(Nguồn: Tạp chí Văn Học (Hà Nội), số tháng 2-1994).
Tiểu luận này được BBT Da Màu đánh máy lại từ tạp chí Văn Học (California) số 99, tháng 7/1999, số đặc biệt khởi đầu thảo luận về văn học hải ngoại. Đoạn mở đầu của “Thư tòa soạn” viết như sau:
“Văn Học số này khởi đầu cuộc thảo luận rộng rãi quanh chủ đề “Hai mươi năm văn học hải ngoại”, và chúng tôi hy vọng từ nay cho tới 30-4-1995, những bài tham luận, những ý kiến được nêu lên trên tạp chí này sẽ giúp cho các nhà nghiên cứu tìm hiểu cặn kẽ, khách quan một dòng văn chương có nhiều đặc thù trong lịch sử văn học của dân tộc. Công việc này, hiện nay ở trong nước, cũng có một số nhà nghiên cứu văn học bắt đầu lưu tâm. Nhưng do thiếu tài liệu, do thói quen nhìn hiện tượng văn học như một biểu hiện trọn vẹn của chính trị, hoặc do chủ đích chính trị nào đó, các nhà nghiên cứu trong nước chỉ quan tâm đến một phần rất nhỏ của văn học hải ngoại. Bài của nhà nghiên cứu Nguyễn huệ Chi chúng tôi trích đăng trên số này là một bằng chứng của lối nhìn thiên lệch nói trên.”
1
Có một dòng văn học Việt Nam hải ngoại hay không? Câu hỏi đó đối với khá nhiều người cầm bút trong nước hôm nay chắc đã không thành một điều trăn trở nữa. Vì lẽ, dù sách báo của người xa xứ gửi về còn rất…thưa thớt, trong chúng ta, mấy ai lại không được một đôi lần ghé mắt vào một số báo Hợp Lưu, Trăm Con, Văn, Văn Học, Văn Uyển, Làng Văn, Đoàn Kết, Diễn Đàn, Thế Kỷ 21…ở đâu đó, dù chỉ một đôi lần. Và có thể nào nhìn ghé mà lầm được: trước mắt ta hiện diện trở lại bao nhiêu tên tuổi quen thuộc từ cái thuở tấp nập báo chí Sài Gòn cách đây 18 năm: Võ Phiến, Mai Thảo, Nhật Tiến, Nguyên Sa, Túy Hồng, Nhã Ca, Trùng Dương, Dương Kiền, Thế Uyên, Duy Lam, Tạ Tỵ, Duyên Anh, Du Tử Lê, Lê Tất Điều, Luân Hoán, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Mộng Giác…Bên cạnh đó là vô số tên tuổi mới mẻ ta chưa từng một lần hay nhiều lắm cũng chỉ mới hơn một lần quen biết: Võ Đình, Nguyễn Ngọc Ngạn, Trần Vũ, Trần Long Hồ, Trân Sa, Khánh Trường, Phan Tấn Hải, Khế Iêm, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Trần Diệu Hằng, Lê Thị Huệ, Thường Quán, Phan Thị Trọng Tuyến, Trịnh Y Thư, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Ngọc Khôi, Bùi Bích Hà, Vũ Quỳnh N.H., Đỗ Kh., Ngu Yên, Nguyễn Mạnh Trinh, Hoàng Mai Đạt, Nguyễn Ý Thuần, Nguyễn Thị Thanh Bình…
Năm 1990, nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh đã cho ấn hành cuốn Thơ Văn Người Việt Nam Nước Ngoài, tập hợp hàng chục tác phẩm trong số những tên tuổi quen và chưa quen ấy. Lại năm nay, 15 truyện ngắn mang tựa đề Khi Tan Nắng do nhà xuất bản Hội Nhà Văn tuyển lựa, đã ra đời. Rồi trên tờ phụ san báo Văn Nghệ số tháng 3-1993 cũng tập trung “giới thiệu chủ đề người Việt ở nước ngoài” với một cụm bài khiêm tốn, phối hợp giữa các tác giả ngoài nước (Trần Văn Khê, Trần Mộng Tú, Du Tử Lê, Đoàn Nhật, Vi Khuê, Hà Huyền Chi, Thủy Trang, Phan Văn Ký…) với trong nước (Nguyên Phong, Linh Hà, Gs Hoàng Trinh…). Tiếp đấy, tờ tạp chí Quê Hương của Ban Việt Kiều Trung Ương lại ra số chuyên đề về “Văn Học Người Việt Ở Ngoài Nước” (số 8, 1993), ngoài một số truyện, ký được đăng tải từ nhiều sách báo phát hành ở Pháp, Đức, Hà Lan, Canada, Mỹ…còn có hai bài tiểu luận của Lê Hoài Nguyên, giới thiệu “một cái nhìn” 18 năm văn học hải ngoại, với cách nắm tư liệu sát sóng, cách thống kê, phân loại rành mạch, đâu ra đấy, chứng tỏ người viết có một sự hiểu biết khá tỏ tường. Không nghi ngờ gì nữa, bên ngoài dòng chảy của nền văn học trong nước, trong 18 năm qua vẫn có những dòng chảy khác của văn chương người Việt, phát nguyên từ nhiều chân trời khác nhau. Chúng lặng lẽ và tiềm tàng, từ tốn hay mạnh mẽ, chảy xuyên qua rất nhiều xứ sở, tích lũy trong đó tiếng gào réo của thác của ghềnh, cũng như cả những tiềm năng thanh lọc rất dữ. Để rồi đến một lúc, giống như một chàng trai “bước vào tuổi 18” từ lúc nào không hay, những dòng chảy kia bỗng chốc dội vào nhau, va động, làm cho nhau nổi sóng, rồi vừa phân hóa vừa nhóm tụ lại, chúng dồn thành một “hợp lưu”, báo hiệu một bắt đầu tỉnh thức, từ nơi sâu kín của lương tri, và một nhu cầu khách quan ngày càng rõ nét: trở về với cội gốc, bằng con đường hòa hợp dân tộc “phá vỡ mọi biên cương, mọi định kiến”, “hướng tầm nhìn về tương lai, đặt tiền đồ của dân tộc lên trên hận thù” (Hợp Lưu, số 1, tháng 10-1991). Và đó là cách để sớm hội nhập, giao lưu với dòng văn “quốc nội”; vì “chỉ có hòa hợp, hòa giải dân tộc thì dân tộc mới là một” (Trần Đỗ- Trăm Con, số 1, tháng 6-1992).
2
Có gì đáng kể trong dòng văn người Việt ở hải ngoại này? Trong câu chuyện “trà dư tửu hậu” của những salon văn học nhóm lên bất chợt ở ngoài Bắc trong Nam suốt nhiều năm nay (cần hiểu chữ salon ở đây là một hàng cơm “bụi” hoặc một quán nước chè bên lề đường), chúng ta chẳng đã từng đặt ra với nhau một vài câu hỏi đại loại như thế. Và do cách tiếp cận dòng văn học này còn quá lỗ mỗ, cách trả lời của mỗi người cũng thường rất đỗi khác nhau. Có người thích giọng văn tùy bút miên man trong hoài niệm của Võ Phiến, ở đó mỗi một dấu hiệu bắt gặp trên vùng đất lạ, một tiếng chim sẻ, một bụi “ổi tàu” (hoa cứt lợn) (1) cũng làm cho ông cháy lên một nỗi thao thức khôn nguôi về hương vị, sắc màu…nơi quê hương bản quán. Có người ao ước được cầm trên tay bộ trường thiên tiểu thuyết dày 1,800 trang Mùa Biển Động (2) của Nguyễn Mộng Giác, để thử cùng ông lần trở lại trên suốt cuộc hành trình máu lửa ở dải đất miền Trung trong những năm từ 1964 cho đến hết tháng 4-1975, và cùng với ông chiêm nghiệm về những gì gọi là được và mất, vinh quang chiến thắng và “mặt trái của tấm huân chương”, ẩn đàng sau bức tranh lịch sử; mặt khác, cũng để thử bắc đồng cân so sánh nặng nhẹ giữa bộ sách của ông với những bộ trường thiên Cửa Biển của Nguyên Hồng, Vỡ Bờ của Nguyễn Đình Thi, hay Xóm Cầu Mới, Dòng Sông Thanh Thủy của Nhất Linh mà nhà nghiên cứu Nam Chi trong hai bài giới thiệu trên tờ Đoàn Kết (số 4-1990), đã đề cập đến như những bộ trường thiên đi đầu. Cũng từ những lời giới thiệu khác của Nam Chi trên báo Đoàn Kết trước đấy năm tháng (Số 12-1989), có người lại muốn đi tìm thiên “Hồi Ký Cách Mạng và Kháng Chiến” (3) của Phạm Duy, để xem “con mắt xanh” và sức “cường ký” của nhà nghệ sĩ đã xa cách quá lâu rồi với môi trường cách mạng và kháng chiến – “kẻ du ca” với những “lựa chọn tương đối và thiết thực…trong cõi đời thường” (Thụy Khuê – Hợp Lưu số 8, tháng 12-1992) (4) – còn lưu giữ lại được những gì về đoạn đường rất đậm chất sử thi, “vừa hào hứng vừa cam go” (Nam Chi – đã dẫn) ấy của dân tộc. Có người ham mê văn tiểu phẩm, tỏ ý thích thú với cách đặt vấn đề “thẳng thừng” của Nhật Tiến, Thế Uyên,trong các bài báo, tập sách, câu trả lời phỏng vấn đầy ý vị thời sự của các ông (5), bắt nguời ta phải nhìn xoáy vào sự thật, cái sự thật ở bên này đất nước nơi các ông vừa về thăm lại, tuy có nhiều điều chẳng làm các ông ưng ý, nhưng cũng không hẳn giống với cách nghĩ cố chấp của một số người; cái sự thật trần trụi không che giấu hay tô vẽ, mà theo các ông, dẫu mình có đau lòng thì vẫn là sự thật, và không có cách “cứu vãn” nào khác hơn là chờ đợi một chuyển động tự nó, là “hòa giải hận thù giữa người Việt với nhau” (Đặng Tiến – Diễn Đàn, số 3 tháng 12-1991) (6). Có người, trong mối thất vọng chung với thơ tiếng Việt hải ngoại từ nhiều năm nay, bỗng bắt gặp được một ít bài mang giọng thơ mới lạ, của Thường Quán, Ngu Yên, Nguyễn Mạnh Trinh, Trân Sa, Phan Ni Tấn, Luân Hoán, Phạm Việt Cường, Khế Iêm…, nên lấy làm vui thích. Có người lại có cảm tình với dòng truyện ngắn hải ngoại nở rộ trong mấy năm gần đây, với những đoản thiên nhẹ nhàng hay dữ dội, được cấu trúc đôi khi rất tân kỳ (Trần Vũ), thông qua đủ mọi thể nghiệm tâm linh, thần kỳ, ảo giác, tính dục…nhưng phần lớn thì vẫn rất giản dị, cổ điển, hoặc còn mang hơi hướng ngôn từ cổ kính, gợi lên cả một thế giới tâm trạng bộn bề của người xa xứ, những dằn vặt, lo âu, khắc khoải, những bi kịch và cả niềm vui tiếng cười…của nhiều nhóm cộng đồng người Việt bị hoàn cảnh đẩy ra khỏi môi trường xứ sở, và phải trải biết bao gian truân, mất mát, đổ vỡ, phải chống lại mọi thứ “dị ứng” trong tâm lý, sở thích, phong tục tập quán, kể cả trong tình yêu, để hội nhập được vào xứ sở nước người. Có ngươi đã sửng sốt ngạc nhiên khi đọc đến những truyện của Nhung Uyên (Nhật Ký Mỵ Nương) (7), Lê Thị Huệ (Thiếu Nữ Chờ Trăng Lên) (8), nhận ra trạng thái “dị ứng” đã trở thành những cú “sốc” tâm thần từ hai phía, những cú “sốc” vừa là lực đẩy lại vừa là lực hút giữa những cặp tình nhân khác chủng. Nhưng cũng có người thích thú hơn với những bản tình ca “hòa nhập”, như trong các truyện của Trần Mộng Tú (Cầu Vồng Bảy Sắc) (9), Ngọc Khôi (Café Froid) (10), hòa nhập do sự trùng hợp trớ trêu của định mệnh, và sự nhạy cảm của chất “người”, dù màu da, tập tục có khác nhau như thế nào. Có người đã hết sức bức xúc trước tình cảnh của lớp người già được miêu tả trong truyện của Nguyễn Thị Hoàng Bắc (Bà Ngoại) (11), Tam Thanh (Ở Đó) (12), Nhật Tiến (Người Lam Ca Đêm), Vũ Nam (Đường Cùng), Hoài Mỹ (Về Với Biển Cả) (14), Phan Thị Trọng Tuyến (Khoảng Cuối Cuộc Đời)…những con người lẽ ra được cởi mở hết cá tính như bà mẹ trong quá vãng của Kiệt Tấn (Nụ Cười Tre Trúc) (15) thì lại phải thu mình lại để chống trả với sự ghẻ lạnh của môi trường mới nhập cư, và đôi khi cả sự hững hờ vô ý của thế hệ cháu con đang bị cuốn hết vào nhịp sống công nghệ hiện đại. Nhưng cũng có người quan tâm đến truyện của Trần Thị Kim Lan (Kẻ Lạ Người Thân) (16), Hoàng Khởi Phong (Hoàng Hôn) (17), muốn khơi lại cái nhìn nhân bản và tấn bi kịch chung của thế hệ người già ở ngay những quốc gia tiên tiến, để ngậm ngùi nhận ra họ cũng bơ vơ không khác gì tình cảnh bơ vơ xứ lạ của những kẻ như mình. Có người hứng thú với tâm trạng “trở về” – trở lại quê hương đất nước – trong nghi kỵ, xa cách, hoặc trong sự tha hóa của tình cảm và cả nhân phẩm, nhìn từ một phía hay cả hai phía, như trong truyện của Vũ Quỳnh N.H. (Apocalipse Now) (18), Trần Vũ (Benhur và Messala) (19), Nguyễn Trung Tâm (Hồng Phúc) (20)…Nhưng có người lại yêu một thoáng hồi cố của giây phút trở về trong (Khung Trời Bỏ Lại) (21) của Nguyễn Thị Ngọc Liên, một thoáng nuối tiếc bâng khuâng về “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” đối với người cũ, đối với Sài Gòn…giống như một mùi hương hoàng lan rất nhẹ còn phảng phất mãi trong truyện của Thạch Lam làm ta ngây ngất.
3
Quả tình, đối với dòng văn chương hải ngoại của người Việt, tuy chưa ai nhận dạng được đầy đủ, nhưng dần dà góp nhặt từng tí một, đã có cái gì đó hiện lên trong trí, và để lại một sức nặng trong cảm xúc, như cái hình bóng thấp thoáng của một người anh em không quá xa lạ với mình. Vì sao có được ấn tượng đó? Vấn đề này cũng có không ít kiến giải khác nhau. Có người cho rằng đây mới đúng là dấu hiệu của thiên bẩm văn chương, vì người viết đứng trước rất nhiều nghề nghiệp có tương lai hơn nhiều, đã tự nguyện chọn lấy một nghề bấp bênh và “khó thấy mồ” (Đặng Tiến dẫn lời Thế Uyên – Diễn Đàn số 3, tháng 2-1991), là viết bằng tiếng Việt. Có người nghĩ đến môi trường sáng tác của văn chương hải ngoại không mấy rào ngăn, cấm kỵ, nên văn viết ra nói hết được ý mình. Nhưng cũng có người tỏ ý nghi ngờ nguồn sinh lực dồi dào của dòng văn hải ngoại, bởi nó thiếu đi một điều kiện then chốt là sự bắt rễ vào mạch sống đích thực của quê hương. Có người lại rất thích chủ thuyết “phản ánh luận”, cứ muốn cho văn học hải ngoại phải nói được nhiều hơn nữa thực trạng đau buồn của người xa xứ (Thôi Im Cho Qua Đi – Trần Long Hồ) (22), Dốc Ngược – Nguyễn Ý Thuần (23); Dấu Mặt Cuối Năm – Hồ Đình Nghiêm (24)…, có thế mới biểu hiện của ý hướng “thức tỉnh” mạnh mẽ hơn, và mới là triển vọng của một màn vĩ thanh “đại đoàn viên”, qua đó cái tên văn học lưu vong tự nó sẽ biến mất. Ý kiến thật đa dạng! Nhưng ngẫm cho kỹ, hình như mỗi cách nhìn nhận chỉ mới đúng một phần.
4
Tôi cũng tin như ai đó rằng văn học người Việt ở ngoài nước cũng đúng là đang thức tỉnh, nhưng vì sao thức tỉnh? Thì vấn đề lại càng phải lý giải rõ thêm. Không nên quên rằng văn học trong nước cũng chỉ mới “thức tỉnh” trong công cuộc đổi mới diễn ra chừng năm, sáu năm nay, và trên phương diện lý luận, dẫu cho chúng ta còn phải tranh cãi để định danh thật đúng hiện tượng “thức tỉnh” này, thì hẳn ai cũng phải thừa nhận một thực tế là diện mạo và sinh khí của văn học từ bấy đến nay đã khác trước. Thành tựu tuy chưa có gì lớn lao nhưng tiếng nói, giọng điệu đã không còn đơn giản, dễ dãi, “trắng đen tách bạch” hay “suông sẻ” một cách đáng ngờ, như không ít thì nhiều cách tư duy nghệ thuật của thời “bao cấp”. Và nếu không có sự thay đổi quan trọng đó, tất đã không có được những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp cùng hàng loạt truyện ngắn được giải của báo Văn Nghệ; những tập truyện vừa Cỏ Lau của Nguyễn Minh Châu, Mê Lộ của Phạm Thị Hoài, kịch của Lưu Quang Vũ, tiểu thuyết Thời Xa Vắng – Những Thiên đường Mù – Đám Cưới Không Giá Thu – Cuốn Gia Phả Để Lại – Mảnh Đất Lắm Người Nhiều Ma – Lão Khổ – Nỗi Buồn Chiến Tranh…và nhiều sáng tác lớn nhỏ khác. Sự đổi mới của văn học cũng như các mặt hoạt động khác của đời sống xã hội Việt Nam rõ ràng bắt nguồn từ một nhu cầu có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh đất nước: không đổi mới tức là dấn mình vào chỗ chết. Tôi nghĩ, xu hướng “hợp lưu” của văn học người Việt ở nước ngoài cũng xuất phát từ một nhu cầu nội tại tương tự: không hướng về sự sống còn của dân tộc tức là vô hình trung tự đánh mất đi bản năng sinh tồn, khát vọng hiện hữu và “tái hiện hữu” của mình. Bởi thế, có phần đúng như cách nghĩ của Lê Hoài Nguyên, chính công cuộc đổi mới của đất nước mà bộ phận nhạy cảm là văn học, đã trực tiếp tác động, góp phần dẫn đến xu thế ‘thức tỉnh”, “hòa nhập” của văn học người Việt ở nước ngoài, chẳng khác gì sự kích thích dây chuyền của cùng một cơ thể sống. (Thử nghĩ, nếu văn học của chúng ta vẫn nói những lời rất cũ trong khi đất nước đang mạnh mẽ đổi thay thì liệu người đọctrong nước có chấp nhận hay không về một đòi hỏi khách quan: đổi mới để giao lưu, hòa nhập?). Nhưng nếu đổi mới là một xu thế “bất khả kháng”, thì cái bước đi của nó lại cũng không tùy thuộc ý muốn của một người nào. Do điều kiện nhận thức và cảm hứng sáng tạo có khác nhau, có dòng sáng tác ở trong nước đã bứt lên khá xa, nhưng vẫn có thể có dòng vẫn chậm rãi theo nhịp điệu cũ. Điều đó nào có gì là lạ! Chúng vẫn có quyền chung sống với nhau một cách bình đẳng, thoải mái và thúc đẩy lẫn nhau để cùng phát triển. Ví bằng coi đó là quy luật thì cái quy luật “tối thượng” ở đây vẫn không ra ngoài mẫu số chung của mọi đường véc-tơ chuyển động. Phê phán văn học “quốc nội” “cởi rồi lại trói” (Hợp Lưu, số 8 tháng 12-1992) cũng chẳng khác gì đòi hỏi văn học người Việt ở nước ngoài phải lên tiếng “tố giác”, “vạch trần” thực trạng di tản lưu vong mạnh hơn nữa, và phải “thức tỉnh” cho mau. Thiết tưởng, cả hai phía đều là những suy luận chủ quan, do ngộ nhận về một thực tế mà mình chỉ là kẻ “nhìn từ xa”, nên không sao hiểu được nội tình của “người trong cuộc.”
5
Ai cũng biết rằng ở những xứ sở vốn đã quen với truyền thống dân chủ, tự do thì sự cấm kỵ có ít hơn, nhưng phải đâu như thế là người cầm bút ở đây muốn viết gì thì viết. Sự cấm kỵ trên lãnh vực tinh thần nhiều khi lại bắt nguồn từ những điều có vẻ như vô hình, không dễ mà nhìn thấy: các thiên kiến cố chấp đã thành thói quen, tâm lý mặc cảm của một nhóm cộng đồng nào đấy chưa gỡ bỏ đi được, hoặc cách ứng xử theo nếp bảo thủ cổ truyền giữa người cùng giới với nhau…Nếu chẳng còn chuyện “cấm kỵ” thì vì sao vào tháng 7-1992, khi giao lưu trong nước và kiều bào ở nước ngoài đã hết sức mật thiết, vậy mà vẫn còn nổ ra “vụ động đất Montréal”, dùng thư can thiệp, hăm dọa các thành viên của hai tờ Hợp Lưu và Trăm Con và nhiều du khách khác về Canada tham dự triển lãm của họa sĩ Võ Đình? Kế đó, vì sao lại có việc Hiệp Hội Báo Chí Canada bị ép buộc phải tẩy chay tờ Trăm Con, mà kết quả là 5 trên 7 thành viên của Hiệp Hội không tán thành, khiến phải đi đến chấp thuận giải tán hội? Ngay chỉ mới vào tháng 5-1993 còn nóng hổi đây thôi, vì sao cuộc triển lãm của họa sĩ Lâm Triết ở quận Cam Hoa Kỳ đến phút chót cũng phải hủy bỏ? Cho hay, ở đâu cũng thế, sự ràng buộc của những luật lệ vô hình bao giờ cũng ghê gớm hơn nhưng luật lệ thành văn mà ta cứ tưởng là duy nhất hữu hiệu, và cuộc vật lộn cho cái mới là luôn luôn vất vả thậm chí nhiều khi thất bại, cũng là thường tình. Điều đáng nói là mỗi chúng ta, những người trong giới, mỗi khi nhân danh cái “mới” để lên tiếng ở nơi này nơi kia, hãy nên tự cảnh giác với mình. Kinh nghiệm cho thấy, những người trong cùng một giới thường quá hiểu về nhau, lại thêm sự nhạy cảm và mặc cảm, nên thường làm khổ nhau nhiều hơn là chính sự cấm kỵ rất nhiều.
6
Nhưng dù sao, trong thời đại ngày nay, muốn chống lại một xu thế đã trở thành tâm nguyện của nhiều người, không phải là điều dễ. Sở dĩ người ta trách các chàng Don Quichotte không phải vì kính trọng các chàng, mà để khỏi thêm một việc làm vô nghĩa. Một khi ngòi bút truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đã đi ngang qua bầu trời văn học Việt Nam hiện đại, thì mặc cho ai đó có bực bội, lên tiếng chống lại ông, một phong cách truyện ngắn rất giàu năng lực biểu tượng kiểu Nguyễn Huy Thiệp đã đâm chồi bén rễ trong hàng loạt cây bút truyện ngắn sung sức kế theo sau. Đó phải chăng không là một hiện tượng có ý nghĩa thời đại hay sao? Và cũng không còn là một hiện tượng văn học có giới hạn trong phạm vi “bản địa”. Hẳn chẳng phải ngẫu nhiên mà cách nhau chưa đầy ba năm, bà Kim Lefèvre đã tuyển dịch hai tập truyện của Nguyễn Huy Thiệp ra tiếng Pháp (25), sau đấy tập truyện Tướng Về Hưu lại được dịch liền ra tiếng Ý (26). Gần đây, trong dòng văn học Việt Nam hải ngoại, người ta thường nhắc đến một cây bút truyện ngắn được coi là đặc sắc: Trần Vũ, mà ít nhiều, tác động của phong cách truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã thấy bóng dáng trong một vài thiên truyện, như Mùa Mưa Gai Sắc – Cái Chết Sau Quá Khứ (27). Trong bài Tại Sao Phải Là Nguyễn Huệ (Hợp Lưu số 5), nhà phê bình Trương Vũ sau khi nhận xét về những đặc điểm có phần giống nhau giữa hai cây bút tài hoa nói trên, đã đặt ra một câu hỏi chung cho cả Nguyễn Huy Thiệp lẫn Trần Vũ, rằng những thông điệp nghệ thuật sâu xa mà hai tác giả muốn nhắn gửi, qua Phẩm Tiết hay Mùa Mưa Gai Sắc, có nhất thiết phải mượn đến biểu tượng Nguyễn Huệ, để làm vỡ đi một hình ảnh Nguyễn Huệ “như một con người thật, như triệu triệu con người thật khác” (tr. 18) (tôi muốn thêm: như một “”động hình” (stéréotype dynamique) đã tồn tại trong tâm lý dân tộc suốt 200 năm lịch sử hay không?) Vì lẽ, nếu tác giả cũng như bạn đọc “ai cũng có quyền nghĩ về Nguyễn Huệ theo những chiều hướng khác nhau” (tr. 16), hơn nữa “Nguyễn Huy Thiệp và Trần Vũ không viết dã sử, không viết truyện kí danh nhân, nên không thể có ý đồ bôi nhọ hay lăng nhục nhân vật lịch sử” (tr. 14), thì trước hết, về phía Nguyễn Huệ, “cho dù ông sống cách đây hai trăm năm, ông vẫn có quyền hiện diện một cách trung thực và được dành cho sự kính trọng mà những người hiện hữu ngày hôm nay luôn luôn đòi được hưởng” (tr 18). Về một phương diện nào đó, ý kiến minh bạch của nhà phê bình hải ngoại đã bắt đúng mạch cảm nghĩ của không ít bạn đọc trong nước. Có vẻ như trên hình thức, ông giống với một số nhà phê bình trước đây không tán thành Nguyễn Huy Thiệp. Nhưng về thực chất, cách đánh giá Nguyễn Huy Thiệp của ông khác họ. Ở đây nữa, thực tế cũng chứng tỏ, không chỉ văn chương trong nước và văn chương hải ngoại, mà chính sự cảm thụ văn chương của nhiều cây bút phê bình người Việt trên nhiều báo chí hải ngoại, cũng có sự gặp gỡ với người phê bình trong nước – gặp gỡ trên đối tượng, hoặc gặp gỡ trong nhu cầu được cùng nhau bàn bạc, trao đổi về quan điểm phê bình. Phải chăng không thể coi đây cũng là một cách “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”?
7
Vậy thì, hãy nhìn trở lại xem cội nguồn của sự “thức tỉnh”, của xu hướng giao lưu, hòa hợp, trở về gốc, của văn chương người Việt hải ngoại là gì? Tôi nghĩ xét đến cùng, đó là cái hành vi mà trong đời một người, trước sau ai cũng có lần phải tính đến: sự đòi hỏi của lương thức bắt mình phải nghiền ngẫm, độc thoại để đi tìm lại căn cước của chính mình. Ta là ai, và ta đang đứng ở đâu giữa hành tinh này? Câu hỏi đó đã từng đặt ra với nhiều thế hệ nhân quần, thuộc nhiều vùng đất khác nhau, trước những cơn dông bão có tính chu kỳ của lịch sử. Nó đã đặt ra với Khuất Nguyên nước Sở thời Chiến Quốc, với Trần Tử Ngang thời sơ Đường, với nhà thơ Nguyễn Quang Bích Việt Nam cuối thời Cần Vương chống Pháp. Ở phương Tây, trên những cấp độ và bình diện khác, nó cũng đã từng đặt ra với Montaigne, với chàng Hamlet của Shakespeare và nhiều nhà tư tưởng thời Phục Hưng, thời Ánh Sáng…Trong vận hội của đất nước hôm nay, sau bao nhiêu biến cố có tầm nhân loại làm cho hàng loạt thần tượng bị đổ vỡ, hàng loạt hệ giá trị phải thay đổi, một lần nữa câu hỏi ở trên lại đặt ra cho rất nhiều con người Việt Nam đang đứng ở nhiều ngả đường khác nhau, mong chống chọi được với sự nghiệt ngã của thân phận để tìm một lối di chung. Căn cước mà tất cả mọi người Việt đang muốn tìm, dù đứng ở phía nào của giới tuyến, không có gì khác hơn là căn cước dân tộc. Tất nhiên, không ai hời hợt nghĩ rằng đây là chuyện màu da, quốc tịch, thậm chí cả giọng nói, ngôn ngữ. Nhưng gạt sang một bên tất cả những thứ ấy thì vẫn còn lại một điều quan trọng: dân tộc là cái khuôn ban đầu của cốt tính, là cái cuống nhau không bao giờ đứt đoạn với những tâm hồn. Mọi chế độ sẽ lần lượt đi qua nhưng dân tộc thì mãi mãi ở đấy – trong chỗ cùng thẳm của ý thức, như một câu thơ của Nguyễn Du: Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.
Khái niệm dân tộc mà linh hồn của nó là nền văn hóa mang đặc trưng riêng tích lũy từ bao nhiêu thế kỷ, như những hằng số của lịch sử cộng lại, sẽ giúp cho mọi con người một khả năng tự giải tỏa để trở lại đúng “bản lai diện mục” của mình, để mình khỏi trở thành một kẻ không thể gọi được tên, nói theo Camus: một “người xa lạ” (l’Étranger). Văn hóa của mỗi dân tộc lại phải đặt trong vòng ảnh hưởng của khí hậu và môi trường văn hóa khu vực mà dân tộc đó từng nhiều đời tiếp nhận, giao lưu, có thế mới hình dung ra được tầng tầng lớp lóp những mối dây vô hình đan chéo với nhau, gắn mỗi con người vào cội gốc. Và khi có ai đó đang đinh ninh rằng mình là một cánh chim tự do, họ có biết đâu từ trong tiềm thức và vô thức, tự tính và phi lý tính, họ đã mang nhiều thứ hệ lụy, buộc ràng, do lịch sử, gốc gác để lại. Những bản tình ca “tiền chiến” làm hồn ta say mê ngây ngất suốt mấy chục năm qua, dù lời hát cất lên ở một khung trời nào, phải chăng không vì chúng có khả năng đưa ta đến phút giây xuất thần, ngõ hầu quên lãng thân phận chàng Từ Thức của mỗi chúng ta trong hiện hữu để được trở lại làm một kẻ lãng tử đi tìm suối Đào Nguyên, hay đuổi theo hình bóng anh lái đò Trương Chi trên con sông tuổi thơ đã vĩnh viễn trôi vào dĩ vãng? Cũng giống như một nhân vật chạy bộ trong truyện của Võ Đình (Người Chạy Bộ) (28), sáng chiều chạy thể dục giữa những cánh đồng ngập tuyết, nhưng trước mắt anh ta, dám mây vẫn là đám mây vân cẩu, trong trí anh ta vẫn phảng phất hình ảnh “trong ngọc trắng ngà” của nàng Kiều, hay một chàng chinh phu “tuyết in sắc ngựa” trong Chinh Phụ Ngâm.
8
Nhưng cũng cần nói, căn cốt dân tộc là tiên thiên, nên trong nó có chỗ mạnh và chỗ yếu, có chỗ “hữu dư” và chỗ “bát túc”. Điều đó không có gì khó hiểu và dân tộc nào mà chẳng vậy. Trở về với dân tộc không có nghĩa là một lần nữa để cho cái khuôn dân tộc trong quá khứ áp đặt lên mình (cái khuôn đã in dấu lên tâm hồn mình từ thuở sơ sinh) và chính mình cũng tự nguyện buộc mình vào những nghi thức cổ xưa, những lễ “tụng ca”, “hiến tế thần linh”…chỉ để thỏa mãn cảm hứng vàng son về lịch sử. Đó lại cũng là một điều không thức ngộ khiến tự dẫn mình vào bế tắc, trong khi dân tộc không bao giờ chỉ có một hành trình từ hiện tại đến quá khứ; dân tộc nếu là một thực thể sống tất yếu sẽ vận động đi tới và đổi thay. Gắn với dân tộc chủ yếu là gắn với cái hàm lượng văn hóa chứa đựng tiềm năng “nghịch biến” từ quá khứ tới tương lai, chứ không phải với cái phần từng ràng buộc con người vào trong tâm cảm ức chế, làm người ta được an ủi nhưng cũng trì níu vào những mặc cảm cố hữu (sự ôn nghèo hỏi khổ, sự hận thù, đối nghịch…). Vì thế, trong giai đoạn hiện nay, khi xu thế của nhân loại đang hướng tới một thế giới an lành, tự do và dân chủ, không nên mặc cảm rằng tính dân tộc sẽ cản trở chiều hướng dân chủ của mọi người. Mâu thuẫn giữa dân tộc và dân chủ như nhà phê bình Đặng Tiến nêu lên (Hợp Lưu số 6) (29) là điều có thật. Nhưng cũng đã là một hiện thực mà ai cũng trông thấy, là nhiều dân tộc không muốn bị đào thải, đã cố sức vượt lên, khắc phục được mâu thuẫn để tồn tại và phát triển với một gia tốc mạnh mẽ hơn. Và phát triển, hướng tới dân chủ, tiến bộ, gia nhập vào thế giới hiện đại, nhưng hồn dân tộc thì vẫn còn.
9
Điều cần yếu, theo tôi nghĩ, trong xu thế hòa hợp, giao lưu hôm nay, giữa những người Việt trong nước với trong nước, và những người Việt trong nước với nước ngoài, trên cơ sở một sự trở về nguồn như đã nói, là phải cố gắng tìm ra một nguyên tắc chung mà nhiều người cùng chấp nhận. Nguyên tắc sống mấu chốt đó, đúng như cách dề xuất của nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến (30) khi ông vận dụng lại câu châm ngôn của Không Tử: “Quân tử hòa nhi bất đồng” (Luận Ngữ, Tử Lộ, 23). Tất nhiên cũng cần biết, hòa ở đây không có nghĩa như ta thường hiểu lâu nay, có phần cường điệu cái mặt ôn hòa, nhịn nhục. Hòa, trong tinh thần của Khổng Tử là sự kết hợp giữa những cái khác nhau về cơ bản. Có thể nói, không có gì khác nhau cho bằng con người. Con người sinh ra vốn đã là những cá thể không lẫn được với nhau. Khổng Tử đã nhận thấy điều đó khi ông nói: “Tam quân khả đoạt súy, sất phu bất khả đoạt chí” (Luận Ngữ, Tử Hãn, 26); nghĩa là: có thể cướp – đánh bại – được một vị nguyên soái của ba quân, nhưng không thể áp đảo được cái chí (cá tính, sở thích, ý hướng) của một kẻ thất phu. Chính vì nhìn con người từ bình diện cá thể, Khổng Tử hiểu rằng sự kết hợp các cá thể người trong một xã hội sao cho tốt đẹp là vô cùng khó khăn. Vậy thì, trên nguyên tắc, chỉ nên chấp nhận sự hài hòa trên những nét lớn, chứ không nên cưỡng bức để biến nhau trở thành đồng nhất. Phải để chừa một khoảng rộng rãi cho sự khác nhau, sự đa dạng. Dùng áp lực này nọ để biến cái đa dạng thành cái đồng nhất một cách đơn giản, thì ngay trong tiềm thức sẽ tạo nên một bản năng cưỡng chống và trong thực tiễn không tránh khỏi trở thành phe phái. Kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam cũng như của nhiều nước còn sờ sờ ra đấy. Đó là hành vi của bọn tiểu nhân chứ không phải của người quân tử (Khổng Tử cũng nói: Tiểu nhân đồng nhi bất hòa” – Luận Ngữ, Tử Lộ, 23).
Ý tưởng lớn lao của Khổng Tử toát lên trong câu nói của ông chính là như vậy. Trong quá khứ lịch sử của dân tộc ta, bằng nhận thức vô ngôn, chúng ta đã sống hòa hợp trong tinh thần đó. Chẳng thế mà thời Lý-Trần, “tam giáo đồng nguyên” – đúng hơn là ba hệ tư tưởng Phật, Nho, Đạo chung sống với nhau – đã góp phần đưa dân tộc ta tới cường thịnh. Chẳng thế mà, trong nhiều thế kỷ, chế độ phong kiến cực quyền vẫn không bóp chết được tinh thần dân chủ trong phạm vi làng xã, một thứ dân chủ nặng màu sắc “vô chính phủ”, “cá đối bằng đầu”, nhưng cũng giúp cho các bác đồ nho nghèo, những người bị gọi là gàn kiểu Phan Điện, Tú Xương, nhưng thân phận kém cỏi hơn Phan Điện, Tú Xương rất nhiều, vẫn có thể ung dung chiếm một góc chiếu đình làng, ngồi đọc các bài thơ châm chích cụ Bá ông Chánh một cách ngang nhiên, mà không sợ tai vạ. Trong khi đó, một cuốn Chân Dung Nhà Văn của thời buổi dân chủ hôm nay – chỉ mới là chân dung của “làng văn” thôi – vừa ra mắt bạn đọc đã phải chịu biết bao đôi co trong dư luận. Kể cũng là một thực tế khiến ta phải ngẫm nghĩ, “Hòa nhi bất đồng”, tôi muốn đem tinh thần đó để nhìn xu thế và triển vọng của sự hòa hợp dân tộc nói chung, hẹp hơn, là sự hòa hợp, giao lưu giữa văn chương Việt Nam hải ngoại với văn học trong nước.
NHC
____________
(19,20) Khi Tan Nắng, đã dẫn.
(21) Thế kỷ 21, số 11-1992.
(22) Văn, số 11, tháng 2-1992
(23) Văn Uyển, số Xuân 1992.
(24) Làng Văn.
(25) Tập thứ nhất “Un général à la retraite”, Edition de l’Aube, Paris, 1990. Tập thứ hai “Le coeur du tigre” mới dịch xong nửa cuối năm 1993, chưa rõ tên nhà xuất bản.
(26) Nguyên văn tiếng Ý: II generale in pensione do Hướng Thiện dịch. Erostudio, Torino, 1990.
(27) Hợp Lưu số 4, tháng 4-1992, và tập truyện Cái Chết Sau Quá Khư, Nxb Hồng Lĩnh, 1993. Xem thêm Nguyễn Mạnh Trinh “Đọc Cái Chết Sau Quá Khứ”, tập truyện Trần Vũ, Hợp Lưu số 12, tháng 8-1993.
(28) Hợp Lưu số 6.
(29) Bài Dân Tộc và Dân Chủ (Hợp Lưu số 6-1992).
(30) Trong bản tham luận tại cuộc hội thảo “Văn Hóa và Phát Triển” do UNESCO tổ chức tại Hà Nội năm 1992.