Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

nghĩa trang của loài ma

♦ Chuyển ngữ: 0 bình luận ♦ 6.04.2022

 

Eugenia Kononenko – Євгенія Кононенко sinh năm 1959 ở Kyiv, thủ đô Ukraine. Bà học ngành toán và cơ khí tại Kyiv và sau đó học ngữ văn Pháp tại Đại Học Sư Phạm Ngoại Ngữ. Bà là tác giả của nhiều truyện ngắn, truyện thiếu nhi, thơ, tiểu thuyết và bình luận. Bà cũng chuyển ngữ nhiều tác phẩm từ tiếng Anh và tiếng Pháp. Năm 1993, bà đoạt giải Zerova cho công trình dịch thuật thơ sonnet Pháp từ một thi tuyển. Tác phẩm của bà đã được dịch sang các thứ tiếng Nga, Anh, Pháp, Đức và nhiều ngôn ngữ khác. Truyện ngắn Nghĩa Trang Của Loài Ma được dịch từ bản Anh ngữ của Patrick John Corness trong tạp chí  Ukranian Literature – Volume 6, 2012.

 

EUGENIA KONONENKO

Ngôi nhà trông ra biển cả lúc nào cũng như đang nổi cơn cuồng nộ, ở ven vùng thảo nguyên nắng cháy, và rộng thênh thang một cách kệch cỡm. Tôi đã từng sống trong ngôi nhà đó trong thời kỳ Xô-viết đã xa lăng lắc, trong lúc ở Ukraine thường ba bốn người phải chen chúc với nhau trong một căn phòng. Thuở đó, nếu một cặp vợ chồng có được một phòng riêng là đã được coi như may mắn lắm rồi. Thế mà bỗng dưng tôi lại được ở một nơi mà phòng còn nhiều hơn người. Ngôi nhà này không có những gian phòng chắp vá trông chướng mắt như vẫn thường thấy ở những khu nghỉ mát trong vùng Crimea. Quay ra hướng biển, ngôi nhà đã được xây dựng với quy mô lớn ngay từ lúc ban đầu.

Các bậc tam cấp trơn trợt dẫn ngay xuống biển, không có bờ bãi nào bên dưới. Những đợt sóng bạc đầu vỗ vào các ghềnh đá sắc nhọn, vây quanh một cách đầy đe doạ bất cứ người nào dám mạo hiểm tiến ra xa. Nơi duy nhất mà bạn có thể trải xuống một cái chiếu nhỏ nằm ở tít trên cao, sát tận rìa của mỏm đá. Chủ nhân của ngôi nhà, một viên kỹ sư xa lộ, thường ra khỏi nhà trước lúc hừng đông. Ông ta có thể lái xe chở bạn đến bãi biển trong làng trên đường ông đi làm. Nhưng bạn vẫn phải đi bộ về lại nhà, có nghĩa là phải đi hàng mấy cây số dưới ánh mặt trời gay gắt.

Đây là kỳ nghỉ mát ven biển thú vị nhất của tôi. Ngay cả những lúc trời không có gió, biển cả dưới kia vẫn luôn hoang dại, không gì kềm hãm nổi. Sóng va tung toé vào các mỏm đá lởm chởm, vào đến tận mép rìa của ghềnh đá, nơi ngôi nhà tuyệt diệu này toạ lạc. Tôi không nhớ là có một khu vườn nào ở đó chăng. Tôi chỉ biết chắc là có khá nhiều cây cối. Nhưng tôi nhớ rất rõ gian phòng khách rộng lớn không có cửa sổ, với vỏn vẹn cái trần nhà bằng kính. Và rất nhiều cửa dẫn sang các gian phòng kế cận, sơn phết đủ màu.

Con gái ông chủ nhà sống ở Simferopol. Con trai ông là một người tật nguyền. Anh ta di chuyển trong nhà trên chiếc xe lăn hay bằng đôi nạng. Anh là một thanh niên dễ nhìn, tóc dài, trạc ba mươi tuổi. Đôi chân anh trông yếu ớt, nhưng không đến nỗi dị dạng khó coi, hay ngắn ngủn như chân của nhiều người dị tật tôi vẫn thường thấy ở vùng duyên hải Crimea này. Anh chỉ không thể điều khiển chúng một cách trọn vẹn mà thôi.

Người con trai chiếm nhiều phòng trong ngôi nhà của cha mình. Tôi chưa bao giờ bước vào phòng ngủ của anh ta và cũng không biết cánh cửa phòng đó màu gì. Anh có mời tôi vào phòng đọc sách, nơi có những vuông cửa sổ trông ra hướng bắc, về phía thảo nguyên, và cửa phòng thì màu tím. Hay phòng làm việc của anh ta, với cửa màu đỏ và cửa sổ hướng về phía biển, nơi trên tường có những bức hoạ phong cảnh thành thị.

“Tranh vẽ biển thì có ích lợi gì cho tôi chứ?” anh hỏi. “Còn biển lúc nào cũng ngay trước mắt tôi. Tôi không biết đến bao giờ mình sẽ được ra chốn đô thành. Khi ngoài cửa sổ trời đã tối, tôi sẽ đi lang thang khắp những thành phố đó. Cho đến khi hai chân tôi ướt đẫm.” Anh hất đầu về phía bức tranh sơn dầu vẽ một thành phố trong mưa.

“Thành phố nào vậy?” Tôi hỏi.

“Tôi cũng không biết. Điều đó không quan trọng. Nhưng tôi biết rất rõ những gì gần khúc quanh trên con đường đó, cả những gì trong sân của những toà nhà kia. Tôi nhìn qua cửa sổ cho đến khi mặt trời lặn. Ở thảo nguyên, hay ngoài biển cả. Chẳng phải là một sự trùng hợp nào khi phía dưới kia, ven theo mặt biển, không có một cái hồ tắm nào được phép xây cất, bên tả cũng như bên hữu, suốt hàng mấy cây số. Làm như vậy là để du khách đến nghỉ mát đừng đến nơi này. Trừ những ai chúng tôi dích thân mời đến. Không có cả bãi biển, vì đằng kia,” Roman—tên người thanh niên—chỉ về phía ven vùng thảo nguyên, “là nghĩa trang của loài ma.”

“Nghĩa trang của loài ma? Ý anh muốn nói gì?”

“Tận đằng kia, kế bên thảo nguyên, có một nghĩa trang lớn của những hồn ma. Có lẽ đây là nghĩa trang lớn nhất trên thế giới.”

“Có thật là ma cũng có nghĩa trang à? Đó là một khu vực kỳ bí hay sao?”

Roman không trả lời những câu hỏi dồn dập của tôi, nên tôi hỏi thêm một câu nữa, “Thế thì những hồn ma nào được chôn cất trong cái nghĩa trang đó?”

“Đây là một câu chuyện tôi đang viết. Nhưng không phải là bằng tiếng Nga,” anh nói câu sau bằng một giọng thì thào.

“Vậy thì bằng tiếng Ukraine à?” tôi lại hỏi.

Roman và tôi nói với nhau bằng tiếng Nga.  Nhưng thư viện rộng lớn của anh chất đầy sách báo bằng tiếng Ukraine. Ở Kyiv, tôi biết rất nhiều người nói chuyện bằng tiếng Nga nhưng làm thơ bằng tiếng Ukraine.

“Không, tôi viết bằng một ngôn ngữ riêng,” Roman nói với một nụ cười bí hiểm, phác một cử chỉ trong không khí.

“Ngôn ngữ nào?”

“Cô là chuyên viên lập trình phải không? Tôi chắc là cô biết, ngoài Fortran và PL, người ta có thể lập ra những chương trình bằng mật mã.”

“Đúng thế. Tôi thì không làm được việc đó, nhưng chỗ tôi làm có nhiều người lập trình bằng mật mã lắm.”

“Tất nhiên là có mật mã cho ngôn ngữ tự nhiên nữa chứ.”

“Các mật mã đó có đồng nhất đối với mọi ngôn ngữ không?”

Roman gật đầu, hai mắt anh sáng hẳn lên. Hồi giờ tôi chưa thấy mắt ai ngời sáng với niềm phấn khích dạt dào như thế.

“Vậy anh biết thứ… thứ… ngôn ngữ nguyên thuỷ đó à?”

“Sống bao nhiêu năm tháng giữa biển cả và thảo nguyên, lại gần kề một nghĩa trang của những hồn ma, chưa bao giờ đặt chân đến nơi nào khác, cô sẽ biết tất cả những gì mình muốn biết.”

Lúc đó tôi mới nhận thấy rằng không chỉ có đôi chân của Roman là bị tật nguyền, và tôi đâm hoảng. Tôi không dám hỏi mật mã của ngôn ngữ nguyên thuỷ đó được viết bằng những ký tự gì. Tôi sợ anh ta sẽ đưa cho tôi xem. Cũng may là nữ chủ nhân của ngôi nhà, mẹ của Roman, một người đàn bà hết sức thân thiện và mềm mỏng, lúc nào cũng quanh quẩn gần đâu đó. Bà thường vào phòng đọc sách hay phòng làm việc, nơi tôi và Roman gặp nhau, mang theo bình nước trái cây ướp lạnh hay chai rượu chát hạng nhẹ. Người đàn bà ấy khiến ai cũng thấy hết sức vững lòng. Dẫu con trai bà có loạn trí đi nữa, sự có mặt của bà cũng bảo đảm được anh ta sẽ không gây rắc rối gì.

Trong bữa ăn tối, Roman lại nhắc đến nghĩa trang của loài ma, và chủ nhân ngôi nhà, viên kỹ sư xa lộ, bảo rằng ông ta sẽ đưa tôi đến đó vào một ngày nghỉ của mình, vì nghĩa trang đó rất gần.

“Đó là cái gì vậy?” Tôi lặp lại câu hỏi của mình. “Một khu vực kỳ bí?”

“Là một nghĩa trang của những hồn ma,” ông kỹ sư đáp. Tôi liếc nhìn bà chủ nhà và thấy bà gật đầu đồng ý—phải đó, nghĩa trang của loài ma.

“Để hôm nào có ngày nghỉ, chúng ta sẽ đi đến đó, rồi cô sẽ tận mắt thấy chỗ ấy như thế nào.”

Lúc xẩm tối thứ Bảy, khi ánh mặt trời chói chang đã chìm tắt, ông kỹ sư nhắc tôi về lời mời của ông ta. Tôi hỏi Roman có cùng đi không. Ông bảo chiếc xe tải của ông chỉ đủ chỗ cho một người ngồi bên cạnh, vả chăng Roman vẫn thường xuyên đi đến đó. Thế là chỉ có hai chúng tôi đi. Lái xe đến trung tâm của bán đảo chẳng mất bao lâu —chỉ độ mươi, mười lăm phút. Chúng tôi dừng lại giữa thảo nguyên. Thoạt đầu, tôi không để ý thấy gì cả ngoài một cái trụ nằm trên đám cỏ úa bất động, vàng héo. Nhưng ông bố của Roman đẩy nhẹ tôi về hướng của một cái hố khổng lồ. Tôi bước lần xuống triền dốc thoai thoải. Gió thổi mạnh, rền rĩ vào hai tai tôi. Trong cái thinh lặng chết chóc của thảo nguyên, điều này lại càng đáng kinh ngạc hơn. Tiếng gió vang rền dưới hố khiến tôi muốn phát điên, vô cùng hoang mang.

“Đừng sợ,” ông bố của Roman trấn an tôi.

Nếu không vì giọng nói tự tin của người đàn ông, chắc tôi đã hoảng sợ lắm. Hai tiếng “đừng sợ” của ông chắc nịch đến nỗi tôi bước liền mấy bước qua mặt đất nóng bỏng, lún xuống theo từng bước chân, tuy rất nhẹ mà tôi vẫn cảm thấy được. Tiếng kêu rêu càng lúc càng lớn trong tai tôi, và tôi chợt cảm thấy háo hức muốn tiến tới xa hơn để khám phá nghĩa trang của các hồn ma.
 
“Roman có kể cho tất cả những người khách của ông về chỗ này không?”

“Tôi không nhớ là nó đã kể cho ai nghe cả. Cô thấy đó, nó tin cô lắm mới làm thế.”

“Cậu ấy đang viết một cuốn sách về nghĩa trang này phải không?”

“Không phải là một cuốn sách, mà nó cũng chẳng viết lách gì cả; tuy nhiên, đúng là nó đang sáng tạo một điều gì đó. Mẹ nó bảo khi tôi đi làm, nó thường ngủ cả ngày, rồi tối mới thức dậy và chúi mũi vào đọc lấy đọc để trong phòng làm việc.”

Tôi không dám đánh bạo hỏi thế nào là “Không phải là một cuốn sách, mà nó cũng chẳng viết lách gì cả.” Tôi được đưa đẩy đến một điều bí mật kỳ quái mà vẫn chưa hiểu đầu đuôi ra sao cả.

“Mỗi lần Roman và tôi đến đây, hai bố con lại ngồi trên khối đá nóng hổi này. Rất tốt cho cặp chân yếu ớt của nó,” ông kỹ sư nói, chỉ về phía cái trụ nằm lăn lóc gần đó.

“Tại sao cái trụ này lại nằm ở đây?” Tôi vừa hỏi vừa cúi xuống sờ vào khối đá.

Ông kỹ sư nhún vai.

“Roman nói rằng nó là phần còn lại của một cái cổng vào.”

“Vậy ra trước đây chỗ này có một bức tường hay sao?”

“Roman sẽ kể thêm cho cô nghe về chuyện này. Nó bảo là đã có cổng vào rồi thì không cần tường làm gì.”

Thế rồi buổi tối cuối cùng của tôi trong căn nhà kỳ lạ này đã đến. Từ vùng tối đen bên ngoài cửa sổ vọng vào một âm thanh; đó là từ biển cả, hoặc có lẽ là từ thảo nguyên, hay là tiếng than van từ nghĩa trang của các hồn ma trong đêm vắng lặng như tờ? Lẽ ra tôi phải sợ âm thanh đó, nhưng tôi nhớ là mình đã bị nó làm mê hoặc đến dường nào. Sáng mai, lúc hừng đông—cũng có lẽ là hôm nay, ngay lúc này—tôi sẽ rời khỏi nơi đây.

“Cô đã thu xếp hết hành trang chưa? Cô hãy khoan đi ngủ đã, vì cô vẫn chưa nghe được những âm thanh ban đêm ở nơi này. Cô sắp ra đi, và tôi lại ngủ suốt ngày, rồi đến đêm tôi mới làm những điều tôi đã kể cho cô nghe. Phải nổ lực lắm lắm— cô không thể tưởng tượng được đâu.”

“Nhưng, Roman này, nếu anh có ý muốn nói đến cuốn sách viết bằng một thứ ngôn ngữ của thiên đàng, của các thiên thần, hay một ngôn ngữ nguyên thuỷ, thế thì chẳng lẽ anh không nghĩ rằng những cuốn sách như vậy cũng đã có rồi hay sao? Và các tác giả đã chẳng tái tạo ra chúng bằng chính ngôn ngữ riêng của họ thay vì viết ra bằng chữ nghĩa ư?”

Mắt của Roman lại sáng lên, đầy vẻ hân hoan. Có lẽ vì người đang nói với anh ta đã nhắc đến điều vẫn làm anh bứt rứt nhất. Với tay lấy đôi nạng phía sau chiếc xe lăn, anh ta đứng lên, đi vài bước về phía tôi đang đứng.

“Thế này nhé. Cô nhìn đây.” Roman chỉ vào những kệ sách. “Trong số những cuốn sách này không có mấy cuốn là được chụp lại từ trên đó. Nhưng dù sao cũng có được vài cuốn. Chẳng hạn như cuốn này.” Anh ta đưa tôi một cuốn sách nhỏ; tôi nghĩ đó là một bản dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Ukraine. “Tôi có cảm tưởng như thế này, mặc dù nó chỉ là một dịch phẩm: Người nào đó đã dịch cuốn sách này hẳn phải biết đó là một nguyên tác hay được chụp lại từ trên Trời xuống!”

“Dĩ nhiên là như thế, hầu hết các nhà văn không thể tìm được những cuốn sách vượt thời gian này.”

“Văn bản chứ không phải là sách—Cô phải dùng chữ cho đúng chứ,” Roman sửa lại, lộ vẻ khó chịu.

“Vâng, phải rồi. Thế thì chúng chưa phải là sách. Còn trên trái đất này, sách hay quá đỗi hiếm hoi. Nhưng trong ngôi nhà tuyệt vời của anh, chúng ta có thể tìm đến những thư viện trên thiên đàng. Tôi chưa từng có những giấc mơ nào như thế, ở bất cứ nơi đâu; bây giờ tôi mới hiểu…”

Tôi chợt dứt lời, nhảy nhổm lên vì một tiếng động mạnh. Đôi nạng của Roman đổ nhào xuống nền nhà. Anh ta đứng trước mặt tôi, trông như một nhà tiên tri, mặc dù anh đang mặc sơ-mi và quần jeans thay vì một cái áo choàng chấm đất. Mái tóc dài của anh, ánh mắt cuồng nhiệt của anh—tôi chưa hề thấy ánh nhìn đó trên gương mặt của ai trên cõi đời này như vậy cả, cho dù đó là niềm hứng khởi hay sự điên loạn, cảm xúc đến cường độ như thế—không, chỉ có thể thấy trong những bức hoạ nổi tiếng trên thế giới mà thôi. Roman khó nhọc lê từng bước về phía tôi, nói với giọng khàn đặc:

“Này, tôi không có chụp lại một văn bản vượt thời gian nào đâu nhé! Tôi đang sáng tạo ra nó đó! Khi tôi đã hoàn tất công việc, tôi sẽ bị cạn kiệt! Nó sẽ rút hết sinh lực của hai cánh tay tôi, cổ họng tôi và khả năng dùng ngôn ngữ loài người của tôi!”

Rồi chuyện gì xảy ra sau đó? Bà mẹ hớt hải chạy vào phòng, đỡ xốc lấy hai cánh tay của Roman cho anh khỏi ngã, còn tôi lúng túng không biết phải làm gì. Bà kéo anh ngồi xuống ghế, tôi cũng vội cầm đôi nạng của anh lên, nhưng bà mẹ đã lên tiếng, giọng nhẹ nhàng mà cương quyết:

“Cô về phòng ngủ đi. Ngày mai cô lên đường rồi.”

Ngày hôm sau, lúc rạng sáng, bà mẹ ra tiễn tôi đi. Bà cho tôi một ít bánh ngọt và một hũ mứt trái cây nhỏ để tôi dùng trong chuyến đi. Ông kỹ sư xa lộ chở tôi vào làng, đỗ tôi xuống đứng chờ ở trạm xe buýt để về lại Simferopol.

Tôi không bao giờ trở lại ngôi nhà đó nữa. Tôi cũng không hề có dịp gặp lại em gái của Roman mà tôi đã gặp gỡ trong lớp lập trình máy điện toán. Cũng nhờ cô ta mà tôi mới được đến ở trong ngôi nhà cheo leo trên vách đá miền Crimea. Không còn lại dấu vết gì chứng tỏ tôi đã ở đó—không một món quà lưu niệm, không hình ảnh. À, không, nói vậy cũng không đúng. Thật ra tôi đã có một kỷ vật, hay còn hơn thế nữa. Roman cho tôi biết anh ta luôn luôn tặng khách mời một cuốn sách trong thư viện của anh ta. Khách được quyền chọn cuốn mình thích. Không do dự, tôi đã chọn thi tập của Marina Tsvetaeva. Vào thời ấy, giá chợ đen của cuốn sách đó còn nhiều hơn là lương hằng tháng của tôi.

“Cho tôi cuốn này nhé?” Tôi hỏi.

“Cô lấy đi,” Roman đáp, nhún vai một cách hờ hững. Tôi nhận cuốn sách rồi cất vào va-li của mình. Trong lúc đứng ở trạm chờ chuyến xe buýt đi Simferopol, tôi lấy cuốn sách ra xem. Trong góc của một trang sách, tôi để ý thấy hai ký tự viết thật nắn nót bằng mực tím. Chúng không phải là chữ Armenia hay Georgia, cũng không phải là chữ Do Thái hay Ấn Độ, không phải là chữ Bengal, chữ Hán, chữ Nhật hay chữ Hàn. Chúng là những chữ từ cảnh giới thiên đàng, thuộc ngôn ngữ mẹ của tất thảy ngôn ngữ dưới trần gian. Roman, con trai của viên kỹ sư xa lộ, đã dùng những ký tự đó để ghi lại tác phẩm nói về nghĩa trang của các hồn ma. Nếu như anh thành công trong sự sáng tạo này, với bao nhiêu công sức không bút nào tả xiết, thì chắc có lẽ trong nhiều năm tháng về sau sẽ có một nhà văn may mắn chụp được công trình này từ các văn bản trên trời, rồi ghi chép lại bằng một ngôn ngữ thế tục nào đó.

 

Nghĩa Trang sơn dầu trên gỗ của họa sĩ Ukraine Gleb Mukha ГЛЕБ МУХА  (1996-  )

Nghĩa Trang sơn dầu trên gỗ của họa sĩ Ukraine Gleb Mukha ГЛЕБ МУХА  (1996-)

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Đăng nhập | Entries (RSS) | Comments (RSS)