Home » Sáng Tác, Tiểu thuyết, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

mùa địa ngục (kỳ 3)

0 comment ♦ 22.03.2023

*

Tu đi mua thức ăn chiều cho hai mẹ con Cẩm và Yến. Chiều nay, Cẩm về nhà nhờ Phương chở. Xe Honda của Cẩm bị hư đang đưa đi sửa ở Hốc Môn. Phương là bạn hàng chợ của vợ chồng Tu. Phương cùng tuổi Tu và là cựu Trung úy biệt động quân chế độ cũ. Phương học tập hai năm ở Đồng Đế Nha Trang rồi được thả. Phương gốc Bắc di cư 1954 sống với gia đình ở Biên Hòa. Phương thân với Tu vì lập trường chế độ cũ, dù lúc này Cẩm hay tự nhận mình gia đình cách mạng, cốt chỉ để hù dọa thiên hạ trong cuộc sống chụp giựt chợ trời, hơn là “thấy người sang bắt quàng làm họ.” Tuy nhiên, Cẩm cũng thẳng thắn cho biết bên ngoại toàn đảng viên cộng sản tập kết. Nhưng Cẩm cũng nói rằng mình không dính líu gì đến họ, trừ phi bị bắt vì buôn bán ngoài luồng và đi vượt biên.

Tu và Cẩm đã tiêu tán tiền bạc cha mẹ cho vào việc đóng chi phí vượt biên. Bị gạt gẫm, hoặc tù tội đến năm thứ mười hai người không còn chút của lận lưng. Tu kể với Hậu rồi lại nói thêm, “Cứ mỗi lần sắp sửa trở thành vô sản, cha vợ lại tiếp sức vài lượng vàng thế là hai vợ chồng có thể lấy đó làm lại từ đầu. Ông Nhẫn, cha vợ Tu luôn nói nhỏ với hai vợ chồng, “Đừng ở ngoài này, trừ khi nào quyết chí làm ăn và trở thành công dân vô sản chân chính. Không thì vào Sài gòn tìm đường mà đi.”

Ông Nhẫn là tư sản yêu nước. Cộng sản vào thành phố, ông là người đầu tiên vận động lập hợp tác xã vận tải kinh doanh, dù lúc bấy giờ không ai hiểu hợp tác xã là gì cả. Hoặc nếu có hiểu rất mơ hồ, và hết sức tiêu cực. Một năm sau ông Nhẫn giao nộp toàn bộ tài sản, và đoàn xe vận tải tám chiếc của ông cho công ty vận chuyển quốc doanh để lấy cái giấy chứng nhận “Tư sản yêu nước” trước khi phong trào đánh tư sản long trời lở đất xảy ra. Ông Nhẫn vui vẻ trong việc dâng hiến của cải mà không hề nói tiếng nào dù bà Lan, vợ ông khuyên nên tìm cách tẩu tán tài sản bớt đi. “Mình đổ mồ hôi bao năm mới có sản nghiệp này. Một ngày giao nộp hết tôi không đành lòng, dù ông có là chủ tịch công ty đi nữa.” Nghe vợ khuyên, ông ngạc nhiên nói, “Gia đình bà là cách mạng nòi mà nói như thế ư!”

Phương chào vợ chồng Tu ra về chưa được năm phút đã thấy Bằng, đứa em trai kế của Cẩm đến báo cho biết cha bệnh nặng. Cẩm hoảng hốt hỏi tình trạng bệnh tật của cha, thì Bằng lắc đầu nói rằng ngày mai sẽ về Qui Nhơn. Tu muốn biết thêm chi tiết về sức khỏe của cha vợ, Bằng bảo, “Em nhận từ điện tín chứ không biết rõ ràng bệnh tật của cha. Báo anh chị biết là bổn phận, còn anh chị về hay không em không ý kiến.” Nói xong Bằng ra về. Tu bàn với Cẩm hai hôm nữa sẽ về, sau khi sắp xếp cho con bé Yến nghỉ học vào ngày mai.

Buổi tối Tu hỏi Cẩm, “Em có nghe tin gì về việc làm đơn xuất cảnh theo diện con lai hay không?” Cẩm trả lời, “Em có hỏi nhưng mấy người liên quan bảo đã có chính sách chính thức của nước Mỹ, nhưng phải chờ tin tức của sở ngoại vụ.” Nói xong nhớ tới chuyện nhà, Cẩm thở dài than, “Không biết cha em lại trở bệnh nặng bất ngờ như vậy. Em nóng ruột lắm.” Tu im lặng không nói nhưng trong lòng biết Cẩm thương cha, vì nàng là con gái lớn duy nhất trong gia đình. Bốn đứa em trai bây giờ cũng tứ tán khắp nơi. Chỉ đứa em út lại may mắn vượt biên đang định cư ở Úc được ba năm. Hai đứa còn lại sống tại Nha Trang, và Bằng là em kế của Cẩm sống tại Sài gòn. Tuy chị em nhưng rất ít gặp nhau, chỉ trừ khi nào có chỗ vượt biên thì thông báo cho nhau. Hiện tại hai vợ chồng hy vọng vào đứa con gái lai Mỹ, sau khi được tin Hoa Kỳ có chính sách định cư cho những đứa con lai trong thời kỳ chiến tranh. Bé Yến năm nay 12 tuổi được hai người nhận nuôi từ lúc bé 5 tuổi. Ban đầu chỉ là đứa con nuôi vì hiếm muộn. Yến lai Mỹ trắng, lúc nhỏ bụ bẫm dễ thương dù phải sống trong cô nhi viện. Hai vợ chồng Tu yêu thương Yến như con mình đẻ. Đặc biệt mỗi lần vượt biên hai người đều mang Yến theo, thế nên ba lần bị tù Yến cũng chia sẻ không thiếu hiểm nguy khó khăn cùng cha mẹ. Sau này có kể cho Hậu nghe chuyện vượt biên bị tù tội với đứa con tám tuổi Tu đều bảo, “Đất nước ta đặc sắc như thế, cha mẹ con cái đi tìm đất hứa chia chén cơm tù … ghi vào sử cận đại câu có một thời Dựng nước, Giữ nước và Bỏ nước ra đi. Tại sao? Tu lại hỏi, Hậu cười, “Đất nước có một, nhưng con người lại khác nhau. Phẩm chất khác nhau nên …” Hậu dừng lại, “Chờ xem.”

Vợ chồng Tu và con về đến Qui Nhơn thì ông Nhẫn cũng vừa nhắm mắt xuôi tay. Nắm lấy tay cha, Cẩm nức nở khóc. Tu đứng bên cạnh im lặng trong khi Yến nức nở theo mẹ. Tu đau lòng vì cha Cẩm luôn xem Tu như con ngay từ khi anh đến Qui Nhơn học sư phạm năm mười tám tuổi. Cha mẹ Tu mất sớm, và Tu là con một nên về sống với người Bác có một sở thuốc lá khá lớn ở Phan Rang. Ông Trung, bác của Tu lại là bạn của ông Nhẫn từ thuở hai người học trung học tại Nha Trang. Học dở dang, ông Nhẫn nghe lời cha mẹ về Qui Nhơn tiếp tục buôn bán, trong khi ông Trung cũng về quê sống với nghề trồng thuốc lá. Khi ông khá giả, gia đình em của ông bị trận dịch thương hàn chết để lại Tu đứa con duy nhất cho ông nuôi. Ông Trung xem Tu như con ruột, và hết lòng nuôi nấng cho đến khi Tu học ra trường làm thầy giáo cấp 1 tại Pleiku.

Tu về phòng riêng, thấy Yến đã ngủ có lẽ vì mệt. Cái chết của cha Cẩm đánh thức Tu một quãng đời ngắn ngủi, nhưng gập ghềnh từ sau khi miền Nam thua cuộc. Đất nước thống nhất là một ý niệm tích cực cho mọi người dân Việt, nhưng ngắn ngủi gọn gàng có lẽ cho phần đông con người sống bờ phía Nam sông Bến Hải. Trong đó có Tu, Hậu và cả Cẩm, dù Cẩm chia sẻ một phần chiến thắng do những người thân tập kết trở về. Chính trị thực sự quan trọng, Tu nhận ra dần dần từ sau tháng 4 năm 1975. Nhiều đêm thao thức anh thấm thía những thành quả từ cuộc sống tự do mang đến. Anh cũng khám phá ra chính trị là thứ định hướng cho con người có được hạnh phúc sung sướng, nhưng không bao giờ trọn vẹn ý nghĩa của nó. Điều này đôi lúc khó hiểu nhưng sự thật phơi bày như thế. Tu lan man suy nghĩ cho đến khi thiếp ngủ lúc nào không hay.

Tu thức giấc vì Cẩm gọi anh. Cẩm nằm bên cạnh thì thào vào tai, “Đêm nay có chuyến tàu ra đi, người quen gọi. Anh cứ đi, em và Yến ở lại lo cho xong đám tang cha.” Tu lắc đầu phản đối bảo rằng vợ chồng cùng đi. Nhưng cuối cùng chính mẹ vợ khuyên, Tu mới theo một người quen ra Ghềnh Ráng, tại đây có người đưa đến điểm xuất phát.

Lúc Tu rời nhà mười một giờ đêm. Người đưa anh đi xưng tên Bảy, còn trẻ mặc quần áo bộ đội là cháu xa của ông Nhẫn. Ngổi sau lưng Bảy trên xe honda 68, Tu nghe anh ta nói, “Ông bác Nhẫn mất em buồn lắm, đưa cậu đi xong em về dự đám tang.” Tu im lặng lòng tự hỏi không biết Bảy có phải là bộ đội hay chỉ đóng giả bộ đội mà thôi? Nhưng trong việc vượt biên hai phần ba phó cho may rủi, và lần này Tu hoàn toàn không có chút chủ động nào. Xe chạy dọc con đường ven biển bên tai Tu gió thổi lồng lộng, rồi anh nghĩ mình bước vào chuyến vượt biên này một trăm phần trăm do nhà vợ an bài. Nhớ đến những lần trước vào tù, Tu thôi không nghĩ đến chuyện mình không hề chủ động lần này. Chạy gần một giờ đồng hồ qua khỏi Ghềnh Ráng xuống khu chài lưới. Tu được Bảy đưa vào một căn nhà nhỏ cuối xóm quay lưng ra biển. Căn nhà có một bóng đèn điện sau nhà sáng duy nhất, trong khi phía trước tối mịt. Bước vào nhà ra phía sau, Tu thấy một ông lão đang ngồi hút thuốc. Tu chào, ông ta không đáp trả chỉ nói với Bảy, “Chờ thêm nửa giờ sẽ có người đến đưa ra đảo.” Tu ngồi sát vách nhà lấy thuốc ra hút. Anh nhìn cánh cửa sau đóng im ỉm nghĩ rằng mình sẽ đi ra bằng cánh cửa này. Nơi đây xa lạ trống trải, công an đến bắt chịu thua không biết đường đâu mà chạy!

Bảy và Tu chờ thêm hơn nửa giờ, có tiếng gõ cửa. Ông lão mở cửa, một thanh niên bước vào, cũng mặt quần áo bộ đội. Anh ta thì thầm với Bảy, sau đó Bảy dẫn Tu đến trước mặt anh thanh niên, “Anh theo em, đi ngay kẻo trễ.” Tu theo anh bạn trẻ bằng cánh cửa sau ra khỏi nhà hướng bờ biển. Anh bạn dùng đèn pin, cả hai đi chừng hơn nửa cây số dọc bờ biển đến một bãi đá có một cột điện sát bờ. Tu được đưa lên một chiến ghe máy, trên ghe có bốn người có lẽ cũng tình trạng như anh. Tu đoán như thế. Người thanh niên ở lại, và chiếc xuồng máy chạy thẳng ra biển, rồi hướng trái chạy chừng nửa giờ đến một hòn đảo nhỏ, trên có ánh đèn nhấp nháy. Một trạm trung chuyển. Tu lên bờ cùng bốn người theo người lái xuồng vào căn nhà trống trải, anh ngồi xuống đất dựa vách hút thuốc. Tại nơi này Tu phải chờ thêm ba ngày mới có tàu đến rước đi. Theo người chủ căn nhà nói sơ cho biết. Phía sau bếp có một người đàn bà nấu cơm cho những người vượt biên ăn ngày ba bữa.

Ngày thứ tư, chín giờ đêm căn nhà chứa 21 người vượt biên, trong đó có Tu lên đường bằng bốn chuyến taxi ra ghe chính. Tu đi chuyến cuối cùng lên ghe, thì tàu công an tuần duyên đến kiểm tra bắt gọn 85 người trên ghe chính lúc bấy giờ khá khẳm. Khi bị bắt, qua cử chỉ cung cách của công an, Tu biết chiếc ghe bị gài bẫy nhưng lý do Tu không biết. Chuyển về trại tạm giam đã bốn giờ sáng. Tu không thèm suy nghĩ, vì anh bị bắt nhiều lần và lần này anh chỉ mong mình được về trung tâm giam giữ, để có chỗ nằm tương đối rộng rãi, không phải chen lấn, và ồn ào suốt ngày đêm như thế này. Tu đoán chừng một tuần lễ Cẩm sẽ biết, và có cách để lo cho Tu được ra.

Uống xong chén nước lạnh của viên công an đưa, Tu nằm bừa xuống đất ngủ vì suốt đêm rồi không ngủ. Giấc ngủ say lôi cuốn vào cơn mộng mị, Tu thấy mình ôm mặt trời. Rất nóng, bụng và ngực muốn cháy bỏng. Tu nhìn khối lửa trong hai tay, nhưng lại thấy cơn giận trong lòng mình còn nóng hơn, mặt trời bị cơn giận làm nhỏ dần cuối cùng chỉ còn là chiếc trứng gà trong tay. Tu đưa lên nuốt vào bụng. Bụng sôi sùng sục như nồi nước trên bếp lửa. Lúc này một người đàn ông từ xa chạy đến, mắt đeo kính râm dáo dác tìm kiếm chung quanh Tu. Đến gần Tu mới nhận ra đại tá quân đội nhân dân Trần Cự. “Cậu tìm kiếm gì thế?”, ông cậu trả lời, “Tao tìm mặt trời” Tu cười tuy trong bụng vẫn sục sôi ầm ĩ:

“Cậu tìm làm gỉ?”

“Để che nó.”

“Tại sao phải che mặt trời?”

Lúc này Đại tá Trần Cự đến gần Tu nói vào tai anh, “Vì nó sáng quá!”, Tu nghe lại cười, “À cậu mang kính râm vì sợ ánh sáng, nhưng làm thế nào cậu che nó được?” Trần Cự đưa đôi bàn tay to bè ra nói, “Bằng đôi tay này không có gì tao không che được!” Tu nhìn vào mắt ông hỏi:

“Thật sự cậu có thể dùng tay che mặt trời?”

“Dĩ nhiên!”

Ông ta gật đầu. Tu chỉ tay lên trời nói, “Có mặt trời đâu mà che?” Trần Cự nhìn lên không thấy mặt trời đâu cả, lại bỏ chạy đi tìm. Trần Cự chạy đôi tay to bè như hai cái quạt, phất phơ giống một con cá đang bơi. Lúc này Tu không còn thấy bụng nóng và sôi nữa. Anh mỏi mệt ngồi xuống dựa vào một gốc dừa nhắm mắt như ngủ. Rất lạ là Tu lại mơ, giấc mơ trong giấc mơ. Tu thấy Cẩm, vợ mình ngồi sau xe hai tay ôm Phương. Tu tức giận hét lên, “Sao em có thể ôm nó?” Cẩm cười như chế diễu, trong khi Phương chở Cẩm chạy mất. Tu đứng nhìn một bầu trời lờ mờ u ám vì thiếu mặt trời, và một nỗi buồn không tên đè nặng trong lòng. Anh lại nghe đau nhói trong bụng, rồi sôi réo ẩm ĩ. Tu há miệng nhả ra mặt trời nhỏ như viên bi. Viên bi to dần, sáng lòa làm Tu giật mình sợ hãi thức giấc.

Ngày tiếp theo, Tu được công an trại tạm giam Bến Cát gọi lên làm việc. Tuy không mang giấy tờ nhưng Tu khai bình thường như bao lần bị bắt trước kia. Công an thẩm vấn anh là một trung niên nói giọng Bình Định rất nặng, viết tất cả những gì Tu khai vào một tập giấy trắng ngà. Tất cả lời khai trong ba tờ giấy. Tu khai mình không biết gì ngoài việc, vợ cho biết có chuyến vượt biên và gửi anh đi. Khi viên công an hỏi:

“Đang sống yên lành, tại sao lại đi vượt biên.”

Tu lắc đầu, “Tôi không có muốn hay không muốn. Tôi chỉ tin vợ tôi bảo, nếu vượt biên được tôi có thể cứu gia đình khỏi tình trạng khó khăn kinh tế hiện tại.” Viên công an hỏi, “Thế anh đang làm gì để sống?” Tu trả lời, “Tôi bán hàng chuyến”. Sau đó một cách thơ ngây, thực thà Tu khai về dự đám tang cha vợ rồi đi vượt biên. Khi hỏi thân nhân, Tu khai tên đại tá Trần Cự dù anh biết ông ta đã về hưu năm rồi. Tu được cho về căn phòng tạm giam phía sau cùng nhà giam, cạnh đường xe lửa cách ga Diêu Trì tám cây số. Anh được phát một tấm chăn mỏng rách bươm, có lẽ do quá nhiều người sử dụng.

Phòng giam nhỏ có năm người, thêm Tu là sáu vừa đúng cho sáu cái chõng tre. Tu bước lên đứng trên chõng tre nhìn ra cửa sổ nhỏ bằng hai nắm tay trên cao. Một chiếc xe vận tải chạy qua, rồi một chuyến xe lửa trên vùng đất cao. Những cây bứa già chen lấn, vài hàng dương mới trồng lùi xa trong tầm mắt rồi biến mất vào rặng núi. Hỏi một người bạn tù cùng phòng biển có gần hay không, ông ta trả lời, “Biển phía bên kia. Sau trung tâm tạm giam. Nơi giao lưu hai con đường bộ và đường xe lửa.” Lúc ngồi xuống nói chuyện, cả năm người cùng phòng đều vượt biên nhưng khác chuyến, và cùng bị bắt khi đổ bộ lên ghe chính. Ai cũng cho là bị gài bẫy, cả năm người đều bị mất vàng trừ Tu. Tu biết mình đi được, gia đình vợ sẽ chung vàng. Nhưng bị bắt dễ dàng, Tu trách Cẩm sao quá dễ tin, rồi sau đó hy vọng mình sẽ sớm được thả như ba lần trước.

Đêm ấy Tu bị gọi thẩm vấn lúc nửa đêm, rồi tống lên chiếc xe vận tải Trung quốc cùng một số người khác chuyển trại. Trong lúc chờ đợi xe đến chở đi, đám người Tu bị công an ào đến gấp rút lùa vào phòng trống bên cạnh rồi đóng cửa lại. Nhìn qua khe cửa, Tu thấy một chiếc xe bít bùng mới đến, thả xuống một toán người. Vì quá xa nhưng anh thấy đám tù mới cao lớn không quá mười người. Đám công an áo vàng súng ống kèm chặt đám tù mới đến lùa lên một chiếc xe vận tải bít bùng khác rồi chạy đi mất. Tu dường như nghe tiếng nói chuyện của đám tù. Tuy quá xa nhưng Tu nhận xét đó là người ngoại quốc. Lúc nói với người bạn bên cạnh nhận xét của mình, anh ta bảo, “Có thể tù binh Mỹ còn lại, tôi nghe phong phanh còn hơn hai mươi người bị giam trên núi cao, có thể hôm nay họ chuyển trại!” Nửa giờ sau, đám người phòng Tu tất cả còng tay chở đến trại giam Tam Kỳ. Chuyến đi mất nửa ngày, và tại trại giam này Tu thụ án ba tháng rưỡi rồi được tha. Cẩm và Yến đến đón Tu. Ba người lên chuyến xe đò chiều Tam Quan Qui Nhơn về đến bến, rồi thuê xe ôm về nhà lúc bảy giờ rưỡi tối.

Ngồi ăn cơm với vợ con, Tu chỉ trả lời vợ cho có lệ rồi ăn uống qua loa xong lên phòng ngủ. Ai cũng bảo Tu xui xẻo, trong khi Tu chỉ thấy một nỗi buồn. Lần đi này anh có cảm tưởng bị bỏ rơi. Tuy Cẩm giải thích nhưng Tu lại có cảm tưởng, mọi người muốn tống anh đi cho khuất mắt. Nằm suy nghĩ vẩn vơ lúc Cẩm lên giường nằm, quay sang vợ anh nhớ đến giấc mơ trong trại tạm giam. Ôm chặt Cẩm nhìn vào mặt vợ, Tu hưng phấn thèm muốn tột độ, và Cẩm nghĩ chồng thương nhớ mình nên mới mạnh mẽ như thế này. Cẩm hết sức thỏa mãn trong khi Tu cảm giác mình vừa ăn tươi nuốt sống vợ. Quay sang hôn Tu Cẩm thì thào vào tai chồng, “Không lẽ em chỉ mong anh mãi bị tù như thế này?”

Hôm sau, Tu thăm mộ cha vợ. Anh nhớ lại từng cử chỉ của ông Nhẫn những ngày anh mới vào trường sư phạm. Ông tận tình giúp đỡ, chăm sóc và thương Tu như con ruột, nhưng điều này không dính líu gì đến vai trò làm chồng của anh hôm nay. Tu nhìn Cẩm mỗi ngày một đẫy đà như con cá ngừ xanh căng nứt da thịt, trong những bộ quần áo lụa lòng nhen nhúm ý niệm ghen tỵ, nghi ngờ. Và anh lại muốn nghiền nát thân thể vợ trong vòng tay của mình vì cảm giác Cẩm phản bội cả mình và Khôi. Ý niệm Khôi hình thành thì anh lại tan biến hưng phấn. Cẩm quay mặt vào vách thở dài. Ngay lúc ấy, Tu nghĩ đến trách nhiệm làm chồng cùng bình rượu tắc kè trên kệ ở Sài gòn.

Tuần lễ sau ba người trở về Sài gòn. Nhịp sống quen thuộc trở lại, Cẩm và Tu lên Hốc Môn mua vải chở về bán cho chợ Soái Kình Lâm. Hôm nay hầu như không có hãng dệt nào xuất vải. Chở vợ về sớm, Tu mua một hộp chả giò Cầu Tre mang lên nhà ông Xuân và nhắn Hậu đến uống rượu. Chờ mãi không thấy Hậu, Tu hỏi ông Xuân, ông bảo:

“Không gặp nó hai tuần nay, không chừng đã vượt biên rồi!”

Tu buồn thấy lẻ loi như những năm tháng sau khi Khôi mất. Sau bữa rượu với ông Xuân, anh xuống nhà chị của Hậu mới biết Hậu đi Bình Tuy vượt biên tuần rồi nhưng chưa được thêm tin tức gì. Tu lầm lũi đạp xe về nhà. Lúc vào cổng thấy Phương từ nhà trọ của mình chạy xe honda ra khuôn mặt hớn hở. Tự dưng Tu lại nghĩ Cẩm ngoại tình. Hầm hầm bước vào nhà, Cẩm đang ngồi tại bàn ăn thấy Tu như giận dữ bèn hỏi:

“Anh làm sao thế, có việc gì vậy?”

“Thằng Phương đến nhà có việc gì?”

“Anh ấy cho biết có hai nhà máy sẽ tháo khoán vải qui mô lớn, nên báo cho chúng ta biết ngày mai đi Hốc Môn sớm giành chỗ.”

“Không phải nó âm mưu tán tỉnh ve vãn vợ tôi chứ?”

“Anh đừng nói bậy!”

Cẩm giận dữ trả lời xong bỏ ra phía trước, trong khi Tu nghĩ đến hôm nọ thấy Cẩm ôm eo Phương lúc chở về nhà vì xe Cẩm bị hư. Tu đưa tay chặn Cẩm lại, “Hôm nọ tôi thấy cô ôm eo nó lúc nó chở về nhà!” Cẩm xanh mặt nói ngay:

“Anh có quáng mắt không? Đừng nói chuyện không có.”

“Có hay không cô tự biết, còn con mắt tôi không lầm lẫn bao giờ.”

Cẩm lại quay vào nhà ngồi nhìn Tu. Lúc này vừa say do rượu thuốc trên nhà ông Xuân, vừa ghen cho cả mình và Khôi, Tu nghiến răng nhìn Cẩm như muốn ăn tươi nuốt sống vợ. Cẩm hoảng sợ đứng lên nói, “Anh không làm xong bổn phận chồng, rồi ghen tuông nói năng hàm hồ bậy bạ. Tôi đi đây.” Cẩm chạy ra sân lấy xe honda chạy đi mất. Tu không thèm nhìn Cẩm, chỉ ngồi nhìn trời qua khung cửa. Một cơn mưa ập đến ầm ĩ khiến Tu thấy dễ chịu hơn.

Tiếng mưa rơi không ngớt trong không gian trắng xóa mờ mịt gợi Tu nhớ năm đầu tiên học sư phạm. Lúc anh nhập học, Trịnh công Sơn đã học năm thứ hai và vừa sáng tác xong bản nhạc Biển Nhớ. Tu muốn nghe lại bản nhạc này như thèm hương vị bình yên một thời tuổi trẻ của mình. Mấy tháng trước Hậu nhắc với Tu những cơn mưa buồn dai dẳng mùa hè Pleiku, và những ly café nóng Dinh Điền sưởi ấm mùa đông lạnh cóng cao nguyên. Nơi đấy, Từ Công Phụng sáng tác Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên cũng như Kim Tuấn viết Những Bước Chân Âm Thầm. Tu cô đơn hơn bao giờ. Anh thèm gặp Hậu để tâm sự vì Hậu biểu hiện, phản ánh một phần đời tuổi trẻ mất mát của anh. Tu nhớ Hậu bảo, “Chúng ta đang sống trong tình trạng mất tự do, trong khi rất nhiều người không nhận ra điều ấy.” Tu hỏi lý do, Hậu trả lời:

“Vì họ mãi vật lộn với cuộc sống cá nhân và gia đình. Đời sống kinh tế làm con người phải đấu tranh với sự tồn tại nên không có thì giờ tìm hiểu mình có tự do hay không để mà biết tự do còn hay mất hoặc cụ thể nó như thế nào!”

Tu hiểu ý Hậu giải thích và ý thức điều mất mát ấy trong cách sống theo kiểu đối phó, từ khi lấy Cẩm làm vợ và trục trặc trong đời sống vợ chồng. Hôm nay mình vừa bước thêm một bước kinh khủng nữa là bộc phát cơn ghen với Cẩm, đồng thời nghi ngờ không biết mình nhìn thấy Cẩm ôm Phương lúc ngồi xe có thật hay không? Anh lại trách mình không kiểm soát được cơn giận, đồng thời nghĩ rằng mình yêu Cẩm nên mới ghen như thế hay sao? Điều này thật lạ lẫm, vì mỗi khi nghĩ đến Cẩm, đầu tiên Tu cho rằng Cẩm là người vợ mà mình không yêu thương. Mình có bổn phận với Cẩm chỉ vì Khôi, và quyết tâm cho Cẩm hạnh phúc bởi khát vọng của bạn.

Tu chờ con gái đi học về rồi đi mua thức ăn. Việc xung đột bất ngờ khiến Cẩm không lo cơm nước cho cả nhà được. Yến ngồi ở bàn ăn hỏi Tu, “Mẹ đâu rồi không thấy?” Vừa thấy sắc mặt khó coi của cha nên Yến hỏi thêm, “Có chuyện gì mà ba nhăn nhó như vậy?” Tu lắc đầu đứng lên, “Không có gì, mẹ con ra ngoài có việc, ba đi mua thức ăn trưa đây.”

Ăn cơm trưa xong, Yến học bài trong khi Tu ngồi tại bàn nhìn ra cửa như chờ Cẩm về. Tuy nhiên anh không tin Cẩm về trong buổi trưa. Tu đi nằm, nhìn chiếc bình rượu tắc kè trên kệ, anh nghĩ đến Cẩm và chợt trong lòng mơ hồ dâng lên nỗi thèm muốn. Sau đó Tu lại thiết tha mong Cẩm trở về để anh xin lỗi. Tu nhận ra mình có thể quá đáng trong việc kết án Cẩm. Vấn đề ngoại tình không thể buộc tội vì một nhận xét đơn giản và không rõ ràng, do đó phải cần dành thời gian theo dõi để có bằng chứng hẳn hoi. Tu suy nghĩ miên man rồi thiếp ngủ đến ba giờ chiều mới thức dậy.

Cẩm vẫn chưa về, trong khi Yến đang nằm đọc sách. Tu pha một ly café ngồi uống nhìn ra khung cửa sổ. Hôm nay sau cơn mưa dông, trời cao xanh ngắt, bên dưới xe chạy ra vào bến ầm ĩ mải miết. Tu lại nhớ những ngày tù tội vừa qua của mình ở Tam Quan, và cái đêm thấy những tù nhân nước ngoài. Anh nhận ra cuộc chiến tranh chưa hề biến mất, mà tiếp tục với bao khuôn mặt khác cùng những tên gọi khác nhau. Và anh cũng như gia đình anh, nạn nhân trực tiếp của nó, để rồi di căn cuộc chiến ấy luồn lách trong mọi cấu trúc đời sống, âm thầm hành hạ tra tấn từng mỗi con người liên hệ. Lúc này Tu dần hiểu những điều Hậu nói trước đó mà anh luôn cho rằng Hậu triết lý, và nhân sinh quan của Hậu đôi lúc khó hiểu. Nhưng dẫu có sự khác biệt về quan niệm sống giữa anh và Hậu đi nữa, hai người lại có chung một phần nền dĩ vãng, cùng chia sẻ một quãng đời mà giá trị tự do cơ bản, hình thành cho hai người niềm tin ngay cả hy vọng, lúc cuộc chiến tranh bước vào giai đoạn ác liệt nhất.

Buổi chiều, Yến lấy thức ăn ra hâm nóng và hai cha con cùng ăn. Thấy Yến ngóng trông mẹ, Tu khuyên con, “Mẹ có công chuyện phải giải quyết, con học bài xong đi ngủ.” Lúc này Tu cũng mong Cẩm về nhà để giải hòa. Lấy nhau đã lâu và nhiều lần mâu thuẫn tranh cãi, nhưng lần này có lẽ trầm trọng nhất. Chín giờ đêm, Tu khóa cửa rồi khuyên con đi ngủ. Mười giờ, Tu nằm trằn trọc mãi vẫn không thấy Cẩm về. Ý tưởng hòa giải dần dần biến mất, Tu giận dữ nhưng không hiểu tại sao mình kích động quá mức. Anh uống một ly nước lạnh rồi nhìn đồng hồ. Mười một giờ, Tu nhắm mắt và thiếp ngủ. Trong cơn mơ bộc lộ sự giận dữ của mình bằng cách nắm tóc của Cẩm la hét. Giật mình thức giấc, Tu quay sang thấy Cẩm đang nằm ngủ, cơn tức giận trong giấc mơ tan biến ngay. Nhìn chiếc quạt trong góc phòng đang quạt, anh tự hỏi không biết Cẩm về lúc nào và đã mở quạt? Tu nhìn đồng hồ thấy đúng ba giờ sáng.

Dỗ mãi không ngủ lại được, Tu trằn trọc quay sang ôm Cẩm. Cẩm im lặng dường ngủ say, Tu luồn tay vào ngực Cẩm thì Cẩm hất tay chồng thật mạnh. Tu ôm chặt Cẩm nói nho nhỏ, “Anh xin lỗi em”. Tu nói nhiều lần và hình như Cẩm từ từ dịu cơn giận mới quay mặt lại. Tu háo hức ôm hôn Cẩm, vừa hưng phấn như ngày nào mới lấy nhau. Cẩm thở dồn dập đáp ứng chồng mãnh liệt. Cuối cùng hai vợ chồng ngủ thêm đến bảy giờ mới thức dậy thấy Yến đã ăn sáng xong và chuẩn bị đến trường. Hôm nay Tu chở Cẩm đi ăn hủ tiếu sớm để lên Hốc Môn xếp hàng đón đợt vải xuất xưởng đầu tiên chín giờ. Trong khi chờ Cẩm thay quần áo, Tu kiểm tra bình rượu tắc kè thấy đã cạn bèn tự nhủ chiều phải mua thêm rượu để ngâm vừa tự hỏi, “Sao không cần đến ly rượu tắc kè nào mà cuộc làm tình lúc khuya hoàn mỹ như thế?”

Ngày thứ năm này, ba nhà máy dệt lớn ở Hốc Môn xuất một lượng vải khổng lồ. Vợ chồng Tu và Phương trong toán đầu tiên dành lấy tài. Nhờ hai người nên vải xuất đến đâu Cẩm đều chuyển ra sau cho Tu cột thành từng kiện bốn cây vải để chở. Được mười sáu cây vải, Tu để Cẩm ở lại chờ lần xuất thứ nhì, trong khi anh vội cột các kiện vải lên xe honda chở về Chợ Lớn. Giao cho cửa hàng vải xong, Tu quay trở về Hốc Môn làm chuyến thứ hai. Khi anh trở về Hốc Môn lần thứ nhì đã hơn 12 giờ rưỡi. Tu và Cẩm đi ăn trưa tại một cửa hàng café cạnh nhà máy dệt. Cẩm cho biết hai người sẽ về theo chuyến vải thứ ba sau buổi cơm trưa. Lúc ăn cơm Tu hỏi, “Em có mệt hãy ra ngoài chỗ giữ vải, anh thế cho.” Cẩm lắc đầu, “Em khỏe mà, đàn bà đứng đầu hàng môi giới vải lợi hơn.” Tu lắc đầu, “Em không khỏe bằng anh, để việc nặng anh làm.” Cẩm nghe cười, “Sao anh sung quá vậy. Hèn gì bình rượu tắc kè cạn mau quá!” Tu cãi lại, “Anh không có uống giọt nào cả tháng nay!” Tu nói như biện hộ cho tình trạng chăn gối đêm rồi, một phản xạ vô thức việc hay dang dở bổn phận làm chồng từ ngày kết hôn đến giờ của anh.

Phương hôm ấy cũng thực hiện được hai chuyến vải. Nhìn Phương năng nổ làm việc, đôi khi phụ giúp anh khuân những súc vải to nặng, Tu lại cảm thấy mình nghĩ sai về bạn. Anh nói với Phương, “Chiều nay, tụi mình kiếm gì nhậu chơi nhé!” Phương gật đầu, “Tôi biết chợ ông Tạ có chỗ bán bê thui ngon lắm, để chiều tôi mua đem lên ông uống rượu.” Tu đồng ý rồi cùng Cẩm chở những kiện vải cuối cùng về Chợ lớn.

Buổi trưa về nhà đã gần ba giờ. Cẩm tắm rồi đi ngủ trong khi Tu đi ra phố Trang Tử mua thêm thuốc bắc, và mua thêm rượu trắng cho bình rượu tắc kè.

Chiều Tu và Phương ngồi trên hành lang nhà trọ uống rượu, ăn bê thui. Phương chỉ đĩa thịt đỏ hồng bảo, “Tôi tuyển chọn chỗ ngon nhất trên đùi sau con bê để người bán xén một cân, anh thử xem.” Tu chấm miếng bê thui vàng lườm da vào chén tương Cự Đà, rồi cho vào miệng nhai. Tu khen, “Ngon thật, tại sao thịt bê mà lại ngọt dòn như trái cây vừa chín tới như vậy?” Phương hóm hỉnh trả lời, “Bí mật, chỉ có tôi mới biết.” Tu rót ly rượu nếp đặc biệt của lò rượu Hốc Môn cho Phương. Phương khà một tiếng sau khi cạn ly, “Rượu ngon thật. Ông chỉ chỗ để tôi mua vài lít cho bố tôi ở nhà.” Tu xua tay, “Bí mật!” Cả hai cười vang rồi kể cho nhau nghe những ngày tháng tù tội. Trong cuộc vui của thế hệ Tu và Phương không gì đặc biệt đáng nói hơn sự tù tội, mất mát, thua lỗ, dở dang… chỉ vì họ sinh ra trên mảnh đất miền Nam, vào giai đoạn chiến tranh một mất một còn của hai miền Nam Bắc. Sau đó việc thống nhất đất nước đã mở cánh cửa thông thương hai miền, đồng thời lại đóng đánh cửa cuộc đời của một số đông con người miền Nam một thời tham gia, dính líu đến cuộc chiến tranh.

Uống thêm vài ly, Phương kể thêm về chiến công của Tiểu đoàn Cọp Ba đầu rằn, đánh tan bao nhiêu tiểu đoàn Cộng quân trên mặt trận Chơn Thành, An Lộc. Tu nhắc đến lần tập huấn khóa sĩ quan trừ bị Thủ Đức, và những đêm nghe nhạc, nhảy đầm ở các vũ trường Sài gòn. Thực ra cũng giống như Hậu, Tu và Phương đang chạy về góc đời ẩn khuất được dựng lên từ một thời quá vãng. Cả hai thấy mình từng là mình trên khát vọng, ước muốn và tự chủ, cốt an ủi bằng lòng trắc ẩn của định mệnh riêng lẻ chính họ. Sẽ không biết được mức độ bi đát, thê thảm thế nào, nếu không có những hình ảnh gợi nhớ vùng hào quang này, đối với những con người mà môi trường sống luôn phủ nhận, từ chối họ! Họ đang sống trong mùa địa ngục, nhảy múa cùng những cơn hoang tưởng để sống sót qua cơn mê thời đại.

Có lần Hậu nói với Tu, “Muốn sống và hiểu được giá trị tồn tại bản thân anh phải nín thở, và nhận ra hơi thở duy nhất của mình. Vì sao? Vì đấy là hiện tại và tương lai của anh, người đang hưởng di sản lịch sử dân tộc. Tuy nhiên, đừng ngộ nhận bản chất của di sản, vốn dành cho vinh quang lẫn nhục nhã. Nói rộng ra những con người chiến thắng hay thất bại có cùng một màu da, một chủng tộc, và một lịch sử đều cùng sở hữu cái gia tài bằng hơi thở duy nhất của mình. Cái khác biệt là tôi nhận ra mà họ không hề nhận ra!”

(còn tiếp)

Articles by Lê Lạc Giao

Comments


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

@2006-2025 damau.org ♦ Da Màu Magazine
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)