*
Hậu đi thăm cha sáng nay. Nhìn cha và dì ngồi sau quầy tạp hóa, lòng anh nặng nề. Ông Xuân, cha anh ngày xưa từng nói, “Đất, cát vào tay tôi đều biến thành vàng!” Hôm nay ông ngồi bán từng viên thuốc tây, cuộn chỉ, cây kim để lấy từng đồng bạc xã hội chủ nghĩa. Cái chợ cạnh nhà râm ran tiếng mua bán than củi. Trước sân nhà cha anh, bà Ngân đang cân than là vợ một đại tá trung đoàn trưởng bộ binh chế độ cũ. Chồng bà chết trong trại cải tạo. Bà là cựu giáo sư của một trường nữ trung học bên Gia Định. Bà Ngân không còn được dạy, và bà bây giờ đen đúa không khác cục than đang cân trên tay. Bên kia đường Nguyễn Lâu, một cựu tù biệt kích trại giam Sơn La, bị bắt năm 1960 đang cân thịt heo bán. Ông ta sáu mươi hai tuổi không vợ con, làm thuê cho người chủ nhà ông đang ở trọ, có chiếc xe bán thịt heo mỗi ngày tại chợ Hòa Hưng. Ông Lâu nói với Hậu, “Tôi ở tù tại trại giam Sơn La hai mươi hai năm, thay đổi đến tám đời giám thị, chuyên sửa máy phát điện. Trong vòng khu vực trại giam năm mươi cây số vuông không ai không biết Nguyễn Lâu.” Ông ta hồn nhiên kể về thành tích trong tù của mình, không khác một đứa trẻ tự hào lịch sử đất nước.
Hậu chợt mỉm cười khi đôi mắt anh dừng lại bốn chữ Hán “Hà dĩ giải ưu” mực đen to, cha anh viết trên giấy đỏ treo trên vách ngăn giữa nhà. Phía dưới bốn chữ là bình rượu thuốc thủy tinh năm lít trên kệ gỗ. Tầng dưới kệ một dãy chai nửa lít, và một xị đong đầy rượu màu đỏ sậm. Hậu đến ngồi vào chiếc bàn trước kệ rượu, trên mặt bàn chặn tấm kính to vuông vắn. Phía dưới là tấm giấy bản trắng viết bài “Chức Cẩm Hồi Văn Thi” của Tô Huệ. Ông Xuân, cha anh giờ chỉ viết chữ Hán, và lượm bạc cắc. Ông đang biến cây kim, sợi chỉ, xị rượu thuốc … thành cơm gạo để ăn mỗi ngày. Hậu nhớ lại hôm anh trở về nhà sáu năm trước, buổi tối trong bữa cơm ông nói, “Ba đang thực hành câu nói của bà nội con, thắng làm vua thua bán tạp hóa.”
Ông Xuân đến gần hỏi Hậu, “Sao không thấy Tu, lâu rồi con có gặp nó không?” Hậu gật đầu, “Anh Tu đang làm ăn tất bật. Không thấy anh ấy nên mừng vì không rảnh để đi chơi.” Hậu tò mò nhìn chồng giấy trên bàn, “Ba viết gì mà nhiều giấy như thế?” Ông Xuân trả lời:
“Ba viết câu đối, liễn cho những người thích chữ Hán.”
Hậu nhìn thấy câu “Tọa đối hiền nhân tửu, gia tàng thái sử thư” vừa mới viết, nhận ra không chỉ Tu thay đổi mà cha anh cũng là con người đổi mới hoàn toàn. Nhưng ai mà không thay đổi khi môi trường sống mỗi ngày, chuyển động theo các nghị quyết của đảng cộng sản. Đất nước đang là thí điểm của một nhóm người cho rằng họ đang làm chủ vận mệnh đất nước. Cha anh kể, “Mười năm trước, ba nín thở nhìn đất nước thay đổi.” Hậu ngạc nhiên, “Ba từng nín thở?” Ông Xuân thở dài bảo:
“Đúng vậy ba nín thở vì tin vào phép lạ.”
“Tại sao?”
Ông Xuân đăm chiêu như nhớ lại, “Lúc ấy con đã đi cải tạo, và ba cho rằng mình và đồng bào miền Nam bị lừa bịp. Kết quả sự lừa bịp là con phải vào trại cải tạo.” Hậu hiểu cách diễn tả của cha mình. Sau đấy hình như ông Xuân không muốn nói thêm, làm như ông hiểu trong đầu Hậu cảm nhận một thời quá khứ như ông. Hoàn toàn ê chề, rồi ông nín thở vì tin rằng mình đang nhìn thấy sự thật diễn ra trước mắt. Đấy là tương lai của ông, của gia đình và của cả miền Nam, sau hơn hai mươi năm chiến tranh chia cắt. Tuy nhiên, điều ông nghĩ không phải thứ mà Hậu đang chờ đợi như ông. Ông tin và chờ đợi tương lai, trong khi con ông lại sống nhờ vào quá khứ. Quá khứ cho Hậu niềm tin vào giá trị con người, trong khi tương lai mà Hậu thấy chỉ là một khoảng không hình ống, rất dài và rất tăm tối.
Hậu lặng lẽ bước ra khỏi nhà. Anh muốn tìm một chút khoảng không để trao đổi khí trời vì nhớ đến cái hình ống làm anh ngạt thở. Hậu đi trên lề hướng về phía lộ chính. Một cô gái bên đường bước ra chận anh lại. Hậu ngạc nhiên. “Anh vào uống café.” Cô gái nói giọng ngọt ngào. Hâu im lặng bước vào hàng hiên có bày một số ghế con, và hai chiếc bàn nhỏ ngồi xuống. Hậu nghĩ mình uống café cũng là một mục đích khi anh bước ra khỏi nhà. “Cô cho tôi ly café đá.” Lúc gọi café Hậu mới quan sát cô gái. Lúc này anh thực sự kinh ngạc vì không ngờ cô gái đẹp đến như thế. Nước da trắng hồng, mũi cao, mắt to, miệng trái tim. Tự dưng Hậu nghĩ đến người dân tộc miền Bắc. Khi cô gái mang ly café đến, Hậu hỏi:
“Cô tên gì? Tại sao tôi không biết cô?”
“Anh ở đâu lại đây, em ở đây nhưng không hề thấy anh?”
Cô gái trả lời ngay như có chuẩn bị khiến Hậu lúng túng. Quả thật anh có ở đây đâu mà biết. Nhưng ba năm trước, anh ở nhà cha gần một năm rưỡi nào thấy cô. Anh nói với cô gái, và cô ta vừa trả lời vừa chỉ tay lên cửa:
“Em mới đến ở đây một năm. Nhà em là tiệm may quần áo mà.”
Lúc này Hậu mới để ý, một tấm bảng nhỏ treo trên đầu cửa nhà, “Tiệm may Lộc”. Cô gái nói, “Em tên Ngâu, còn nhà em tên Lộc.” Thì ra cô ta đã có chồng, nhưng cô thật không còn trẻ, ít ra cũng đã ba mươi. Hậu hỏi thăm chồng cô và mời anh ta ra uống café với anh. Ngâu lắc đầu, “Anh Lộc đi vắng.”
Ngâu ngồi nói chuyện với Hậu thỉnh thoảng lại đứng lên, khi có khách vào uống café. Tuy chỉ có hai cái bàn và mươi cái ghế, lúc nào cũng có khách lai rai vào ra. Hậu biết khách đến nhìn Ngâu. Họ uống café và ngắm người đàn bà đẹp, quyến rũ hiếm hoi như Ngâu. Ngâu thú nhận, “Em biết anh Hậu vì em hay đến mua kim chỉ của ba anh. Bác Xuân có kể về anh.” Lúc này Hậu hiểu ra Ngâu vồn vã với anh là có lý do. Ngâu nói, “Anh chưa vợ, lại là người chế độ cũ.” Ngâu dừng lại, Hậu hiểu nói ngay, “Đáng thương phải không?” Ngâu cười lắc đầu nói, “Bố em cũng là người chế độ cũ, và cũng bị đưa đi cải tạo ngoài Bắc mười hai năm.” Hậu tò mò:
“Bố cô cấp bậc phải lớn lắm mới tù lâu như thế!”
Ngâu cười, “Không phải thế đâu, bố em làm quận trưởng trên Lâm Đồng, cập bậc chỉ tương đương thiếu tá, nhưng bố em gốc miền Bắc trước năm 1954 có thành tích.” Hậu lúc này hiểu ngay, bố Ngâu phải gốc người Tày hay Nùng di cư năm 1954. Người Tày Nùng vào Nam đa phần gốc quân đội Pháp, chống Cộng quyết liệt. Hậu hỏi Ngâu, “Thế bố cô hiện giờ ở đâu?” Ngâu cho biết đang sống trên Đà Lạt với hai người anh của cô. Ngâu nói chuyện bặt thiệp, vui vẻ đặc biệt nói giọng Nam khiến Hậu rất ngạc nhiên. Hỏi lý do, Ngâu bảo, “Em thích giọng Nam. Đã không nói giọng Bắc từ lâu.” Hậu trả tiền café rồi tính ra về thì Ngâu nói, “Anh Hậu thỉnh thoảng ghé uống café nhé!” Hậu gật đầu thành thật trả lời, “Dĩ nhiên, tôi thăm ba tôi sẽ ghé cô Ngâu uống café. Cô thật là xinh đẹp.” Ngâu cười nháy một mắt với anh như chấp nhận lời khen. Hậu về nhà cha lấy xe đạp đến nhà chị anh, mới biết em anh hẹn tuần tới cùng nó đi lấy gỗ ở Trị An lần thứ hai.
Tu và Cẩm cùng con gái đi chơi ngày chủ nhật tại phố Lê Lợi. Lúc này nền kinh tế bao cấp giải tỏa, và hé mở việc buôn bán tự do từng phần, nên Sài gòn tấp nập và sinh động hẳn lên. Lúc chở vợ con lên công viên trước dinh Độc Lập cũ, Tu thấy đám người rất đông ngồi trong công viên trước sở Ngoại Vụ. Tu nói với Cẩm, “Em phải biết số người nhộn nhịp này là thành phần nộp đơn xuất cảnh của diện con lai, và thành phần chế độ cũ. Cẩm và Yến xuống xe đứng bên lề đường, cả hai nhìn ngắm đám đông. Tu và Cẩm cùng có cảm giác đó là những con người cùng cảnh ngộ với mình. Yến nói với mẹ, “Mình đi xuống chợ Sài gòn mua quần áo mà đến đây làm gì?” Cẩm kéo con lên xe và ba người xuống chợ Bến Thành. Trong lúc hai mẹ con vào chợ, Tu đứng trước cửa Đông nhìn thiên hạ. Anh hút thuốc và nghĩ đến việc một ngày rời bỏ thành phố này lại có chút lưu luyến. Nhưng khi nhớ đến những ngày tù tội của mình ở miền Trung, lòng anh chợt dưng lạnh lẽo. Tu muốn đi, một phần tận đáy lòng muốn giải quyết vấn đề gia đình.
Những tháng gần đây, Tu mỗi lần gần gũi vợ là một cảm giác buồn chán khôn nguôi. May có bình thuốc rượu tắc kè và những viên thuốc sâm Pharmaton không làm cho Cẩm phàn nàn. Tu cố quên thực tế, nhưng nhìn Cẩm ngày mỗi đẫy đà, anh lại cảm giác bao nhiêu sức lực của mình đều dồn cho vợ. Nhưng Tu càng muốn quên thực tế, thì tận đáy lòng lại xâu xé ý tưởng mình phản bội Khôi. Cứ như thế mà tâm trạng Tu xung đột thường xuyên, và thường cảm thấy nóng nảy, tức giận với vợ. Tình cảm vợ chồng ngày một sứt mẻ vì cả hai sống với nhau như đóng kịch. Cảm giác Tu nhận được nỗi căm tức khi thấy Cẩm thân mật cười nói với Phương, và đám cán bộ thương nghiệp mỗi khi phải lo lót với họ. Cẩm thấy Tu giận dữ lại càng như khiêu khích Tu. Mỗi lần giận dữ bộc phát, buổi tối Cẩm qua ngủ với con gái. Tu phải giải hòa với vợ vì anh cảm giác trơ trọi, và bị bỏ rơi khi phải nằm một mình suốt đêm.
Những lần xung đột kịch liệt với vợ, Tu thấy lòng nặng nề. Anh tìm Hậu tâm sự, và cần sự an ủi của Hậu. Hậu giải thích tính chất tâm lý mất cân bằng, để Tu tự tìm cách giải quyết. Khi Tu thố lộ mỗi lần hai vợ chồng bất hòa thì nếu giải tỏa bằng việc làm tình với nhau, anh có cảm giác mình mạnh mẽ, cường độ kích thích gia tăng. Lúc bấy giờ Tu bảo, “Thú thật anh muốn ăn tươi nuốt sống Cẩm. Nhiều lúc cảm giác muốn hành hình vợ…” Hậu nghĩ ngay bệnh lý macho trong con người Tu hình thành theo thời gian, và tình hình này không chữa trị thật khó mà có cuộc sống gia đình bình thường được. Tuy nhiên, Hậu bao giờ cũng khuyên Tu nên đi gặp bác sĩ tâm lý, và tường trình hết sự việc hình thành cuộc hôn nhân. Tu chỉ gật đầu nhưng hoãn binh bằng cách, “Anh cố sang Mỹ được sẽ giải quyết chuyện này!” Hậu hỏi:
“Anh giải quyết như thế nào?”
“Ly dị!”
Hậu đồng ý, nhưng anh khuyên Tu, “Nếu anh không nhẫn nhịn, việc xung đột gây nên có khi rất đáng tiếc, lúc bấy giờ hối hận không kịp.” Nghe Hậu nói, Tu cười, “Làm gì ghê gớm như vậy. Anh kiểm soát mình được và luôn nhớ ý kiến của Hậu.”
Bẳng đi sáu tháng không gặp nhau vì Hậu phải đi lên rừng lấy gỗ, và cũng không thấy Tu lên nhà cha mình tìm. Một buổi sáng Hậu từ nhà cha đến quán café của Ngâu để uống. Bất ngờ, thấy Tu đạp xe đến tìm anh. Hậu và Tu ngồi vừa uống café vừa nói chuyện. Tu vui vẻ báo cho Hậu biết tuần rồi gia đình được phỏng vấn và đã được chấp thuận. Tuần tới bắt đầu làm hộ chiếu để mua vé máy bay sang Mỹ. Hậu tuy có nghe diện con lai được phỏng vấn nhưng không ngờ hồ sơ gia đình Tu cứu xét sớm như thế. Anh vui và chúc mừng Tu. Thâm tâm Hậu nghĩ ngay đến việc giải quyết việc mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là ưu tiên hàng đầu. Khi Tu nhìn Ngâu mới nói với Hậu, “Sao có cô gái đẹp đến như thế này, Hậu có quen không?” Hậu gật đầu rồi nhìn Lộc, chồng của Ngâu đang ngồi cặm cụi may bên trong khung cửa sổ. Lần trước nghe dì nói, Ngâu lấy chồng già vì Lộc giàu đã cưu mang Ngâu, trong khi cô mang nợ ngập đầu. Lộc năm mươi tám tuổi, mái tóc muối tiêu quá nửa cùng dáng vẻ cần cù nhẫn nại. Ngâu nói với Hậu chồng cô cũng là cựu viên chức chế độ cũ, có đi cải tạo ở miền Trung. Hậu nói với Tu, “Cô Ngâu cũng là người thế hệ chúng ta, cũng một lứa bên trời lận đận mà!” Tu cười hỏi, “Hậu giấy tờ đến đâu rồi?” Hậu trả lời, “Cũng đang được cứu xét.”
Hậu nói nhưng anh tin rằng mình không may mắn được ra đi sớm như Tu. Vấn đề xuất cảnh theo diện chế độ cũ HO bị tù hơn ba năm, không hề được nhà nước chính thức thông báo. Hậu nói với Tu rằng, cục diện của một chính sách lờ mờ như thế, có thể việc ấy còn đang thương lượng chưa có kết quả. “Cuộc đời mình kết quả từ một cuộc lừa phỉnh chính trị to lớn và lâu dài, thế nên không được lạc quan tếu. Tuy nhiên không phải không hy vọng.” Nghe Hậu nói, Tu đồng ý và mong rằng kết quả tốt để hai người có thể gặp nhau ở Mỹ. Hậu nhắc Tu khi nào có vé máy bay báo cho anh hay.
Khi Tu ra về, Ngâu đến ngồi nói chuyện nhắc Hậu, “Anh Hậu nói hôm trước việc vắt sổ như thế nào? Em đang có chiếc máy vắt sổ làm việc không hết công suất. Giới thiệu vải cắt vắt sổ, kiếm thêm tiền em vô vàn biết ơn anh.” Nghe giọng khẩn khoản của Ngâu, Hậu trả lời, “Để chiều nay anh đi hỏi lại vì hôm trước bạn của đứa em anh hỏi anh muốn vắt sổ hay không để nó giúp. Tuy nhiên anh không hứa chắc.” Ngâu nghe gật đầu, thì Lộc trong nhà bước ra nói với Hậu, “Chiếc máy của tôi có thể vắt sổ liên tục hai mươi bốn giờ. Có hàng anh cứ nhận, chúng ta ăn chia với nhau.” Hậu bảo, “Để tôi đi hỏi xem cái đã.” Nói xong anh ra về. Buổi chiều đứa em trai đến nhà báo cho Hậu biết ngày mai đi lấy gỗ, rồi Phúc bảo sẽ đi hỏi việc vắt sổ cho Hậu vào buổi tối.
Hôm sau trước khi lên đường đi Biên Hòa, Hậu ghé Ngâu cho biết hàng vắt sổ phải ít ra một tuần nữa mới có đợt vải cắt mới và chờ Hậu về. Chuyến lấy gỗ lần này đến hai xe chở bốn mươi lăm khối gỗ dầu khi về đến cầu Hang bị tịch thu, vì giấy mua gỗ đã hết hạn hai ngày và không gia hạn kịp. Phúc, em Hậu mất một số vàng lớn nên quyết tâm cùng giám đốc nông trường, xuống sở kiểm lâm Biên Hòa thương lượng để lấy lại số gỗ mất. Hậu về nhà không việc làm nhớ đến yêu cầu của Ngâu, nên đi tìm nguồn vải ở Đa Kao để vắt sổ.
Mất bốn ngày chầu chực, Hậu mới dành được kiện vải gần hai nghìn bộ quần áo cắt sẵn. Hậu sẽ chở Ngâu đi nhận hàng. Hỏi ai sẽ bán café, Ngâu nói, “Em Mơ sẽ thay Ngâu bán.” Hậu gặp Mơ hôm sau trước khi đi lấy vải. Mơ đẹp không kém chị, hai mươi sáu tuổi chưa có gia đình, đang ở chung nhà với vợ chồng Ngâu.
Khi Hậu chở Ngâu đi nhận vải, cô nói với anh, “Em giới thiệu Mơ với anh, anh đồng ý không?” Hậu im lặng không nói tiếng nào, đến khi Ngâu chồm tới trước hỏi lần nữa. Ngực Ngâu ép vào lưng Hậu, anh giật mình lòng xao động, “Anh chỉ sợ không xứng.” Nghe Hậu nói, Ngâu cười, “Tại sao?” Hậu trả lời ngay, “Anh già rồi, không nghề nghiệp, xã hội không dung chứa, thật không xứng với con người trẻ đẹp như Mơ!” Lúc này xe dừng vì đèn đỏ, Ngâu lại đưa hai tay lên vịn vai Hậu nói như nhắc nhở:
“Con người anh vô giá mà không biết, hay anh khiêm tốn?”
“Cái gì? Anh chính hiệu vô sản. Chiếc xe anh đang đi của cha anh cho mượn. Nhà thì ở nhờ người chị, cơm nước cũng nhờ chị em từng bữa giúp cho.”
“Anh sẽ xuất cảnh đi Mỹ nên bao người ao ước được đi với anh kìa.”
“Thì em và anh Lộc cũng thế thôi.”
“Không phải thế đâu, anh Lộc đi tù cải tạo dưới ba năm. Làm sao đi được.”
Hậu giật mình, lúc này anh mới nhận ra mình ngây thơ. Ngâu chuẩn bị tất cả, có khi cả chuyện vắt sổ cũng là một âm mưu. “Sao lắm âm mưu thế này nhĩ?” Hậu chua chát thầm nghĩ. Ngâu lại chồm lên ép ngực vào lưng anh, “Sao anh không nói gì cả, gần đến nơi chưa anh?” Hậu nói, “Sắp đến nơi rồi.” Lúc này Hậu cảm tưởng Ngâu đang ôm anh. Lúng túng, Hậu chỉ mong cho mau đến nơi. Anh nghĩ đến Lộc rồi cả một quá trình rối rắm của hai vợ chồng Tu. Hậu thở dài dựng xe dưới tàn cây bạch đàn cùng Ngâu bước vào nhà Định, bạn của Phúc em anh.
(còn tiếp)