Từ 9 đến 12 giờ đêm, ông nhận được 5 cuộc điện thoại báo tin nhà thơ T qua đời. Trước tiên là của một người làm thơ trẻ, người ông vừa gặp trong phòng tranh của bạn ông cách đây vài hôm. Bạn ông, một họa sĩ nổi tiếng, vừa trở về dưỡng già ở quê nhà. Bạn bè, các nhà sưu tập, gom góp tất cả những bức tranh họ được tặng để làm cuộc triển lãm, như một chào đón.
Ông đi một vòng quanh phòng tranh rồi dừng lại bên bạn. Họa sĩ nói, tôi có mang về cho anh một cái pipe và 2 gói half and half đấy. Ông cười, anh còn muốn tôi hóa thân một lần nữa sao. Họ đang đứng trước bức Hóa thân nổi tiếng của họa sĩ. Trong tranh, người đàn ông đang hút thuốc, chiếc pipe trĩu nặng trên tay và làn khói bay âm lặng trong bóng mờ tối. Ông ghé sát vào bức tranh. Mặt tranh đã rạn. Một nỗi nghẹn ngào dâng lên khiến ông đau thắt nơi ngực. Vài năm nay, hễ có chút gì lo âu, xúc động là ngực lại đau dội lên. Âu cũng là lẽ thường, ông nghĩ. Mọi thứ rồi sẽ rệu rã, tàn úa. Ông quay mặt, tránh cái nhìn của bạn, tôi xin phép, vài bữa nữa sẽ ghé nhà anh để nhận quà.
Ông vội vã đến nỗi va phải một người nơi cửa ra vào. Ông nói, xin lỗi. Người kia giữ chặt cánh tay ông, cháu đây mà. Đó là nhà thơ trẻ đã có lần cùng vài người bạn ghé thăm ông. Họ ở đâu đó gần ông, trong một phòng trọ rẻ tiền. Họ làm phụ hồ, chạy bàn, chạy xe để kiếm sống và mải miết làm nên những câu thơ tân kỳ. Bữa đó ông mời họ ăn chuối. Họ đã ăn gần hết một nhánh chuối, không chút khách sáo. Khi họ đi khỏi, ông nghĩ có lẽ họ đang đói. Lẽ ra, ông nên mời họ món mì ăn liền, thứ thực phẩm ông luôn có sẵn. Ông thực sự có cảm tình với nhà thơ trẻ, người đã nói rất hay về Krisnamurti, đã nhìn thẳng vào mắt ông khi trò chuyện và bắt chặt tay ông khi ra về. Ông không có cảm tình, thậm chí, ác cảm với những ai có cái bắt tay hờ hững, lạnh lẽo.
Ông nhấc máy, nhận ra ngay giọng miền Trung thô vụng của nhà thơ trẻ. Bác ơi, nhà thơ T mất rồi. Cháu lấy tin trên mạng. Như kẻ bước hụt, ông đứng lặng định thần, không thốt nên lời. Có lẽ sợ ông cúp máy, cậu ta nói vội vã, bác ơi, cháu thích câu thơ Mỗi người đã chính một tự do. Rồi không đợi trả lời, cậu nói tiếp, và cả câu này nữa Người ta chỉ yêu khi tự do.
Ông lập cập đặt máy. Nhưng ông vừa dợm quay đi thì chuông điện thoại lại reo. Tiếng chuông to lạ thường. Đó là điện thoại của bà H, một bạn học cũ của nhà thơ T. Dường như hồi đi học bà đã có mối tình cảm đặc biệt với nhà thơ. Nhưng rồi bà đi lấy chồng, một bác sĩ ngoại khoa nổi tiếng. Và nhà thơ lấy vợ, một phụ nữ có lẽ đã là nguyên cớ của những bài thơ tình yêu đẹp đẽ nhất trong thơ Việt. Bà nói, như đang tiếp tục một câu chuyện, ông ấy không đi bệnh viện, chịu đựng đau đớn một mình như kẻ tự hành xác vậy. Bao nhiêu năm qua tôi không thể liên lạc được với ông ấy. Có lần tình cờ gặp tại một tiệc cưới, ông ấy chỉ khẽ gật đầu chào như với người sơ giao. Thú thực, có lúc tôi đã bực bõ, tức giận với ông ấy. Bây giờ thì tôi hiểu, ông ấy đã chết từ mấy chục năm nay rồi. Có tờ báo viết, đó là một cái chết kéo dài 30 năm. Cũng vậy thôi. Bây giờ thì tôi hiểu cuộc ra đi của ông ấy. Đi như đi lạc trong trời đất/Thủy tận sơn cùng xí xóa ta. Rồi bà im lặng. Ông nghĩ là bà khóc nhưng giọng nói của bà không nức nở, không nghẹn ngào, nó chỉ trầm xuống, nói chuyện thơ phú lúc này thật không phải nhưng thơ là cuộc đời của ông ấy. Ông còn nhớ không. Chưa bao giờ tôi viết bài thơ nào trống trơn.Anh hãy từ biệt mọi người cho đẹp bằng tác phẩm của anh.Ông ấy từ biệt chúng ta rồi. Bà lại im lặng. Ông áp máy vào tai, đợi rất lâu mà không nghe thấy tiếng động nào ở đầu giây bên kia. Hoàn toàn im lặng. Ông do dự đặt máy rồi ấn mạnh tay lên chiếc cần máy màu đen.
Hóa ra TV vẫn đang mở. Khi ông quay lại, trên màn hình là hình ảnh một người đàn ông đang cố sức leo lên tầng thứ 21 của một tòa cao ốc. Ông nhớ, đã nhiều lần TV đưa tin về người đàn ông này, trong chương trình Thế giới kỳ thú hay Mười phút giải trí gì đó. Ông ta cứ đi hết thành phố này đến thành phố khác trên thế giới, trốn tránh nhà chức trách, tìm cách leo lên các ngôi nhà cao tầng, mỗi lần một cao hơn, tự phá kỷ lục của chính mình. Ông đã từng cười diễu cái ý muốn kỳ lạ của người đàn ông nọ. Vậy mà lúc này ông đứng sững, chăm chú nhìn ông ta đu mình trên bức tường rộng lớn màu xanh nhạt. Nỗi lo sợ lại khiến ngực ông đau dội. Chỉ một chút sơ sẩy là có thể xảy ra tai nạn, có thể dẫn đến cái chết. Phải, cái chết. Ông gườm gườm nhìn đám người hiếu kỳ chen chúc dưới chân tường. Đám đông khờ dại, vô cảm. Ngày càng vô cảm. Ông bật nói thành lời. Ông nghe thấy giọng nói của mình, nó đã bắt đầu run run ở những âm sau cùng. Ông nghe thấy tiếng vỗ tay của đám đông. Rồi ông nghe thấy tiếng chuông điện thoại vọng lại từ góc phòng.
Hai cuộc điện thoại nối liền nhau, một của ông K, một của ông V. K là họa sĩ từng vẽ tranh minh họa cho tập thơ đầu tay của nhà thơ. V là nhà phê bình văn học từng được gọi là chuyên gia thơ T. Ông K nói, lại một người nữa ra đi. Ông V đọc một câu thơ của bạn, Thôi cũng đành sấp ngửa theo đời cho hết cuộc đam mê điên dại.
Ông cúp máy, tắt TV khi đồng hồ điểm 10 tiếng. Chiếc đồng hồ là vật dụng duy nhất ông còn giữ lại sau 30 năm lưu lạc. Khi ông mãn hạn tù,vợ con ông đã bồng bế nhau ra đi. Ông không hiểu vì sao bà lại gửi cho ông chiếc đồng hồ ấy. Có thể bà nghĩ đó là vật lưu niệm của người cha. Mà cũng có thể bà chẳng còn gì khác để gửi lại. Buổi chiều ấy, ông đứng như chết trước chiếc đồng hồ phủ bụi nơi góc phòng. Đồng hồ chỉ 12 giờ. Có thể đó là giờ vợ con ông ra đi. Mà cũng có thể đó chỉ là con số ngẫu nhiên, những chiếc kim chợt dừng lại , sau những nhịp đập yếu ớt, vào một ngày nào đó. Ông không còn cơ hội để biết mọi điều vì vợ con ông đã mất tích trong một cơn bão biển. Bữa đó, ông đưa ngón tay miết lên lớp bụi, lòng cay đắng đến ứa nước mắt. Trong những ngày tù tội, ông cũng chỉ có trong lòng nỗi cay đắng. Cay đắng thôi, không oán than, không thù hận. Ông và nhà thơ gần nhau trong nỗi cay đắng đó.
Ông biết đêm nay sẽ mất ngủ. Càng ngày càng có nhiều đêm mất ngủ. Nhưng ông không uống thuốc. Ông để mọi việc thuận theo tự nhiên. Chưa tới bốn mươi, tóc ông đã bạc trắng. Ông cứ để vậy. Ông dị ứng với những kỷ lục dùng răng kéo ô tô, dùng tay đóng đinh vào gỗ, chọc kiếm vào cổ họng, đi chân không trên than hồng…Có lần, ông mất một cô bạn gái xinh đẹp chỉ vì cãi cọ khi xem xiếc. Cô ta vỗ tay xuýt xoa nhìn một bé gái gập đôi người để chui vào một chiếc rọ nhỏ. Ông bảo, hay ho gì cái trò đó, rồi con bé sẽ lớn lên như thế nào. Giọng nói của ông gay gắt đến nỗi cô bạn tự ái, bỏ ra về ngay sau buổi diễn, không gặp lại ông.
Ông yêu văn chương. Cha ông muốn ông nối nghiệp để trông coi hệ thống Pharmacie của gia đình nhưng ông chỉ học Dược nửa năm rồi bỏ ngang. Ông dồn hết vốn liếng lập một nhà xuất bản. Nhà xuất bản của ông chỉ in những tác phẩm mà ông thích, những nhà văn mà ông quý trọng. Vì lẽ đó mà nhà xuất bản chỉ tồn tại vài năm thì đứt vốn. Ông phân trần với bè bạn, cũng tự nhiên thôi, phải không. Đó là cái giá cho một đam mê.
Mãn hạn tù, bạn bè rủ nhau đi làm thủ tục xuất cảnh, ông dứt khoát từ chối. Ông bảo, ở tuổi ngoài năm mươi, người ta chỉ nên sống ở nơi chốn quen thuộc của mình. Cuối cùng thì chính nghề bán thuốc tây lại nuôi sống ông. Người em con chú, kẻ nối nghiệp cha ông, đã thu xếp cho ông một khoản đủ để sống.
Ông thuê căn phòng ở cuối con hẻm rộng, nối với một đường phố lớn. Mỗi sáng, ông uống ca-fe ở cái quán cóc đầu hẻm. Chủ quán là một phụ nữ khoảng ngoài ba mươi với 4 đứa con từ 5 đến 10 tuổi, mặt buồn rười rượi. Nghe đâu chồng chị ta thỉnh thoảng lại chạy theo một bà, một cô nào đó. Có lần, hắn còn mang về một bé trai mới 8 tháng tuổi , nhờ chị nuôi nấng. Nó là thằng bé thứ 3 có khuôn mặt thanh tú ,lanh lợi vẫn quanh quẩn dọn ly tách giúp chị. Có ông khách ác ý hỏi nó, mẹ cháu đâu. Nó chạy ào về chỗ chị, dang 2 cánh tay khẳng khiu ôm ngang hông mẹ trông thật tội. Quán chỉ có vài chục chiếc ghế nhựa thấp. Lúc vắng, khách lấy ghế làm bàn để đặt ly tách. Lúc đông, khách tự cầm ly trên tay, vừa uống, vừa đọc báo, vừa trò chuyện. Ông thường ngồi một góc, vừa uống café vừa nhìn ra phố, nhìn cái dòng người như lũ cuốn không bao giờ chịu dứt, vừa gần gũi vừa xa lạ. Có lần ông hỏi bạn, tôi thấy người ta bây giờ như căng thẳng, lo âu hơn ngày trước. Bạn ông, một dịch giả nổi tiếng, cười lớn, tránh một câu trả lời. Ông gặng thêm, anh nhìn mặt tôi xem, chắc nó cũng in dấu truân chuyên, lưu lạc trên đó mà mình không để ý, không tự ý thức. Bạn ông chịu thua, đáp nghiêm trang, thì mặt tôi cũng vậy. Khuôn mặt của những người cùng thời mà.
Bạn ông có một tiếng cười rất lạ, không lẫn với bất cứ ai. Có lần đang đi lang thang ngoài phố, nghe tiếng cười rộn rã, ấm áp vọng ra từ một quán café, ông ghé vào, quả nhiên gặp bạn. Thấy ông, bạn ông cười lớn, thay cho câu chào. Có kẻ độc miệng bảo ông ta mất vợ vì hay cười. Ông thì bảo bạn, anh có niềm lạc quan của thế kỷ 19, cái thế kỷ rực rỡ nhất của nhân loại.
Dạo sau này bạn ông sống bằng việc dịch tài liệu khoa học, thảo đơn từ cho người xin xuất cảnh, cho con lai tìm cha, cho người Việt kết hôn với người ngoại quốc…Thấy ông buồn, bạn ông cười, sống bằng sức của mình, nghề của mình là tốt rồi, anh cả nghĩ làm gì. Ở quán café đầu hẻm, dần dà người ta cũng quen với tiếng cười của ông già cao lớn, kính cận trễ xuống chóp mũi, vai đeo chiếc túi vải bạt to tướng.Cánh thanh niên ngồi quán thường tò mò nhìn chiếc túi vẫn được ông già gọi là túi càn khôn của mình. Ông thì biết trong cái túi ấy chỉ toàn sách là sách. Sách tiếng Tây, tiếng Tàu, tiếng Anh, tiếng Việt. Sách Triết, sách Văn học, sách Lịch sử, đủ cả. Cứ có chút ít tiền là bạn ông lại la cà tiệm sách cũ. Ở đó, có những cuốn sách quý, giá chỉ bằng ly café vỉa hè. Bạn ông cầm sách, mắt hấp háy như trẻ nhỏ được quà. Nhưng cũng không hiếm những tay bán sách tinh đời. Sách gì cũng có nhưng giá thì đắt kinh người. Bạn ông gắt toáng lên, định cắt cổ nhau à. Nhưng tay vẫn khư khư giữ sách, loay hoay lục túi tìm tiền đặt cọc. Thỉnh thoảng, bạn rủ ông hoặc ông rủ bạn đi ăn cơm tiệm, còn thì ông ăn mì ăn liền. Nghe đâu trong một cuộc thăm dò, dân Nhật bình chọn mì ăn liền là một trong bốn phát minh vĩ đại của thế kỷ 20. Phát minh vĩ đại của bạn ông là ăn chuối thay rau. Chuối vừa rẻ, vừa nhiều vừa bổ, bạn ông cười lớn.
Đúng lúc ông định gọi điện thoại báo tin dữ cho bạn thì chuông điện thoại reo. Ông không biết ai có thể gọi cho ông lúc đêm hôm khuya khoắt này. Giọng một cô gái trẻ, tiếng Việt có chút ngượng nghịu, bác ơi, cháu là TH, con gái của bố T. Ông bật kêu, trời ơi, là cháu ư. Cô gái đáp, vâng, là cháu. Bao nhiêu năm nay cháu đi tìm bác mà không thấy. Bố cháu hầu như chẳng giữ mối liệ hệ cũ nào. Bác ơi, cháu vẫn còn giữ phiến đá màu đen. Bố cháu kể, bác đã nhặt phiến đá bên dòng suối nhỏ giữa vùng rừng núi thâm u, trong một chiều đông, ở SL.Bác đã mài nhẵn, đã dùi lỗ rồi đem cho bố cháu nhân ngày sinh nhật lần thứ 9 của cháu. Cháu đã tìm được một sợi dây rất đẹp để đeo phiến đá. Bác ơi, đó là vật trang sức quý giá nhất của cháu. Bác nhớ không, mặt đá đen như tròng mắt chết một thời chiến tranh mà bố cô, chú cô bị đắm. Cô nói một mạch rồi đột ngột dừng lại. Ông không đợi. Ông biết, cô sẽ dừng lại rất lâu, có khi đến ngày mai, ngày kia, có khi đến mãi sau này nữa, cô mới có thể tiếp tục câu chuyện về người cha.
Ông nhắm mắt, tựa đầu vào lưng ghế, lắng nghe tiếng chuông đồng hồ đổ 12 tiếng vào đêm. Ôi những người khóc lẻ loi một mình.