LTS. Mùa Địa Ngục là một truyện dài gồm ba truyện vừa kết hợp: Một Thời Điêu Linh, Mùa Địa Ngục, và Vàng Rơi Mênh Mông. Cả ba truyện có một nền chung là cuộc chiến tranh Việt Nam, mỗi truyện có những nhân vật với phần đời riêng nhưng lại có liên hệ với nhau.
Da Màu đã giới thiệu Một Thời Điêu Linh là phần đời Hậu trong lao tù cộng sản. Nay chúng tôi được phép tác giả đăng tiếp vài trích đoạn trong Mùa Địa Ngục là phần đời của Hậu và Tu sau khi ra tù trên quê hương.
2
MÙA ĐỊA NGỤC
“Đã một thời tuổi trẻ đi qua bóng tối mùa dông bão lịch sử,
và tiếp nối một mùa địa ngục phía sau…”
Tháng mười hai, Hậu gặp lại Tu tại nhà cha mình. Anh mừng rỡ nắm chặt tay người bạn trung niên da ngăm đen, gầy ốm, khuôn mặt xương xương và đặc biệt mái tóc cắt ngắn tương phản hình ảnh một thời còn đọng trong trí nhớ của anh. Tu cũng vui vẻ hớn hở khi gặp lại Hậu. Gói chả giò Cầu Tre Tu mang đến được dì của Hậu chiên, bày trên bàn thơm nồng mùi khoai môn cau. Ông Xuân, ba của Hậu lấy bình rượu thuốc đong một xị cho ba người uống. Nâng ly rượu ông nói, “Hai đứa uống thoải mái, bác chỉ ly này vì sức khỏe không cho phép uống thêm.”
Tu vội nâng ly mình lên, “Bác nghỉ đi, tụi con uống với nhau mừng buổi gặp mặt. Mười tám năm rồi còn gì!” Tu xuống giọng chữ “còn gì!” nghe áo não. Tu rời Pleiku năm Hậu mười tám tuổi, bây giờ anh ba mươi tư thì Tu ít ra cũng đã bốn mươi. Hậu đoán như thế, anh nhớ lại mái tóc dợn sóng của Tu những ngày anh ta đi dạy học. Tu phải xịt keo lên mái tóc trước khi đến trường chỉ vì tóc anh bồng bềnh khi gặp gió. Tu hỏi Hậu có tính lấy vợ hay không, anh lắc đầu, “Tôi lo cho mình chưa xong làm thế nào mà đèo thêm một người nữa nhỉ?” Ông Xuân ngồi bên cạnh nghe con than liền thở dài. Bên ngoài trời nắng lên cao một ngày cuối tuần, cái chợ nhỏ cạnh nhà râm ran tiếng mua bán chen lẫn tiếng chặt thịt cá, chẻ củi, và tiếng rít của bánh xe gắn máy thắng gấp… Tu nói với Hậu mình đang buôn vải chợ trời tại chợ Soái Kình Lâm trên Chợ Lớn, và mời Hậu tham gia nếu muốn có việc làm.
Hậu trầm ngâm không trả lời. Sau đó cả Tu và Hậu đều không giấu ý định tìm đường vượt biên. Nền kinh tế ngăn sông cấm chợ tuy thay đổi hơn một năm, nhưng vẫn muôn vàn khó khăn đối với những người như Hậu và Tu. Tuy Tu không phải đi tù nhiều năm như Hậu vì gốc thầy giáo, nhưng anh có tập huấn tám tuần sĩ quan trừ bị Thủ Đức trong thời kỳ chiến tranh, nên chính quyền cộng sản đã tước bỏ việc dạy học khi cho rằng anh có khả năng bị móc nối làm việc cho kế hoạch hậu chiến của Mỹ. Tu cho Hậu biết mình đã lập gia đình năm 1974, và người vợ của anh là con gái của chủ nhà Tu trọ học hai năm sư phạm Qui Nhơn. Tu nói, “Cha vợ tôi chủ xe đò miền Trung, và xe vận tải Qui Nhơn-Pleiku vốn cũng là bạn của bác đây.” Anh kể vợ chồng hiếm muộn nên có nuôi đứa con gái lai Mỹ năm nay mười hai tuổi. Nói chuyện hồi lâu, Hậu hỏi Tu có còn làm thơ như những năm đi dạy học. Tu gật đầu, “Thỉnh thoảng, thơ vẫn là chỗ để tôi xả sú pắp mà!”
Xị rượu thuốc thứ hai, uống nửa chai thì cả hai người đều say nên không thể tiếp tục uống nữa. Tu ra vể sau khi hẹn với Hậu ngày mai đi uống café sáng. Ông Xuân bắt Hậu nằm ở salon nghỉ cho hết cơn say mới được về. Hậu nằm xuống nghĩ mình ngủ ngay nhưng không được, kỷ niệm năm nào hiện lên như bào chữa cho sự ra đi không trở lại Pleiku năm anh mười bảy tuổi. Năm 1966, Tu lên Pleiku dạy tại trường tiểu học tỉnh lỵ, sau khi ra trường sư phạm Qui Nhơn. Ông Nhẫn, chủ nhà trọ thời kỳ anh học sư phạm, vốn là người quen của ông Xuân mới gởi gấm Tu, nhờ ông giúp đỡ chổ ăn ở khi chân ướt chân ráo đến thành phố cao nguyên này. Tu được ba của Hậu dành cho một phòng nhỏ trong một căn nhà, vốn là cửa hàng bán vật liệu xây cất đối diện với Chợ Mới. Buổi tối Hậu thường ra cửa hàng học bài và bù khú với Tu thật vui. Tuy Hậu nhỏ hơn Tu năm tuổi, nhưng nói chuyện văn nghệ cùng nhau lại tâm đắc vì cả hai đều thích văn thơ. Hậu bấy giờ tuy mới học đệ tứ nhưng lại là con mọt sách. Tiền cha mẹ cho, Hậu đều mua sách đọc. Tu cũng thường mua sách nhưng hình như không kịp cho Hậu đọc. Thấy Hậu mê sách, Tu khuyên, “Đọc sách nhiều chỉ làm thiên hạ chê là mọt sách.” Hậu trả lời, “Em từng ước mơ khi chết, được biến thành con mọt ăn sách kia mà!” Tu lắc đầu chịu thua.
Năm tháng ấy với Hậu đẹp não nùng và huyền thoại khi nhớ lại. Ngày hôm nay nếu có ai hỏi lý do tại sao anh mê mẩn một thời kỳ chiến tranh tàn khốc như thể, Hậu trả lời gọn hai chữ, “Tự Do”. Có thể ngày ấy Hậu không thể nào giải thích được ý nghĩa một con chim đang bay trong bầu trời bom đạn và máu lửa không ngớt chung quanh. Con chim ấy biết mình đang bay, nhưng không hề nhận ra ý nghĩa số phận của mình trong bầu trời. Nhưng nếu con chim không còn được bay, có lẽ bấy giờ nó mới thấm thía cái bao la mênh mông của trời đất, và cả cõi lòng của mình. Con chim chỉ thể hiện tự do trên đôi cánh, một khi nó bay trong bầu trời. Ở mãi dưới đất nó không phải là loài chim nữa.
Hậu có nhiều giấc mơ dài sau khi anh trở về nhà. Mỗi ngày đi ra đi vào ngôi nhà nằm một góc phố chợ nhỏ, Hậu chỉ nghe tiếng thở của mình cả ngày lẫn đêm. Hôm sau lúc uống café Hậu nói với Tu, “Tôi nghe tiếng thở của mình, và ý thức mình còn sống cho dẫu sự sống ấy ví von không khác cái chết bao nhiêu!” Tu lặng lẽ nghe Hậu nói, anh hiểu bởi anh không khác Hậu. Đã một thời tuổi trẻ đi qua bóng tối mùa dông bão lịch sử, và tiếp nối một mùa địa ngục khác phía sau. Tu hỏi:
“Hậu có từng đếm hơi thở của mình?”
Hậu mơ hồ gật đầu, Tu hỏi:
“Bao nhiêu?”
“Chỉ một!”
Hậu trả lời. Tu nhìn anh, “Tại sao?” Hậu bảo, “Người nín thở chỉ có một hơi thở!” Tu nghe gật đầu. Tu lại nói, “Khoan nói chuyện hôm nay, anh kể Hậu nghe chuyện năm xưa, ngày anh rời Pleiku về Qui Nhơn dạy học.” Tu nói xong trầm ngâm nhớ lại buổi chiều nhận thư của Khôi từ mặt trận Dakto. Thư viết ngắn chỉ nhắc nhở, “Mày đã hứa với tao chăm sóc Cẩm thì đừng quên những gì tao nói lần về phép vừa rồi. Tao không nói với Cẩm chuyện này. Nếu tao không may tử trận, mày thay thế tao làm chồng Cẩm vì tao nghĩ xa cho mày.” Lúc ấy Tu không mấy chú ý những lời dặn dò của Khôi.
Hôm sau Tu được thêm tin trung đoàn 42 tan hàng, và Khôi chết tại mặt trận Tân Cảnh Dakto. Cẩm đau buồn sau cái chết của Khôi, nhưng nàng cũng được an ủi nhiều qua sự chăm sóc tận tình của Tu. Tu và Khôi là bạn chí cốt cùng quê Phan Thiết. Cả hai học bậc tiểu học và trung học đều chung trường và chung cả lớp. Đậu Tú tài, Tu thi vào sư phạm hai năm Qui Nhơn, trong khi Khôi tình nguyện đi Thủ Đức khóa hai mươi mốt. Khi Khôi ra trường về trung đoàn 42 thuộc sư đoàn 22, hậu cứ đóng tại Qui Nhơn, mỗi cuối tuần ra trại Khôi đều về nhà trọ của Tu tại thị xã. Cũng tại nhà trọ này, Khôi quen Cẩm, con gái chủ nhà và hai người yêu nhau. Tu chứng kiến tình yêu hai người bằng tấm lòng của người bạn thân, sẵn sàng chúc phúc cho một cuộc hôn nhân mỹ mãn tương lai. “Nhưng bản chất chiến tranh và tình yêu rõ ràng mâu thuẫn nhau.” Khôi khẳng định. Tu biện giải, “Mày chỉ bi quan, nhưng với tao điều sai lầm duy nhất là mày đi sĩ quan Thủ Đức. Nếu không mặc bộ quần áo trây di này, mày không phải nói với tao bao điều buồn thảm như thế.” Khôi không trả lời. Chuyện đi lính với Khôi không phải vấn đề, nhưng chuyện rủi ro của một người lính tác chiến thì không thể phủ nhận được.
Tu nghỉ phép thường niên một tháng, anh về Qui Nhơn thăm ông Nhẫn và Cẩm một tuần trước khi về nhà cha mẹ tại Phan Thiết. Ông bà Nhẫn xem Tu như con từ khi anh học Sư phạm. Căn phòng dành cho Tu vẫn còn nguyên như những ngày anh còn đi học. Cẩm đã học xong trung học, hay đến dọn dẹp sạch sẽ như nhớ đến những ngày vui thanh xuân của mình. Bao giờ Cẩm cũng xem Tu như anh, và là người có bổn phận giúp Cẩm giải những bài toán vật lý khó. Khi Khôi đến nhà trọ của Tu, Cẩm vui vẻ nhận thêm một người anh thứ hai. Nhưng người anh này một ngày nói với nàng, “Anh rất nhớ em những khi cấm trại. Nhớ đến độ phải leo hàng rào về thành phố để gặp em.” Cẩm nghe cười ngây thơ hỏi lại, “Về làm gì cho khổ như thế?” Khôi nói, “Chỉ cần nhìn em là anh thấy vui và hạnh phúc.”
Khi Khôi vào trại, Cẩm hỏi Tu, “Anh Khôi nghĩ gì về em?” Tu bảo, “Anh Khôi yêu em, và em có quyền tự hỏi mình có thích Khôi hay không?” Ngày ấy Tu cũng có những buổi tối ngồi suy nghĩ mình có tình cảm đặc biệt gì với Cẩm không, nhưng hình như Cẩm không cho Tu cảm giác gì, ngoài sự vui vẻ thoải mái tự nhiên của một người em gái. Cẩm hay đến thăm Tu bấy giờ chỉ vì cuối tuần Khôi về phép, đến vui chơi với Tu ngày chủ nhật.
Khi Tu ra trường thì Khôi cũng về trung đoàn 42 đồn trú tại Kontum. Tu ở Pleiku thỉnh thoảng được thư Khôi, hay Khôi tự lái xe jeep đi Pleiku thăm Tu. Lúc ấy Tu chỉ biết tin Cẩm qua Khôi và cũng được Khôi cho biết sẽ cưới Cẩm một khi lên Trung Úy. Năm 1969, Tu đổi nhiệm sở về Qui nhơn làm việc tại Nha Học Chính. Tuần lễ cuối cùng Tu ở Pleiku, Khôi về thăm và hai người uống bia với nhau tại chợ Cũ. Về nhà trọ, trời đã khuya. Nằm gác chân lên nhau cả hai đều ngà say, Khôi nói:
“Ngày mai tao về lại đơn vị. Không chừng lần này là lần cuối cùng hai đứa gặp nhau bù khú như thời đi học!”
“Nói gì xui xẻo! Tụi mình còn gặp nhau dài dài. Tao còn phải dự đám cưới của mày và Cẩm!”
Tu nói và ý thức điều mình nói. Chiến tranh sẵn sàng cướp đi người thân, bạn bè của mình bất cứ lúc nào. Tuy không ai muốn điều đau buồn mình phải gánh chịu, dù sự thật không thể phủ nhận được. Ngay cả lúc này đây. Tu hình dung một trái đạn pháo kích rớt xuống đâu đó, giết người vô tội là chuyện bình thường. Nghĩ đến đó, Tu buột miệng, “Đ. má chiến tranh!” Khôi nằm ngửa hút thuốc nghe Tu chửi thề, quay sang nói:
“Không có chiến tranh, tao thất nghiệp đó!”
“Mày có biết chiến tranh tạo nên bao nhiêu đau khổ cho con người hôm nay hay không?
“Dĩ nhiên, nhưng không thể làm chiến tranh biến mất được. Tao chỉ còn biết biện hộ nhờ nó mà tao sống được!”
Tu muốn chửi thề lần nữa, nhưng không thể buột miệng vì anh nghĩ lần này chửi bạn mình vì như Khôi nói, bao người sống nhờ nó mà cũng bởi nó mà bao người chết oan mạng. Mà thay vì chửi, lý ra phải an ủi vì câu nói của Khôi thực sự bi thương. Không phải cái sinh hoạt tấp nập hàng ngày của mọi người đều có sự tham dự của chiến tranh hay sao? Tu quay sang Khôi thấy bạn đang nhìn lên trần nhà không nói gì. Khôi đang nhớ chuyện cũ, có thể là chuyện tình yêu may ra đẹp đẽ hơn cái trần trụi của chiến tranh mà Tu vừa nhắc đến? Chợt nghĩ đến vài ngày nữa rời Pleiku, Tu có chút tiếc nuối. Ba năm trôi qua thoáng chốc trong hồi ức. Nhớ Khôi nói, nó có thể lên trung úy trong tháng tới, vì đã được đề bạt ba tháng trước. Tu nghĩ đến đám cưới của Khôi và Cẩm, lòng có chút phấn khởi. Anh đứng lên ra phòng khách lấy nước uống rồi ngồi nhìn ra cửa kính. Quầng sáng cột điện soi con đường trước nhà trắng xóa sương đêm. Nhìn đồng hồ thấy một giờ khuya, Tu toan đứng lên vào phòng ngủ đã thấy Khôi ra khỏi phòng đến chiếc ghế bên cạnh ngồi xuống. Thấy Tu như ngạc nhiên, Khôi nói:
“Tao muốn nói với mày một chuyện quan trọng. Tao suy nghĩ từ nhiều ngày, nhưng hôm nay là ngày cuối cùng tao gặp mày tại Pleiku. Đó là chuyện tao và Cẩm. Việc vợ chồng thành hay không, ai biết được trong điều kiện chiến tranh khốc liệt hôm nay!”
“Mày thường bảo đến đâu hay đến đó kia mà. Suy nghĩ làm gì thêm bận tâm. Bỏ qua đi ngủ tiếp, sáng tụi mình đi ăn phở, uống café trước khi mày về lại Kontum.”
Nghe Tu nói, Khôi lắc đầu đốt điếu thuốc rít một hơi dài rồi nói với Tu:
“Tao thế nào cũng được, nhưng tình cảm lại có thêm Cẩm. Nghĩ chuyện tương lai nào phải một mình tao. Nhưng nếu tao chết, xin lỗi tao nói sự thật vì tao thường xuyên gần gũi cái chết. Chiến sự ngày mỗi gia tăng mà tao rủi ro thì như thế nào? Chỉ có mày là bạn chí cốt trong cuộc đời này thế nên tao nghĩ, mày sẽ thay tao. Mày sẽ cưới Cẩm làm vợ nếu tao chết. Tao nói thẳng chỉ có mày, và mày hãy hứa với tao bảo bọc Cẩm suốt đời một khi Cẩm là vợ mày. Tao không muốn bất cứ ai làm chồng Cẩm trừ mày, nếu tao không may tử trận.”
Nghe Khôi nói, Tu rùng mình. Anh chợt nhận ra mình tỉnh táo và Khôi đang bình tĩnh nói chuyện. Cơn say đi đâu mất, và những lời nói của Khôi sao nghiêm túc như thế. Tu xua tay, an ủi bạn. Anh nói nhiều với Khôi ngày ấy và ngày hôm nay nói chuyện với Hậu, Tu lại thấy mình như muốn biện giải một vấn đề gì đó mà mãi không nghĩ ra. Tu nói:
“Hậu biết không, anh kể chuyện này chỉ với mục đích cho Hậu biết cuộc hôn nhân của anh hết sức lạ lùng. Anh lấy vợ giùm bạn.”
“Thế anh có yêu vợ anh hay không mà nói như vậy?”
Hậu thắc mắc hỏi. Tu trầm ngâm một lúc mới nói, “Anh không yêu Cẩm dù đã lấy nhau đến hơn mười năm rồi.” Thái độ Tu cho thấy hai vợ chồng không được hạnh phúc. Câu chuyện hơi hiếm hoi nhưng Hậu thấy không phải không từng xảy ra. Và hệ luận của câu chuyện là Tu sẽ yêu Cẩm như Khôi đã yêu, thế nhưng câu trả lời của Tu khiến Hậu ngạc nhiên. Tình yêu với Hậu là điều tuyệt diệu vô song trên cõi đởi này. Nó là phép lạ làm thay đổi từ bề mặt hời hợt cho đến cốt lõi sâu sắc tận cùng bên trong vấn đề. Tuy nhiên chuyện của Tu, anh không hiểu được và anh nghĩ nếu có dịp Tu có thể kể thêm với anh. Hậu nhìn vào mắt Tu, nhận ra anh ta muốn thổ lộ tâm sự nhiều nhưng lại không nói ra. Uống café xong, Tu cho Hậu địa chỉ nhà thuê vợ chồng anh đang ở tại Chợ Lớn, và mời Hậu hôm nào rảnh ghé chơi vào buổi sáng vì Tu rảnh. “Anh chỉ bán chợ trời vào buổi chiều, còn buổi sáng anh ngồi tại nhà kẽ bảng hiệu cho bất kỳ ai mở tiệm buôn bán yêu cầu.” Tu cho biết như thế.
Hai tuần lễ sau, có dịp đi Chợ Lớn, Hậu ghé thăm Tu lúc 9 giờ sáng. Vợ chồng Tu ở trong căn phòng vuông vức hai mươi mét vuông. Con gái Tu đi học, và Cẩm vợ Tu đi mua vải chụp giựt của những nhà máy dệt trên Hốc Môn. Tu bảo, “Anh chỉ đi khi nào hàng xuất ra nhiều, chứ lúc này hàng hóa bán ra trôi nổi rất ít.” Theo Tu nói một mét vải từ Hốc Môn chênh lệch với chợ vải Soái Kình Lâm đến vài trăm đồng. Mua được cây vải năm mươi mét có thể nắm chắc lời vài ngàn đồng.
Tu đi pha café nhưng Hậu yêu cầu hai người đi uống café bên ngoài. Căn phòng rộng Tu ngăn riêng phòng ngủ cho con gái, anh có thể vẽ bảng hiệu trong phòng hoặc hành lang hông nhà. Thấy trên kệ dựa vách một bình sành to, Hậu cho rằng Tu ngâm rượu thuốc để uống. Hai người ra quán ăn cạnh bến xe đò lục tỉnh uống café vừa nói chuyện cũ. Những kỷ niệm rời rạc thiếu sót vì thời gian quá lâu, được hai người thay phiên bổ sung như một cuộn phim ráp nối lại để hoàn chỉnh theo ý muốn. Tu kể trước khi lấy Cẩm anh có người yêu là một cô giáo cùng dạy tại trường nam tiểu học. Năm ấy Hậu đã vào Sài gòn học. Nhưng mối tình ấy sau tan vỡ khi Tu đổi về Qui Nhơn làm việc, và lo bảo bọc an ủi Cẩm sau khi Khôi mất. Năm tiếp theo Tu và Cẩm kết hôn. Tu nói, “Lúc lấy nhau anh nghĩ mình làm một công trình lớn lao của cuộc đời. Đó là thực hiện di chúc người bạn thân yêu nhất của mình.” Tu im lặng như nhớ lại rồi nói thêm:
“Bấy giờ anh nghĩ mình thực hiện được yêu cầu của Khôi và mang đến hạnh phúc cho Cẩm.”
Tu giải thích sau khi Khôi mất, với tấm lòng chân thực và quyết tâm chỉ một năm sau, Cẩm tỏ ra bằng lòng tình cảm của Tu dành cho nàng. Nhưng khi Hậu hỏi, “Anh lúc ấy có yêu Cẩm hay chỉ là cố công hoàn tất nhiệm vụ tình cảm mà Khôi yêu cầu?” Tu lắc đầu nói:
“Anh cứ nghĩ mình yêu Cẩm nhưng thật ra không phải như thế?”
“Tại sao?”
“Việc này sau khi cưới nhau anh mới khám phá ra. Anh chỉ là một diễn viên đóng trọn vai diễn theo yêu cầu của bạn mình.”
Hậu nhìn Tu ngạc nhiên, vì vấn đề hình như đã đi quá xa và lệch hướng trong khi cái khó khăn ban đầu hai người Tu và Cẩm vượt qua được. Hậu hỏi, “Thế anh có nói với chị Cẩm, yêu cầu của anh Khôi lần cuối cùng hay không?” Tu lắc đầu:
“Anh không nói và nghĩ rằng một ngày sẽ kể tất cả câu chuyện. Và cuộc hôn nhân hình thành sau này, sẽ vun đắp tình cảm của anh dần dần đối với Cẩm.”
“Đến hôm nay anh đã nói ra chưa?”
“Vẫn chưa!”
“Tại sao?”
“Anh vẫn thấy chưa phải lúc.”
Hậu hiểu và nghĩ rằng Tu làm đúng. Tuy nhiên, trước một biến cố để có tiền đề kiểu “Hôn nhân từ một lời hứa” đã khiến tình yêu nếu có, mất đi tính lãng mạn cần thiết. Nếu không tự chủ, từ một trục trặc cá tính dễ dẫn đến bi kịch. Lúc bấy giờ thay vì một hạnh phúc mỹ mãn, sẽ là một địa ngục che giấu bên trong cuộc sống lứa đôi. Đã quá lâu cho một cây kim trong bọc. Nhưng đó cũng chỉ là ước đoán của Hậu, dù sao Tu cũng ước tính được hạnh phúc lứa đôi của mình như thế nào để mà quyết định.
Lúc này Hậu kể sơ cho Tu nghe những năm tháng dài mình trải qua trong các trại tù cải tạo miền Bắc khi Tu hỏi. Việc này thực ra với Hậu hết sức nhàm chán. Vì anh có cảm giác chưa nói ra, người nghe đã hình dung được câu chuyện như thế nào, bởi nó là thứ sản phẩm của chiến tranh mà loài người từng đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực viết ra.
Thế kỷ hai mươi phải nói điển hình cho thứ sản phẩm này qua hai lần thế chiến, và cuộc chiến tranh lạnh. Nhiều nhà văn được giải Nobel vì đã mô tả hầu như không thiếu khía cạnh tội ác nào của nó! Có lần bị kiên giam tại trại K1 Tân Lập miền Bắc, Hậu nhìn cái xà lim mình nằm ngang 1 mét rưỡi, dài 2 mét rưỡi, và chiếc cùm chân nhớ đến ngục tù mà A. Koestler mô tả trong “Số Không và Vô Tận”[1]. Cán bộ đặc trách kiên giam chỉ cho Hậu mặc chiếc quần đùi, thân trên để trần vì sợ có áo sẽ dùng để tự tử. Ăn uống, tiêu tiểu trong hai chiếc ống tre bương để dưới chân bục xi măng nằm. Ban đêm âm thanh khủng bố người tù kinh khiếp. Mỗi hai mươi phút có người đến kéo qua lại chiếc khóa sắt dài trên cửa kêu ken két, rồi ánh đèn pin từ lỗ dòm lén soi lên mặt như ánh đèn pha của hàng rào mìn bẫy. Ôn lại Hậu nhận thấy tất cả những gì anh trải qua, đều đã mô tả trong các trang tiểu thuyết của Solzhennitsyn, Georghiu, Koestler… và vấn đề đáng nói là loài người không hề ngấy chán, ghê tởm để chuyện phi nhân ấy cứ mãi xảy ra. Hậu nhận xét “Một ngày trong đời của anh tại nhà tù cộng sản miền Bắc VN” chi tiết dù thô sơ hơn những điều Solzhenitsyn mô tả, nhưng bản chất hình phạt người tù phải chịu không hề khác biệt chút nào!
Tuy Hậu được tha đã hơn hai năm, nhưng anh cho rằng chuyện tù tội chế độ cũ là chuyện dài mang tính thời sự trong lòng xã hội miền Nam lúc này. Bất kỳ khi nào và ở đâu cũng có người nói chuyện về người thân, gần xa dính liền với trại cải tạo. Hậu nói tiếp, “Nếu để cho người nghe những câu chuyện mang tính trắc ẩn, thì những diễn viên bi thảm trong vở kịch lịch sử ngay tức khắc mang tính bi hài một cách trớ trêu. Những xen bi kịch ấy ráp nối với nhau thành bộ sử thi của bầy diều hâu gãy cánh. Đại để như thế!” “Hậu hãy cho một thí dụ.” Tu tò mò hỏi. Hậu cười, “Có thể anh đã từng nghe xe lửa chạy đến ga, một trận mưa bánh kẹo, bánh tét, bánh ú, dưa hấu ném lên toa có cửa đóng kín mít giam giữ những sĩ quan, viên chức chế độ cũ đưa ra miền Bắc, hoặc về Nam khi chuyển trại hay được tha.” Tu gật đầu lia lịa trong khi Hậu nói tiếp, “Rồi lạnh đói, ăn bất cứ con vật gì nhúc nhích, chuyển động vân vân và vân vân…” Tu lên tiếng ngay, “Anh nghe kể và hình như có thấy một lần ở ga Đập Đá Bình Định. Ồ, không vài lần ở Biên Hòa…” Hậu cười tự nghĩ thế mình kể làm gì nhỉ? Có quá nhiều nơi lập đi lập lại vở kịch ấy. Và nội dung của vở kịch như hàm chứa sự biện minh, bào chữa ngay cả cố tỏ ra mình chỉ là nạn nhân của một ván bài trớ trêu lịch sử. Mình là thứ gì đó lềnh bềnh trôi trên dòng sông tội lỗi, không những phe chiến thắng gán ghép cho, mà còn do chính mình tạo ra! Nghĩ đến đó Hậu thở dài nói:
“Thôi chúng ta nói chuyện khác đi. Tại sao anh lại không vượt biên từ sớm, trong khi ngày hôm nay việc vượt biên không còn được các tổ chức quốc tế ủng hộ?”
“Vợ chồng anh đã vượt biên nhiều lần, nhưng không may mắn và cũng nhiều lần bị tù tội.”
Tu kể Hậu nghe, anh đã vượt biên bảy lần và bị tù ba lần. Lần nào cũng nhờ cha vợ lo, nên chỉ vào tù sáu tháng rồi ra tù. Gia đình bên ngoại của Cẩm, vợ Tu sau tháng 4 năm 1975 từ miền Bắc, từ trong núi rừng bên này vĩ tuyến 17 lục tục trở về. Với tư cách phe chiến thắng họ hùng dũng, hiên ngang trong những buổi họp mặt gia đình nội ngoại. Đứng giữa nhà cậu bảy Hưng của Cẩm, trước kia là sinh viên chống Mỹ, sau Tết Mậu Thân lên núi đã trở về. Ngày Quốc tế Lao động 1-5, cậu Hưng vung tay kêu gọi cả nhà ông Nhẫn đi mít ting biểu dương sức mạnh ngày lễ, và vinh danh chiến thắng thống nhất đất nước. Hôm qua Cẩm hỏi cậu Hưng bây giờ cấp bậc gì trong Mặt Trận Giải Phóng, Hưng lắc đầu không nói, nhưng lại bảo, “Cậu tiếp thu tòa tỉnh trưởng, và Nha Học Chính mới biết Tu là chồng của cháu.” Cẩm cười, “Anh Tu dạy học trước kia ở Pleiku, bây giờ về làm ở Nha Học Chính. Mấy bữa rày ảnh bù đầu tối mắt vì phải làm tường trình cho ủy ban cách mạng đặc trách giáo dục. Làm như anh ấy sợ đi tù.” Thấy Cẩm có vẻ lo lắng cho Tu, Hưng trấn an:
“Con lo gì miễn chồng con không làm việc cho Mỹ Ngụy là không có vấn đề!”
“Ai ở miền Nam này không làm việc cho chính phủ? Không làm sao có ăn được?”
Nghe Cẩm than, Hưng như muốn cho Cẩm hiểu bèn nói, “Cách mạng lo sợ nhất là CIA Mỹ, chỗ nào cũng có nó âm mưu phá hoại!” Buổi tối, Tu kể cho Cẩm nghe việc đi Thủ Đức tập huấn quân sự ngày trước. Cẩm trấn an Tu, không phải lo vì không chỉ có Hưng, mà còn ba người bác ruột phía ngoại đi tập kết trở về. Hai người cấp bậc thượng tá, và một đại tá quân đội nhân dân. Tu cười nói với Hậu, “Mấy người bà con này đã phải liên tục giúp vợ chồng anh ra khỏi trại tù sớm vì tội vượt biên.” Tu nhớ lại hôm gặp người cậu cấp bậc đại tá, anh quan sát hình ảnh một con người từ trên rừng núi xuống tỉnh thành. Cái hào quang chiến thắng như bọc kín con người tóc bạc phơ, gầy ốm, đôi mắt sâu, gò má cao, miệng luôn mỉm cười. Đại tá quân đội nhân dân Trần Cự hỏi Tu:
“Cháu dạy học bao lâu rồi?
“Cháu dạy bốn năm, nhưng bây giờ chỉ làm công chức cho Nha Học Chính.”
“Cháu yên tâm, không làm gì ngược lại chủ trương đường lối cách mạng, cháu sẽ vẫn tiếp tục làm việc hoặc dạy học.”
Tiếp theo người cậu nói về tương lai, đề cập thật nhiều những ý niệm thô sơ cũ kỹ về xã hội, con người mà Tu nghe từ ngày bước vào học lớp tiểu học. Đại tá Trần Cự nói về lòng yêu nước, về xã hội xã hội chủ nghĩa và rất nhiều thứ linh tinh khác đủ cho một bài học chính trị cơ bản đối với vùng đất mới giải phóng. Tuy nhiên, điều duy nhất Tu mong mỏi được nghe là hai chữ “Tự Do” lại không hề nhắc đến, hoặc có nhắc thì chữ Tự Do chỉ sử dụng để bổ nghĩa cho một chữ đối nghịch khác. Từ đó chữ Tự Do thực tế vô nghĩa. Nó chểm chệ nằm trên trung tâm tiêu đề của một tờ giấy, mang tính năng quảng cáo sản phẩm nào đó mà chất lượng sản phẩm rất kém cỏi, tệ hại cho người tiêu dùng.
Tu im lặng, mắt mông lung như cố nhớ lại một ngày kinh khủng xa xưa. Tu nhớ Khôi và cái chết của bạn. Đất nước chúng ta giết nhau vì cái gì nhỉ? Tu tự hỏi rồi một ngày nhận ra dòng nước thời gian cuốn trôi sự thắc mắc, hoài vọng rồi cả ước mơ của mình! Dòng nước này nhấn chìm cả đau khổ lẫn hi vọng trong khi Tu cùng gia đình cố bơi qua bên kia một dòng sông, với hi vọng thấy một chân trời.
Chợt Tu cười hể hả, “Tụi mình kiếm gì nhậu chơi đi.” Nói xong không đợi Hậu trả lời, Tu đứng lên vào phía sau không đến năm phút đã khệ nệ mang lên một đĩa to mực khô, cá đuối nướng và một gói thuốc lá thơm Thái lan đầu lọc.
Khi người phục vụ mang lên xị rượu thuốc và hai cái ly con, Tu vổ vai Hậu nói, “Gặp lại Hậu, anh mừng lắm. Chỉ tại ở xa chứ gần tụi mình mỗi tối nhắm nháp rồi nói chuyện. Anh nhớ như in ngày xưa tụi mình đàm đạo thơ văn, âm nhạc, hội họa thật thích thú.” Hậu cũng gật đầu tỏ vẻ thông cảm điều kiện hiện tại của Tu, nhưng trong lòng hết sức ngạc nhiên. Con người Tu hôm nay hầu như trái ngược với một Tu, thầy giáo nho nhã hiền lành ngày trước. Tu bây giờ bỗ bã, chửi thề và nói chuyện rất bình dân thông tục. Tu thay đổi hoàn toàn, Hậu nghĩ có thể cuộc sống và phải chăng chính cuộc hôn nhân tạo nên một Tu ngày hôm nay? Uống ly đầu tiên, Hậu khà một tiếng vì rượu khá nặng. Ăn vội miếng khô cá đuối cứng như đá, Hậu khen Tu:
“Hậu không ngờ anh uống rượu giỏi như vậy. Ngày xưa chỉ thấy anh uống café.”
“Đúng thế, trước kia nếu có uống bia chỉ uống với Khôi, ngoài ra không đụng một giọt rượu!”
“Thấy anh có cái bình sành to trên kệ có phải bình ngâm rượu thuốc?”
Tu gật đầu cười nói ngay, “Bình rượu tắc kè. Rất mắc tiền vì ngâm đến mười con và thuốc bổ hai mươi vị.” Hậu nhớ ngay bài thuốc bổ thận dân gian, nhưng chưa kịp hỏi lý do Tu bỗ bã thú nhận, “Anh yếu sinh lý, cần đến bài thuốc này. Nhờ có nó mà vợ anh không càm ràm khó chịu mỗi tối!” Hậu lắc đầu, nhận ra Tu có cái gì đó bất mãn trong lòng. Tu rót rượu ra ly nói tiếp, “Hậu cần anh đong cho một xị. Hiệu quả tức thời.” Lúc này Hậu lúng túng. Anh thực sự không mấy chú ý đến chuyện trai gái vì điều kiện cuộc sống hiện tại, trong lúc Tu lại có vẻ quan tâm chuyện phòng the, và nhiệt tình khi nói đến bình rượu thuốc tắc kè bổ thận này.
(còn tiếp)
[1] Le Zero and L’Infini (Darkness at Noon)_ Arthur Koestler 1940