Josie Jones sinh ra và lớn lên tại một nông trại ở Fort Collins, Colorado, Mỹ. Cô tốt nghiệp cử nhân môn tiếng Tây Ban Nha, và có một chuyên môn phụ là tiếng Anh, từ trường Đại Học Northern Arizona. Sau một thời gian ngắn sống tại Tây Ban Nha và Nicaragua, cô trở về theo học và hoàn tất chương trình MFA (cao học mỹ thuật) về tác văn song ngữ, tại trường Đại Học Texas ở El Paso. Gần đây, cô nhận việc dạy Anh ngữ tại một trường trung học không truyền thống ở Anthony, New Mexico. Cô có thơ đăng trên Border Senses và Rio Grande Review. Cô hiện sống tại Las Cruces, New Mexico với chồng và chó. Dự tính của cô là tiếp tục đi dạy tại các trường trung học không truyền thống và làm thơ trong sa mạc.
Tôi sinh ra với cái đầu vàng. Mẹ tôi
bán tôi cho người da đỏ. Cậu tôi đánh cắp tôi về
và bỏ tôi lại với con mèo ba chân
nó không bao giờ rời khỏi bên tôi. Vào ngày cậu tôi chết
mẹ tôi thấy một con chồn hôi. Con mèo đã chết.
Và bảo tôi đi tới người bán rau hói đầu để mua hoa.
Cha tôi xây hàng rào xung quanh mẹ tôi
tại đám cưới của họ. Vào ngày mẹ tôi chết
ông đề nghị đem con chồn hôi xuống bên dưới căn nhà
và bỏ đi với người thư ký có ba ngón tay.
Các anh tôi và tôi treo những con mèo con trong cửa sổ
và mua thêm hoa cho người mẹ đang hói đầu của chúng tôi.
Anh nói anh đang chơi với lửa khi tôi gọi cho anh
trên đường về từ sở làm.
Thật hả? tôi hỏi.
Anh lấy được một cái thùng cũ tại chỗ làm việc này.
Nó trông như một chỗ tốt để đốt các thứ, anh nói.
Anh đang đốt cái gì? tôi hỏi và cũng muốn đốt cái gì đó, bất cứ gì
Những hóa đơn anh nói, sổ chi phiếu cũ, giấy tờ từ văn phòng
và một ít rác từ nhà bếp, những thứ anh sẽ không dùng nữa.
Tôi có thể trông thấy anh qua điện thoại, đứng
một mình trong lối xe vào, giày da chôn sâu trong sỏi hạt đậu ẩm
phía trước một căn nhà trại bằng thiếc xanh. Đứng
trước những cuộc ly dị, những nồi hầm nguội lạnh, những căn nhà lạ,
những con ngựa chết, những đống bánh xe mòn, tiền mất, và chiếc xe tải ford cũ màu nâu đó
chỗ móp trên cửa phía hành khách.
Anh đang hút một chuỗi camel light bên dưới những tiếng rền rĩ chếnh choáng của mây trời
và đang nhìn tro
bay tứ tán, dâng lên qua cổ
và bụng và tai của cái thùng đốt
bay ra
đỉnh của mái tóc vàng đang mỏng dần của nó.
Ít nhất đó là điều bà nói với tôi.
Căn nhà lớn màu đỏ của chúng tôi: một mê cung
của những căn phòng trống, đường hầm, và thang.
Cái ao Thượng Đế xây cho bà
nằm yên trong cái sân bóng chày dã chiến
bà trông thấy xuyên qua cả rừng dây leo
từ cửa sổ nhà bếp.
Nó có con ễnh ương to nhất mà tôi từng thấy.
Đức vua ngài tấu khúc nhạc chiều cho chúng tôi
trong tiếng ồm ộp ngân nga.
Ngài đã chết trong mùa hè trước, phân hủy
trong cái ao nước lợ của Thượng Đế.
Mùa thu này, cái ao biến thái thành một cái hố
luồn những cái chân như chân cua của nó
bên dưới ngôi nhà của chúng tôi giờ đây đang chỉm dần.
Chúng tôi biết không có người phàm nào
có thể xây cái ao này.
Chỉ có những lời cầu nguyện thuần thành của mẹ
khi bà vung một cục đất vào vực thẳm.
Tôi e rằng, nếu mọi việc tiếp diễn, căn nhà của chúng tôi
sẽ có ngày thành một hòn đảo trơ lại trên cái ao Thượng Đế xây cho mẹ
và rằng có lẽ mẹ sẽ là ếch cuối.
Nguồn: Theo nguyên tác tiếng Anh các bài thơ “Family History,” “My Brother is Burning,” và “God is Building My Mother a Pond Because No One Else Will” trong tập san Poets and Artists, số tháng 11.2009, tại http://issuu.com/groups/poetsandartists
.