Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Dịch Thuật, Giới Tính, Phỏng vấn, Sang Việt ngữ Email bài này

Mười Cách Nhìn Về Văn Thơ Đồng Tính

♦ Chuyển ngữ: 0 bình luận ♦ 23.10.2008

Trần Viết Minh Thanh chuyển ngữ

Các văn sĩ sáng giá nhất của chúng ta thổ lộ về cảm hứng của họ.

Gần đây nhất, quyển sách với tựa là Outside The Lines: Talking with Contemporary Gay Poets, (Bên lề những đường kẻ: Trò chuyện với các thi sĩ đồng tính đương đại), được Nhà Xuất bản Đại Học Michigan xuất bản. Quyển sách tiên phong về thể loại này, là một tập hợp các buổi phỏng vấn những thi sĩ nổi bật nhất đang tại thế, và cũng là những người đồng tính. Nhân dịp sách ra mắt tháng Sáu vừa qua, tập san The Gay & Lesbian Review, đã nhờ Christopher Hennessey, người thực hiện các buổi phỏng vấn kể trên, mời tất cả các thi sĩ góp mặt trong quyển sách viết một đoản văn trình bày phương cách các thi sĩ này diễn tả xúc cảm của họ trên phương diện nghệ thuật, những xúc cảm thành hình từ cương vị của một người đàn ông đồng tính. Dưới đây là một số câu trả lời thuộc loại buộc người ta phải suy nghĩ, để độc giả có một ý niệm về những tư tưởng có chiều sâu và đặc sắc mà họ đã diễn đạt trong toàn bộ bài phỏng vấn.

Trong việc tự nhận dạng mình là người đồng tính, có những yếu tố nào đặc biệt có giá trị đối với ông, những yếu tố có thể coi như đã giúp ông tìm được một giọng điệu riêng biệt?

FRANK BIDART:

Câu trả lời là có, – tuy nhiên, câu hỏi đấy lại dẫn đến một vấn đề là cái gì làm nên nhân dạng của một người đồng tính. Tôi không muốn nói cái hình mẫu sắc sảo duyên dáng hơn người, quần áo bảnh bao mà giới truyền thông ưa thích diễn tả mãi không chán, (có lẽ là hình ảnh duy nhất về người đồng tính được truyền thông chấp nhận). Cá nhân tôi cũng không nhất thiết là sắc sảo duyên dáng gì, quần áo thì tôi cũng không chú trọng lắm. Nhân dạng chủ yếu của người đồng tính, đối với tôi, chính là cảm giác rằng mình không phù hợp với những khuôn khổ mà xã hội đã quen thuộc. Là cái gì đó rất linh hoạt và biến hoá, có thể từ trong bản năng mà hiểu được một tập hợp những cảm xúc mà theo quan niệm truyền thống thuộc về nữ tính. Cái gì đó có thể luồn sâu hơn vào dưới cái vỏ ngoài của mọi người chung quanh. Tất nhiên đó chỉ là chuyện lý tưởng thôi, không phải là thật sự tôi nghĩ mình đã làm thế được đâu. Là một người cảm nhận được ngay lập tức, xuyên qua sự phân chia và tụ tập theo giới tính trong một nhóm người, một tâm chất hoảng sợ nằm đằng sau những vai trò mà người ta tự khoác vào cho mình. (Bản thân tôi cũng chưa được loại trừ khỏi tâm chất ấy). Trưởng thành tại Hoa Kỳ như một người đồng tính luyến ái, người ta hiểu được rất sớm rằng sự tồn tại của mình về bản chất là một phản đề đối với những huyền thoại mà các định chế quyền lực ra sức áp đặt, những kẻ tưởng tượng rằng thẩm quyền của mình xuất xứ từ Thượng đế hay từ tự nhiên. Sớm hiểu rằng sự hiện hữu của một cá nhân về bản chất, là một phản đề. Chấm hết. Đó là một bước khởi đầu tốt cho một người viết.

Tác phẩm mới nhất của Frank Bidart là tập thơ Star Dust, và tập Music Like Dirt được đề cử giải Pulitzer.

RAFAEL CAMPO:

Theo tôi, thẩm mỹ đồng tính là một ý niệm phức tạp. Yếu tố nào của một người đồng tính nam trong tôi, mà tôi sử dụng để sáng tác ư? Tất nhiên đề tài tiên quyết của một văn sĩ đồng tính cũng giống như mọi văn sĩ khác thôi: tình yêu và sự chết. Thế nhưng ngay tại điểm đó, khi mà tính cách đồng tính bị đe doạ trầm trọng, (vì nó quá chung, quá phổ quát, xoá nhoà đặc thù của người viết – chú thích của biên tập) đã xuất hiện ngay một số những sức ép không tránh khỏi tác động vào sáng tác của chúng tôi, làm cho nó ít nhiều có những hình thức riêng biệt và tất yếu. Chúng tôi phải viết về tình yêu trong khi chúng tôi là những người bị khước từ quyền được thành hôn và đã phải oán hận vì sự thờ ơ lạnh nhạt của không biết bao nhiêu giáo hội cũng như gia đình ruột thịt. Chúng tôi phải viết về cái chết từ góc nhìn xuyên qua căn bệnh AIDS tham lam vô độ, qua nạn nghiện ngập “đập đá”, qua sự truy hoan tình dục thác loạn không tự chế. Đến đây thì thẩm mỹ đồng tính đã đồng nghĩa với cách trào lộng diễu cợt chỉ riêng trong phe nhóm hiểu, tình thế nghịch cảnh khắt khe khi tự ý thức về mình – và hơn thế nữa, còn có một nhu cầu thôi thúc, một sự sôi sục muốn tuyên bố rằng chúng tôi từ chối bị hủy diệt. Nó vừa có tính đối kháng, lại vừa kèm theo tính cảm thông mãnh liệt, vì từ trong những ước nguyện và nỗi đau khổ của cộng đồng mình, chúng tôi nhận ra cuộc tranh đấu của nhân loại to tát để trở nên tốt đẹp hơn cũng phản ảnh trong đó. Được nghe chuyện các bệnh nhân của mình, lắng tai vào ống khám nghiệm để bắt được tiếng động thân thể họ – cũng như lắng nghe câu chuyện của chính tôi, âm điệu của chính thân thể tôi trong liên hệ tình cảm với một người đàn ông khác – tôi nhận thức rằng thẩm mỹ văn chương đồng tính, nói đến cùng, là thẩm mỹ của hy vọng, trong đó nghệ thuật không phải đơn giản là một thứ tượng đài để dời đổi chân lý về sự hiện hữu của chúng tôi, mà đúng hơn là tiếng nói khẳng định rằng chúng tôi hiện hữu. Vừa vượt thoát đến cùng lại vừa đầy tính con người phổ quát, vừa như rạn nứt trong khổ đau lại vừa tràn trề niềm vui của sự hàn gắn, văn chương “Bóng” cao hơn nhiều so với những thành quả phù phiếm dưới mắt của các phê bình gia; nó là một tư liệu của sự kiên trì, một hành động trong cái đẹp, là hơi thở và nhịp tim của một nhóm người đầy khả năng tưởng tượng và không chịu bị khuất phục đến cùng.

Rafael Campo là tác giả quyển Landscape with Human Figure and Diva (Phong Cảnh với Dáng Người và Diva), được tuyển lựa vào chung kết của giải Phê Bình Văn chương Quốc gia.

HENRI COLE:

Tôi nghĩ thói quen ưa thích những so sánh tương đồng của mình có liên quan đến bản chất con người đồng tính. Trên đời này không có cái gì tuyệt đối giống như chính nó (mà không phản ảnh thế giới xung quanh – chú thích của biên tập), như trường hợp bản thân tôi. Đến giờ tôi đã phát hiện ra trong sự bất ngờ, rằng điều đó chính là một ưu thế đối với nhà thơ.

Henri Cole là tác giả của – gần đây nhất – tập Middle Earth được đề cử xét giải Pulitzer.

ALFRED CORN:

Tôi nghĩ về chuyện này từ mấy năm nay, và cứ lần khân mãi chuyện viết một tiểu luận về đề tài này. Nietzsche bảo rằng tính dục nối dài lên tận đỉnh của linh hồn. Điều này tôi thấy đúng. Và, khi suy nghiệm về tính cách tự nhiên của tình dục giữa hai người đàn ông, tôi tìm thấy một sự tương quan với nó trong nghệ thuật do người đồng tính nam tạo ra – một cường độ mãnh liệt, vùng phi quân sự giữa khoái lạc và khổ đau, mà ta có thể tạm dùng chữ “ravishment” (“một say đắm tràn trề”) hay “rapture” (một “trạng thái mê ly”) để diễn tả. Với lại, khả năng để đứng cả phía trước lẫn phía sau (trong khi giao hợp – chú thích của biên tập), hiểu được cả cảm giác nhập vào người khác lẫn bị người khác nhập vào mình. Nghệ thuật có những điểm tương đồng với những tình huống tâm lý và thể xác này. Còn nữa, trên bình diện xã hội, các thế lực lịch sử đương thời đã đẩy chúng tôi ra ngoài lề, ngang bằng với các “nhóm xã hội hàng thứ”, vào trong tư thế phản kháng. Đây là một điểm xuất phát thuận lợi cho người nghệ sĩ. Chúng tôi nhìn ra được những gì người trong dòng chính coi là lẽ mặc nhiên, và chúng tôi đem những cái lẽ mặc nhiên ấy ra đặt lại vấn đề. Khi không còn mâu thuẫn hoặc tranh cãi thì nghệ thuật trở nên nhạt thếch. Mâu thuẫn đến với người đồng tính như một thực trạng đụng thẳng mặt, và chúng tôi phải sử dụng nó, để tránh không bị nó đè bẹp.

Alfred Corn, đã từng được trao giải Guggenheim và giải Viện Hàn lâm thi sĩ Hoa Kỳ, là tác giả của chín tập thơ, trong đó có tập thơ: Stake: Selected Poems, 1972-1992, and Contradictions (2002).

MARK DOTY:

Mỗi lần ngồi xuống, đặt bút viết, tôi đều cám ơn – có thể một cách có ý thức, có thể không – rằng tôi đang ở trong một vị thế không thể coi đời sống của mình như một sự đương nhiên không cần thắc mắc. Tôi nghĩ đó là một món quà lớn nhất của việc tôi là đồng tính, được đứng ở tư thế “góc độ hơi nghiêng đối với vũ trụ” như E. M. Foster đã mô tả Constantine Cavafy. Tôi vừa trở về sau một tháng ở Provincetown, và phải thú thật rằng tôi có lo ngại khi chứng kiến nếp sống hoà nhập vào dòng chính thấy rõ của cộng đồng người đồng tính tại đấy: lái xe SUVs, ở condo, quyền được thành hôn, quyền được xin con nuôi. Không phải những điều này (trừ SUVs ra) tự nó là xấu, nhưng nếu góp chung lại với nhau, ta không thể nào không nghĩ là phần lớn cuộc sống đồng tính chỉ là một bi kịch và một sự nhàm chán. Bản chất đồng tính mời mọc chúng tôi, mỗi giây mỗi phút trong cuộc sống, hãy chất vấn định kiến về đàn ông hay đàn bà, hay người mẹ người cha, hay một công dân là phải như thế nào; dục vọng là gì và chúng ta đã xây dựng những thiết chế kiểu gì chung quanh vấn đề dục vọng. Hay điều đó có nghĩa gì, khi mà ta ở vị trí ham muốn người khác hoặc được người khác ham muốn? Vị thế chất vấn làm cho người nghệ sĩ thật sự tồn tại và hoạt động. Tôi hy vọng mình không bao giờ đánh mất cái khoảng cách có tác dụng giải thoát cách ra khỏi quy ước thông thường.

Mark Doty là tác giả bảy tập thơ, kể cả tập thơ School of the Arts and Source (Trường của Nghệ Thuật và Nguồn Gốc), ra mắt gần đây nhất. Tập thơ My Alexandria đã thắng giải thưởng Phê Bình Văn chương Quốc gia, 1993.

TIMOTHY LIU:

Gần đây thôi, khi tôi đang ngồi ngoài hàng hiên một căn nhà ở vùng Upper Peninsula với một người bạn thân, thi sĩ, da trắng, không đồng tính, anh tình cờ đưa ra một nhận xét rằng ngày nay chỉ có thi sĩ đồng tính mới viết được thơ gợi tình mà có ý tưởng gì đáng kể. Thật sự tôi không chắc mình đồng ý với anh ta hoàn toàn, nhưng tôi hiểu ý anh. Là công dân đồng tính sống trong thế giới lấy dị tính làm khuôn mẫu, chúng tôi phải trả một cái giá đắt, không phải chỉ một lần, mà sẽ phải trả đi trả lại. Nếu Wallace Stevens đã có lý khi tuyên bố rằng người thi sĩ phải gặp gỡ “thực tế” với một sức mạnh ngang bằng óc tưởng tượng của họ, vậy tôi suy ra rằng trí tưởng tượng của người đồng tính cần phải vun bồi những sức mạnh riêng biệt đặc thù để bảo vệ sự tồn tại của chính nó. Và chung cục thì cái áp lực hùng hồn này có cách nào cho nó thể hiện ra? Qua tiếng nói sáng tác của chúng tôi.

Timothy Liu là tác giả năm tập thơ, tập mới nhất là Of Thee I sing (Ta hát về người). Anh còn là chủ bút cho tập thơ: Word of Mouth: An Anthology of Gay American Poetry. (Truyền miệng: Một hợp tuyển Thơ Ca của những người đồng tính tại Hoa Kỳ.)

J. D. McCLATCHY:

Tôi phải nói là đồng tính không phải là nhân dạng của tôi, căn cước của tôi, chỉ là một phần của nó thôi. Nhưng nói thế thì nói, tất nhiên nó đóng một vai trò rất quan trọng trong cuộc đời nhà văn của tôi – nhân tiện cũng nói thêm, “nhà văn” cũng là một chữ tôi không dùng để tự định nghĩa mình. Như Auden đã nói, anh chỉ là “nhà văn” khi nào anh đang ngồi viết. Đầu tiên, nó đã đẩy tôi đến với các người viết đồng tính khác. Ngay từ thời kỳ tôi bắt đầu đọc một cách nghiêm túc, các sáng tác của Oscar Wilde và Walt Whitman, Elizabeth Bishop và James Meril đã giúp thành hình trong tôi tham vọng văn chương. Điều này cũng làm cho tôi không ngừng hoài nghi vô số những văn sĩ không-dồng-tính kiêu căng của chúng ta, với những định kiến và tuyên bố về tình cảm trống rỗng. Như vậy là đã có sẵn một truyền thống, một điểm khởi đầu. Còn nói đến chính việc viết lách, tính chất đồng tính trong tôi đã tạo cho tôi một cái nhìn dị biệt về thế giới – cảm giác mình là kẻ đứng ngoài về mặt này mặt khác, bản năng tìm kiếm những nghịch lý từ tận cốt lõi của mọi hoàn cảnh – và điều này quả thật đã ghi dấu ấn lên cách tôi vẽ ra những hình tượng và lý luận những ý tưởng. Tôi đã tìm được niềm vui khi đụng chạm đến những đề tài mà ở những thời kỳ khác, và ngay cả chính thời kỳ của chúng ta tới một mức độ nào đó, bị xem là cấm kỵ. Điều đó đem năng lượng của chính nó đến cho một bài thơ. Nhưng những chất liệu “đồng tính” một cách rõ ràng hơn hiện diện để nói đến một cái gì đó cao hơn. Khi tôi viết về tình dục chẳng hạn, cái tận cùng tôi muốn nói chính là về dục vọng, một nỗi ưu phiền rất chung của con người…

J. D. McClatchy là tác giả của, gần đây nhất, tập thơ Hazmat đã được đề cử giải Pulitzer.

CARL PHILLIPS:

Cái đã đóng góp nhiều nhất để tôi có được tiếng nói riêng biệt chính là cảm giác bị tẩy chay, bị khai trừ, bị gạt ra khỏi người khác bởi vì tôi khác biệt. Đầu tiên tôi cảm nhận điều này trên phương diện màu da, và sau đó mới tới giới tính. Sự việc tôi là người đồng tính chồng chất thêm khó khăn lên vấn đề tôi là người Mỹ gốc Phi Châu. Nhưng chính giữa lúc đang phải vật lộn với việc công khai thừa nhận giới tính của mình, thì tôi mới tìm ra chất liệu chủ đề của mình – hay ít ra cũng là một phần của nó – vấn nạn về cơ thể và về dục vọng. Và tôi nghĩ chính cái cảm giác bị phần lớn xã hội khai trừ, đối với tôi, đồng nghĩa với sự loại trừ khỏi quy ước thông thường của xã hội, kể cả trên phương diện ngôn ngữ. Thế cũng như tôi phải tự mình khai sinh ra một ngôn ngữ riêng, một ngôn ngữ vừa bao gồm vừa diễn tả được những ưu tư của tôi về nhân dạng của mình. Tôi cũng ý thức rằng tiếng nói của mình luôn có một khía cạnh được che giấu, hay nói cách khác, là ý nghĩa không bày ra hết ngay trên bề mặt, và điều này có vẻ có liên hệ tới tình dục, cũng như sự ước thúc tình dục thường xuyên như thế nào, trong một xã hội đầy thành kiến. Thêm một điều nữa đến từ việc bị loại trừ chính là tính cách đả phá, ước muốn lật đổ quy ước – và tôi khẳng định rằng có tính chất đả phá trên phương diện ngôn ngữ, trong tất cả sáng tác của tôi.

Carl Phillips là tác giả của tập thơ The Rest of Love (Điều Còn Lại của Tình Yêu), được vào chung kết cho giải thưởng Toàn quốc. Các sách khác của ông gồm Rock Harbor, và The Tether, thắng giải Thi Văn Kingsley Tufts.

REGINALD SHEPHERD:

Đối với tôi, một người đàn ông da đen, đồng tính cũng có nghĩa là người đứng bên ngoài cả hai nhóm, một mặc cảm đứng ngoài mà ta cảm thấy sắc bén hơn nữa vì ý nghĩ đáng lẽ ra mình phải cảm thấy một sự hoà đồng che chở từ cả hai nhóm, ngược lại với cái xã hội rộng lớn kỳ thị, ghét người đồng tính, mới phải chứ. (Tôi không nói đây là kinh nghiệm của tất cả các người đàn ông da đen đồng tính, hay kể cả những văn thi sĩ đồng tính da đen, nhưng đó là kinh nghiệm của riêng tôi.) Cái cảm giác là người đứng ngoài ngay cả giữa những người đứng ngoài, cảm giác không thể cứ an tâm coi sự tồn tại của mình là lẽ dĩ nhiên, lý do này (dù đây không phải là lý do duy nhất,) cho tôi có một cái nhìn kéo lệch ra khỏi quy ước thông thường về thế giới, rằng tôi không thể an tâm không thắc mắc về sự tồn tại của chính mình, và cái góc nhìn kéo lệch này là cốt lõi của những gì tôi viết. Nó đã tiếp sức cho niềm thôi thúc muốn tạo nên một chỗ đứng cho chính mình qua ngòi bút, cũng như điều nhận biết rằng mình sẽ không có được chỗ đứng nào yên ổn như vậy, mà có lẽ cũng chẳng ai có. Trên quy mô nhỏ hơn, hay ít ra cụ thể hơn, sự việc tôi đồng tính đã cho tôi phần lớn chất liệu chủ đề, cái mê cung của dục vọng đồng tính, với tất cả những chấn động và rối loạn của tồn tại và sở hữu, của ham muốn và ham muốn trở nên (điều gì đó – chú thích của biên tập.)

Reginal Shepherd là tác giả của bốn tập thơ, tập mới nhất tựa là Otherhood (Bản thể tha nhân)). Anh là chủ bút của tập san The Iowa Anthology of New American Poetries . (Tuyển Tập Thơ của Những Thi Sĩ Mới Của Hoa Kỳ).

DAVID TRINIDAD:

Tôi nghĩ cảm giác mình khác biệt, cảm giác đứng ngoài giòng chính của thơ ca (có nghĩa là loại thơ hợp thời hay thể thơ của người không-đồng-tính), giúp tôi có tự do để phát triển phong cách theo lối riêng (các anh hùng của tôi luôn luôn là những người độc lập, hay dưới con mắt của tôi họ là những người độc lập.) Điều này cũng cho tôi quyền tự do để khảo sát loại đề tài nào mà tôi thích hay thấy cần phải khảo sát. Có lẽ tôi luôn có cảm giác những điều tôi không nên nói hay không thể nói là những điều tôi cần phải nói. Tỷ dụ như, vào thập niên 1970 đem chuyện căn cước giới tính của mình ra mà nói là một việc làm liều lĩnh; đồng thời ta lại có cảm giác là một điều cần thiết phải làm. Tôi nghĩ đến giờ nó vẫn còn liều lĩnh, nhất là với việc thi ca đồng tính, từ cuối thập niên 80, trở thành kín kẽ, bảo thủ hơn, như là các loại thơ này muốn cho người ta tưởng đó là những bài thơ của những người thẳng, không-đồng-tính (đọc thơ mà tôi cứ liên tưởng đến những người đồng tính đi kết hôn, đi nuôi trẻ con.) Tôi luôn cảm thấy (dù có đúng hay chăng) là có điều gì đó không thể chấp nhận được từ các bài thơ của tôi, các bài thơ này đồng tính quá, điệu đàng quá, trung lưu quá. Và điều không-thể chấp-nhận này là một điểm lớn giúp cho sáng tác của tôi khác biệt (tôi hy vọng là vậy.)

David Trinidad là tác giả của mười một quyển sách, hai tập thơ mới nhất Plasticville, Phoebe, cùng chung với Jeffery Conway và Lynn Crosbie, được vào chung quyết của giải thưởng Lambda.

(Nguồn: Lần đầu tiên được đăng trong tập san Gay and Lesbian Review-Worldwide.)

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)