (giải Nobel năm 1982). Anh đã tìm gặp những gì tâm đắc trong văn chương ông ta?
NND: Tôi chuộng ‘‘Tiến trình của một cái chết được báo trước’’ (Chronik eines angekuendigten Todes) của Gabriel Garcia Marquez. Và một tập truyện ngắn khác. Riêng hai quyển ‘‘Trăm năm cô đơn’’‘‘Tình yêu trong thời dịch tả’’ nằm trên kệ đã lâu, nhưng… chưa đọc, vì biếng nhác. Nhận xét phiến diện của tôi, truyện của ông có nhiều chi tiết huyễn hoặc lồng trong những diễn biến hiện thực, với lối hành văn đầy mỉa mai, châm biếm, lạnh lùng, đôi khi dịu dàng, và tàn bạo. Những nhân tính đối ngược ấy được ông phơi bày tinh tế và sống động trong một hoạ phẩm văn xuôi, vẽ lên tập tục cùng bản sắc của người dân một xứ châu Mỹ la-tinh còn nặng nề phong kiến. Tác phẩm của ông chắc chắn không có Chân và Thiện. Còn Mỹ, có hay không, tuỳ vào cảm quan của người đọc.
HTA: Xin anh nói sơ lược khuynh hướng văn chương của 3 tập truyện ‘‘Tiếng núi’’, ‘‘Chuông đêm’’ và ‘‘Âm bản’’. Ngoài ra, anh còn nhắm vào những điều gì khi viết những truyện ngắn trong 3 tập truyện ấy?
NND: Tôi không thể trả lời rốt ráo câu hỏi này, vì không muốn dông dài. Chỉ xin vắn tắt. Như tôi đã khẳng định, tôi không có chủ đích chọn khuynh hướng khi sáng tác. Còn như viết để nhắm vào một điều gì, cũng không nốt. Cái viết của tôi phát xuất hoàn toàn từ cảm hứng. Có nên gọi đó là ‘‘phát tâm sáng tạo’’ không ? Những truyện trong ‘‘Tiếng núi’’ được tôi chọn lựa kỹ lưỡng. Một lẽ tình cờ, chúng đựng nhiều suy tư về ý nghĩa hai chữ ‘‘quê hương’’. Ngay cả âm thanh huyễn ảo của rặng núi đá trong một đêm thao thức nơi xứ người cũng đủ gây bất an tâm lý lẫn sinh lý cho nhân vật người chồng. Và rải rác cùng khắp, chỗ đậm chỗ nhạt, là những mảnh thời gian và không gian nhạt màu quê quán.
Quyển ‘‘Chuông đêm’’ là tập hợp những truyện ngắn đã được đăng tải trên nguyệt san Làng Văn dạo đó. Một lẽ ngẫu nhiên, truyện ngắn ‘‘Chuông đêm’’ cũng đậm đà tâm tưởng ‘‘quê hương’’, nhưng qua cách ứng xử của một đứa trẻ con.
Truyện ngắn ‘‘Âm bản’’ làm nền cho tuyển tập cùng tựa là kết quả của một hạnh ngộ được văn chương đưa đẩy, với nhiều dục cảm hoang tưởng.
Điểm lại, những sáng tác của tôi lúc bấy giờ không được định hướng, như một thân gỗ còn nồng ẩm nhựa sống, bấp bênh trong bão sóng đại dương của tư tưởng. Nhiều sắc lạnh. Nhoà nhạt bóng tối. Đậm sệt phút giây cô quạnh không rõ nét. Mất nhiều hơn được. Cho và nhận không tương xứng. Nhưng tôi đã cố gắng tự vệ, chống đỡ bằng niềm tin ở sức mạnh của chữ viết. Liên tục. Cho tới bây giờ.
HTA: Ở hải ngoại hiện nay, những cây bút đồng thời với anh và những cây bút theo sau anh đang tung hô văn chương đương đại, văn chương hậu hiện đại, thơ tân hình thức. Anh có ý kiến gì không? Hay đây chỉ là thời trang, chỉ là phong trào? Nhưng nếu là thời trang hay phong trào thì nó chỉ gây ồn ào nhất thời để rồi bị thời trang khác, phong trào khác khỏa lấp?
NND: Anh đã trả lời giùm tôi phần nào câu hỏi này. Người viết ở một nơi mà tư tưởng diễn đạt không bị bất kỳ quyền lực nào chi phối hay cấm đoán, đều có quyền lựa chọn cách thức viết. Chúng khoác cho văn chươg tấm áo đa dạng, tạp sắc. Nhưng nhất định đó không phải là diện mạo đích thật của thi văn. Những chiếc mặt nạ của lễ hội hoá trang hằng năm được tưng bừng, tở mở đón nhận. Chỉ một mùa ngắn ngủi. Sau đó chúng mang số phận hẩm hiu cùng với những vật dụng phế thải khác, chờ được tái chế biến thành những món trang sức cho mùa lễ hội kế tiếp. Phát biểu lộng ngôn như vậy, không khéo có người cho tôi ‘‘bày đặt, biết gì mà nói’’. Vì văn chương không có mẫu số chung, cũng không được tính toán bằng công thức, quả khó lường. Thôi thì sáng tác sao, viết gì, tuỳ ý tứ mỗi văn gia thi sĩ, miễn sao gây được xúc cảm cho người đọc. Đủ rồi!
HTA: Trong truyện dài ‘‘Khung cửa nắng’’, tôi thấy hình như anh khai thác một vài khía cạnh trong xã hội: ngành văn chương báo chí, ngành ca nhạc… Hình như để triển khai những vấn đề bí ẩn thâm sâu, anh phải dùng cái nền tảng hiện thực làm chuẩn (hay làm điểm tựa), có đúng không?
NND: Đúng vậy. Tôi ‘‘sính’’ dùng cách thức xây nền, dựng vách như vậy để khai triển ý huyễn, tính tưởng, những lý lẽ không bền của đời sống, với ước vọng được bạn đọc chia sẻ. Tôi, một ‘‘nhà’’ văn không mái không cửa, toang toác mở ra vùng mênh mông của ý tưởng. Lúc nắng lúc mưa. Đổi sắc theo thời tiết vận hành. Có mất theo định luật thịnh suy vô lường của vật dục. ‘‘Ngôi nhà’’ trong xứ tưởng của tôi có nhiều ‘‘khung cửa’’ mờ như vậy, cho ‘‘nắng’’ lùa vào những bình minh của chữ. Nắng là biểu tượng của sức sống, nhưng nắng cũng mang theo vô số bụi nhân sinh. Có thể nói, nhờ nắng sáng mà ta nhận ra bụi lấm. Không ai trong chúng ta hoàn toàn, thật sự trong sáng, mà đầy bụi ám trong ngoài. ‘‘Khung cửa nắng’’ được viết ra cốt để nhận diện bụi.
HTA: Theo tôi, ‘‘Khung cửa nắng’’ trình bày một góc nhỏ của cái xã hội trí thức tiểu tư sản ở một thành phố nào đó bên Đức. Nó không tiếp hơi cái luồng gió mới đã thổi lồng lộng trong ‘‘Đêm’’. Nếu nhận xét đây sai sót, xin anh cho biết thêm anh muốn nói điều gì khác ở tác phẩm truyện dài này?
NND: Tôi không nêu ra địa danh nào rõ rệt trong ‘‘Khung cửa nắng’’, nhưng ý tôi muốn gói nó trong bối cảnh của cộng đồng Việt nam tị nạn tại Hoa kỳ. Nó là một mảnh quê nhà thu hẹp, nhưng không vì vậy mà nồng độ những tệ trạng xã hội cao hơn. Chúng nổi bật chỉ vì đời sống tại đây quá nhiều phẳng lặng. Chúng khác thường vì vô số thảm cảnh đã xảy ra cho nhiều người trong hành trình vượt biên. Từ đó nẩy sinh những biến thái tâm sinh lý. Nếu hiểu ‘‘trí thức tiểu tư sản’’ theo nghĩa ‘‘mỗi người dược quyền làm chủ một ít sản vật riêng’’, tâm linh cũng như vật chất, thì không sai. Nhưng dụng ý của tôi là đặt cho ‘‘Khung cửa nắng’’ một bài toán đố tâm linh không lời giải. Nó hoàn toàn khác bài toán trong ‘‘Đêm’’, mà có vẻ như gần gũi và cập nhật hơn với đời sống của người Việt ly hương. Cũng như Khải trong ‘‘Đêm’’, nhân vật Đặng Tường trong ‘‘Khung của nắng’’ suốt đời mải miết đi tìm. Có lẽ anh ta sẽ tìm thấy qua văn chương, một lúc nào đó.
Hơn nữa, sau khi viết ‘‘Đêm’’, tôi muốn viết một cái gì khác, không nhất thiết phải mới, nhưng khác. Vì cuộc sống tự nó đa dạng, không phải chỉ luẩn quẩn trong diện tích giới hạn của một vài vấn đề luyến ái chỉ gần gũi tuyệt đối với thiểu số.
HTA: Nhân vật Đặng Tường là mẫu người chạy đuổi theo bóng những người đàn bà khác nhau, những ảo ảnh hạnh phúc khác nhau. Nhưng có phải thật ra đương sự chạy đuổi theo cái bóng của chính anh ta không? Hội chứng căn bịnh của anh ta là gì? Đây là một nhân vật độc đáo. Anh có thấy tác phẩm ‘‘Khung cửa nắng’’ nhờ Đặng Tường mà nó được pha loãng tính chất hiện thực ít nhiều không?
NND: Đặng Tường đuổi theo bóng ảnh của lý tưởng qua biểu tượng tình yêu khác nhau của những người đàn bà: Trầm Hương vừa là tình nhân vừa là người mẹ, người chị chở che, nâng đỡ; Lý Vân là hiện thân cùa tuổi thanh xuân đã đánh mất. Nếu phải chẩn ‘‘bệnh’’, có lẽ nên khoác cho anh ta hội chứng tâm lý ‘‘lý tưởng hoá’’ là vừa vặn hơn cả. Nói cách khác, Đặng Tường là mẫu văn sĩ điển hình đóng khung trong ba tiêu chuẩn Chân, Thiện, Mỹ. Anh ta không thể đối diện chung chạ với thảm cảnh mà Trầm Hương đã rủi ro gặp phải trên đảo tị nạn, dẫn tới hậu quả rành rành là đứa con với chứng bệnh si ngốc. Anh ta không những rượt đuổi theo ảo ảnh hạnh phúc cá nhân, mà còn lẽo đẽo tìm bắt ý nghĩa của văn chương và đời sống. Chung cuộc, vô tình rơi vào không tính của triết lý Phật giáo.
HTA: Nhân vật Trầm Hương hoàn toàn quá, tình lý đồng cân quá nên không hợp với tân tiểu thuyết. Nhưng có phải chăng anh dựng nhân vật này để làm đậm nét cái hội chứng tâm lý chênh chông của nhân vật Đặng Tường hay không? Đó cũng như dùng phép tương phản để làm nổi bật cá tánh của nhân vật chánh, có phải?
NND: Trầm Hương bỏ Tính để sống chung với Đặng Tường, trẻ hơn bà ta nhiều tuổi, là thái độ bỏ hình bắt bóng. Rồi sau đó độ lượng chấp nhận, tha thứ cho Đặng Tường tất cả mọi chuyện… Bản tính của nhân vật Trầm Hương hoàn toàn không thực tế với hoàn cảnh xã hội hiện đại, lại là một môi trường sinh hoạt của giới văn nghệ sĩ nhốn nháo, đầy toan tính, cạnh tranh, phỉnh lừa, … Người thật sự lương thiện hiếm hoi. Nhưng tôi vẫn lạc quan tin tưởng, không phải không có. Mà Trầm Hương là nhân vật điển hình. Tâm trạng bà ta sau những ganh đua, bon chen trở nên mệt mỏi, chán chường, nhận ra lớp vỏ phù hoa của danh vọng và vật chất… Họ, những nhân vật trong ‘‘Khung cửa nắng’’, được tôi dựng nên theo bản năng nhạy cảm bẩm sinh của tôi, không theo một cấu trúc văn chương nào cả. Nếu có, hẵn đã tiềm ẩn sâu sẵn trong tiềm thức, được tôi hà hơi khai sinh thành những con người hư cấu len lỏi sống tạm giữa những hàng chữ, với xấu tốt, đậm nhạt, thăng trầm, … phản diện thông thường.
HTA: ‘‘Khung cửa nắng’’ nếu được thành công thì chính ở chỗ phân tích tâm trạng, ở chỗ tác giả đặt ra những nhân sinh quan cho các nhân vật của mình. Ngoài ra, nó còn đẹp ở chỗ diễn tả sắc sảo. Nhưng nó không thuộc loại tiểu thuyết mới. Anh nghĩ sao?
NND: Một quyển tiểu thuyết phải có nội dung hay những nhân vật như thế nào để được gọi là ‘‘tân’’, là ‘‘mới’’? Là một người viết đi sau hằng bao thế kỷ, không còn điều gì khả dĩ mới mới, tân tân. Có chăng là điều đó được tôi tô lên, ban phát cho sự sống theo quan niệm nhân sinh của riêng tôi. Hành trình văn chương tự nó đã chằng chịt những lối mòn, ngang dọc nhiều dấu chân của những bậc tiên sinh tài hoa, khó lòng tránh khỏi dẫm phải. Nhưng ‘‘dẫm’’ theo phong cách nào, mới là điều đáng nói. Dẫu thành hay bại, cũng là một kinh nghiệm. ‘‘Khung của nắng’’ là một cố gắng sao chép sắc diện và tâm tình cộng đồng Việt nam lưu vong tại một xứ Tây phương, bằng nhân sinh quan của tôi, một kẻ hậu sinh còn nặng nợ sân si với chữ nghĩa.
HTA: Ở tập truyện ‘‘Hòn còng lửa’’ và truyện dài ‘‘Núi đoạn sông lìa’’ đăng từng kỳ trên tạp san Làng Văn, anh dùng ngôn ngữ dân quê Nam Kỳ. Anh đã tìm thấy điều gì quyến rũ, điều gì tiềm ẩn thâm thúy ở văn chương Nam Kỳ qua các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và nhất là của Lê Xuyên?
NND: Tôi là người viết thích thay đổi văn phong. Ngay trong tập truyện đầu tiên, ‘‘Dòng chữ tâm tình’’, đã có vài truyện ngắn được viết bằng ngôn ngữ miền Nam. Viết để phản bác những quan điểm bê-tông hẹp hòi của những kẻ có đầu óc phân biệt địa phương. Tôi có đọc và trân trọng một số tác phẩm của vài nhà văn tiền bối được anh nêu danh. Tập ‘‘Hòn còng lửa’’ và truyện dài ‘‘Núi đoạn sông lìa’’ không ngoài mục tiêu đó. Chúng còn là những nghi vấn, ám ảnh tôi bấy lâu nay, về đôi điều thế sự trong chiều dài lịch sử đất nước, về nhân duyên có không may rủi mỏng mảnh của kiếp người, về chứng nghiệm sự kiện qua nhãn quan ngộ nhận đã thấm sâu trong ý thức mỗi chúng ta, … Truyện ‘‘Hòn còng lửa’’ còn là một ẩn dụ chính trị: việc chủ nghĩa cộng sản bành trướng tại miền Nam bằng cảnh tượng bầy còng đỏ tới đấy dựng càng giơ ngoe sinh sản trên hòn đào ngoài đại dương, theo chuyện kể của nhân vật người cha, không có thật như ảo tưởng của người cộng sản về một thiên đường xã hội vô sản.
Còn ‘‘Núi đoạn sông lìa’’ được dựng nên với tham vọng ghi lại cảnh mệnh một gia đình trung lưu đất Nam kỳ, kéo dài từ thời Pháp thuộc cho tới lúc đất nước chia đôi, bị thảm hoạ thiên nhiên và biến động nghiệt ngã của thời thế chi phối. Tôi viết tiểu thuyết này không căn cứ sát bén theo diễn trình lịch sử mà với nhiều tưởng tượng, nhằm tạo cho nó bầu không khí huyễn hoặc, nhiều bí ẩn của một vùng đất thuở chưa được khai phá trọn vẹn. Đó chính là thứ ngôn ngữ và bản sắc, kiểu cách đặt và giải quyết vấn đề của con người miền Nam đã kích thích tôi, được tôi gắng sức khai triển. Nó cũng là cách bày tỏ thái độ của tôi, một người viết bị giới hạn bởi ngôn ngữ và tầm mức phổ biến, đối với người Pháp khi họ tới cai trị Việt nam. Thái độ này nổi bật sau khi tôi đọc vài quyển sách của bà Marguerite Duras viết về đất và người Việt nam với luận điệu thực dân, vô lễ và vô cảm.
HTA: Truyện ngắn ‘‘Nhân chứng’’ trong tập truyện ‘‘Hòn còng lửa’’ có ẩn dụ gì qua vận sự hòn đá tự trên trời rớt xuống do sự bắt gặp của má cô Út và hòn đá từ trên trời rớt xuống mà nhà sư đã trông thấy? Có phải hòn đá thứ nhất đã dội vào óc mê tín và sở thích ưa thêu dệt huyền thoại của người đàn bà quê mùa. Còn hòn đá thứ nhì qua câu truyện kể của thiền sư am chủ khơi dậy cho nhà sư ý thức về sự tu hành thiếu tự giác của mình. Ông ta đi tu vì ông ta được nhà chùa nuôi dưỡng từ tấm bé, suốt đời không bước ra ngoài cuộc đời trần lụy, chua có kinh nghiệm sâu sắc về thế tục. Tu hành vâng theo sự o ép của nhà sư cố am chủ tiền nhiệm đã nuôi dưỡng mình, bắt buộc mình biến thành chai ngắt như hòn đá, thiếu chứng nghiệm sống động, thiếu ý thức về cuộc đời phiền não nên lòng ông vẫn còn tham luyến thế tục mà dầu phải cố sống như một hòn đá? Anh nghĩ sao? Ở truyện ngắn này, anh muốn nói về một khía cạnh tu hành qua chứng nghiệm qua tự giác tự nguyện có phải?
NND: Những cảm nhận của anh về truyện ngắn ‘‘Nhân chứng’’ trong tập ‘‘Hòn còng lửa’’ rất sắc sảo và thú vị, biết đâu chừng cũng là ý định từ tiềm thức của tôi lúc phát tâm viết ra câu chuyện này. Thật ra nó chỉ là một ‘‘Lã sanh môn’’ Việt nam thuật lại nghiệm trải của nhiều người về một sự kiện, ở đây là do tác động thiên nhiên, lấy cớ lạm bàn về ý nghĩa của chân lý. Quan điểm của tôi, tất cả những gì người trần mắt tục chứng nhận chỉ là chân lý tương đối. Thường khi nó không hoàn toàn ăn khớp nhau, vì những định kiến lớp lớp trong tiềm thức, dẫn tới cái nhận thức lệch lạc ở chi tiết về một dữ kiện. Người đàn bà quê mùa và nhà sư kiến nhiệm chuyện đá rớt không giống nhau là vậy. Ở đoạn kết, hòn đá đột ngột lún mất xuống sình: ý tôi mượn đó làm biểu tượng cho chân lý tuyệt đối, cũng là tính không theo triết lý Phật giáo. Còn thì, những tình tiết khác được thêm thắt vào cho câu chuyện thêm phần sống động, nhân tiện ba hoa chút xíu về phương thức tu hành. Sư ông đương nhiệm là người tu hành bất đắc dĩ, không thuộc không hiểu gì về kinh kệ, còn vướng víu tục luỵ, nhưng lúc ông chứng kiến cảnh tượng đá rớt, tự động bật ra câu kinh tiếng Phạn mà hồi nào tới giờ, ông không hề thuộc: một cách diễn đạt tính ‘‘giác ngộ’’ của tôi.
HTA: Thế nào là một tác phẩm văn chương có tư tưởng? Văn chương Việt Nam có tác phẩm tư tưởng nào không? Theo anh, ai là vừa nhà văn vừa là tư tưởng gia?
NND: Một câu hỏi khó mà dễ. Khó, vì định chuẩn ‘‘tư tưởng’’ theo nhiều người, nhiều nhà phê bình văn học không giống nhau. Dễ, vì cứ theo nghĩa mà hiểu thì ‘‘tư tưởng’’ là ‘‘ý tưởng riêng’’ chạm tời lý lẽ vô lường của kiếp người, văn hoa mà nói thì gọi đó là ‘‘kiếp nhân sinh’’. Vì vậy, theo tôi, ‘‘tư tưởng’’ là ‘‘nhân sinh quan riêng’’. Tôi xin chọn cách dễ mà trả lời.
Một văn gia thuật chuyện có người giở lại quyển nhật ký cũ, hồi tưởng thuở luyến ái hoa niên nhiều tình tiết éo le, cảm động, có thể dựng thành một tuồng hát, một cuốn phim hay, ăn khách; nhưng khó nói tác phẩm đó có ‘‘tư tưởng’’. Văn gia khác, một cách tương tự, nhưng nhân đó luận bàn về những bí ẩn của đời người theo cảm quan riêng, thì tác phẩm đó và người viết nọ hẳn có ‘‘tư tưởng’’ Những bí ẩn gì mà ghê gớm quá vậy? Thì cũng chỉ quanh quất trong hai lẽ ‘‘sống, chết’’ tự nhiên. Sự sống, đương nhiên hàm chứa vô số ngõ ngách của dục vọng và tâm linh, viết tới bao giờ mới thoả ? Cái chết, tạm lấy kinh này pháp nọ để trích giải, cũng xong thôi. Ông Proust chỉ cần nghe một tiếng chân đêm giẫm kót két sàn gỗ, thấy một viên gạch long, cắn chéo bánh nướng, … là cả quá khứ hỷ nộ ái ố lập tức bày biện ngổn ngang cả ngàn trang giấy. Trong ‘‘Ngàn cánh hạc’’, ông Kawabata chỉ dè xẻn hơn trăm trang giấy mực, mà đọc tới đoạn chàng trai được người kỹ nữ quá thì dâng cho chén trà, kỷ vật của cha anh thuở sinh tiền, độc giả khó tránh nỗi ngậm ngùi. Món vật vô tri giác ấy bỗng dưng có linh hồn. Thấy ra chuyện chung chạ với cùng một người đàn bà của người con và người cha đã chết không có gì trái quấy. Sống chết trờ thành loàng xoàng, tạm bợ. Cũng như trong ‘‘Những ngày thứ ba tại nhà Morrie’’, ông Mitch Albom (xưng tôi) được người thầy cũ mời dọn ê hề thức ăn tinh thần bằng cách đặt cho những câu hỏi. Đơn giản thôi, nhưng trả lời cho rốt ráo, quả khó lòng. Chúng bắt người đọc không khỏi bàng hoàng, nội tâm đố tránh choáng váng trước tốc độ tiến bộ của nhân loại: liệu rằng con người có theo kịp và nhất thiết cần tới? Theo thiển ý, những tác phẩm văn chương đại loại như tôi vừa kể là có ‘‘nhân sinh quan riêng’’.
Văn chương Việt nam mình, tới nay, qua một ít tác phẩm tôi đọc được, có truyện ngắn ‘‘Tan theo sương mù’’ của bà Nguyễn thị Hoàng viết về tính bất diệt của tình yêu bằng bút pháp thơ mộng, huyễn tưởng, hiếm thấy ai tài tình như vậy. Ông Võ Phiến viết đoản văn ‘‘Hoan ca’’ cho thấy sức mạnh vô biên của sự sống tiềm tàng trong những chi tiết phàm tục, xoàng xĩnh, ngộ nghĩnh quá chừng. Đọc xong (tôi) chợt bần thần cảm được lòng ham sống mãnh liệt, tính đam mê vô tận, như thể cái chết của mình đã được rành rành ghi sẵn trên tờ lịch, phải thụ hưởng cho thoả. Bây giờ. Lập tức. Không thôi, trễ mất.
Sở đọc của tôi ít ỏi. Cảm nhận của tôi chủ quan. Cùng một tác phẩm, thường khi người đọc không cùng một quan điểm. Hẳn nhiên còn rất nhiều văn phẩm có tư tưởng độc đáo khác, mà tôi chưa được đọc. Nhà văn và nhà tư tưởng, ngay từ căn bản, vai trò và mục đích của hai danh xưng đó đã không giống nhau. Tôi nghĩ, tư tưởng gia là người đề xướng một lý thuyết có xu hướng rõ ràng: nhằm thay đổi quan niệm nhân sinh. Còn nhà văn, trước tiên chỉ có ý bộc bạch, giãi bày tâm tư một cách văn hoa, không cần biện luận. Ngàn trang tiểu thuyết đi tìm cái mất của ông Proust không dễ đọc. Trăm trang cách hạc của ông Kawabata đậm sệt nước mắt, nhiều hành xử cường điệu theo bản sắc Nhật bản. Ông Albom thỉnh thoảng lý luận suông, quên đi tình huống. Không phải tác phẩm nào của họ, của bà Nguyễn thị Hoàng, của ông Võ Phiến đều có ‘‘tư tưởng’’. Thành thử, theo tôi, vừa là nhà văn vừa là nhà tư tưởng, chưa có ai.
HTA: Xin cho biết khái quát về đường lối văn chương của nhóm Sáng Tạo. Nhóm này đã khai phá được những gì cho văn chương đang còn bị văn chương tiền chiến đè nặng?
NND: Tôi nghĩ, động từ ‘‘khai phá’’ nên được dùng cho Tự Lực Văn Đoàn, xứng đáng hơn. Nói như vậy, không có nghĩa phủ nhận đường lối và công trình của nhóm Sáng Tạo. Nhờ đó mà văn chương Việt nam có được những văn thi phẩm độc đáo, cực kỳ mới lạ trong thập niên 1960. Thuở đó, tôi ở tuổi vừa lớn, đón nhận những tác phẩm của Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, … với cả tấm lòng quí trọng và ngưỡng mộ. Nhiều vấn đề chính trị, cũng như những ẩn khúc nội tâm tình yêu tình dục được họ đề cập bằng thứ văn chương và thi tứ tân kỳ, đôi khi bí hiểm, nhưng vô cùng mê hoặc phù thuỷ. Đường lối sáng tác của nhóm Sáng Tạo đã được ông Trần Thanh Hiệp đề xướng rõ ràng với lời lẽ dữ dội, phóng túng. Lúc bấy giờ, hoàng hôn của ‘‘văn chương tiền chiến’’, người đọc tại những đô thị lớn ở miền Nam sau 1954 có nhu cầu tinh thần cấp bách một khuynh hướng văn chương khác cũ. Nhóm Sáng Tạo ra đời đúng thời điểm, đáp ứng được thị hiếu của lớp độc giả trí thức, tiêm nhiễm ít nhiều Tây học. Họ phát huy thành công, gây được một không khí sáng tạo phóng khoáng đa dạng, rầm rộ tại miền Nam. Cá nhân tôi xin ghi nhận công lao này của nhóm Sáng Tạo.
HTA: Anh có thích đọc những tác phẩm vĩ đại của các nhà văn Á Châu như của Lỗ Tấn, Lâm Ngữ Đường, Ba Kim, Lao Xá (Trung Hoa), Kawabata, Mishima (Nhật) không? Nếu thích một vài nhà văn trong những nhà văn mà tôi vừa kể, xin anh cho biết qua loa về đặc tính của văn chương họ.
NND: Tôi không có cơ hội đọc những tác phẩm vĩ đại của tất cả các nhà văn Á châu được anh nêu tên. Những gì tôi đọc được, có quyển thích có quyển không. Nhiều hơn hết là tiểu thuyết của Mishima và Kawabata. Về văn chương của ông Kawabata, tôi đã trả lời khái quát một trong những câu hỏi trên. Đặc tính văn chương của hai vị này chỉ có chung một điểm: tinh thần cực đoan của bản sắc Nhật bản; ngoài ra rất khác nhau. Văn chương của Kawabarta thanh thoát, nhiều chỗ có thể nói uỷ mị nữ tính. Trong khi Mishima, từ ‘‘Tự thú của một chiếc mặt nạ’’ cho tới ‘‘Kim các tự’’, hay trong truyện ngắn ‘‘Lòng ái quốc’’, đã dốc cả ruột gan tâm huyết (nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) để biểu dương trọn vẹn cá tính khinh suất, mạnh bạo nam tính của ông. Văn chương cả hai đều phóng dật. Nếu Kawabata phóng dật gần như rụt rè, thầm kín thì Mishima phóng dật khoả thể, cuồng nộ. Thái độ này càng sắc nét qua kiểu cách tự vẫn của họ: Kawabata bằng hơi ngạt, Mishima tự xẻ bụng rồi để cho chém đầu. Chưa từng thấy hai người bạn văn vong niên nào tâm đắc một cách kỳ lạ tới như vậy. Sách vở ghi lại, khi ông Kawabata được tin Hàn lâm viện Thuỵ điển trao tặng giải thưởng Nobel văn chương, ông đã gọi cho Mishima, nói rằng: ‘‘Bạn là người xứng đáng hơn tôi.’’ Một cách nói khiêm tốn đó thôi.
HTA: Cám ơn anh Ngô Nguyên Dũng.
NND: Tôi cũng cám ơn anh đã đặt cho tôi những câu hỏi rất thú vị. Mong rằng, phần trả lời của tôi đã khơi tỏ phần nào những ẩn đề trong văn chương của cá nhân tôi và của dăm ba vị, mà tôi đã hân hạnh được tiếp xúc qua niềm cảm thông chủ quan bằng nhịp cầu ngôn ngữ. Dông dài quá lắm, thật ra không ngoài mục đích ‘‘mua vui’’ cho qua ‘‘vài trống canh’’ của năm rộng tháng dài nơi đất khách.

(31. tháng 5. 2006)

bài đã đăng của Hồ Trường An


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)