Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Ngày 30 tháng Tư, Phỏng vấn Email bài này

Phan Ni Tấn: An Định Hoàn Cảnh Mới

Lưu Diệu Vân: Dù muốn dù không, chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng biến cố 30 tháng Tư đã tạo nên những ranh giới vô hình: ranh giới thời gian giữa văn chương trước và sau 1975, cũng như ranh giới không gian trong và ngoài nước. Theo ý riêng của tác giả, biến cố này đã (và đang) đem lại những ràng buộc hay tháo gỡ nào trên nền văn học Việt Nam. Và nếu không có biến cố này, văn phong/đề tài/ý thức trong sáng tác của tác giả sẽ khác với bây giờ không, và nếu có, khác như thế nào?

Tôi cho rằng văn chương trước và sau 75 là giai đoạn phân hóa. Khởi từ 30 tháng 4/1975 ròng rã cho đến ngày nay, nghĩa là 41 năm sau, ý thức nghệ thuật trong văn chương đã có những dấu hiệu, nhiều triệu chứng thay đổi không ngừng tìm kiếm, mở lối, làm khác đi cho một giai đoạn mới tùy theo khả năng sáng tạo của nghệ sĩ.

Như vậy, sau cơn bão thời thế, ảnh hưởng của thời cuộc sự phân hóa còn bao gồm một cơ hội, một đường lối chủ trương tập trung những khả năng sáng tạo, nỗ lực khám phá con đường văn học nghệ thuật.

Nếu lướt qua tình hình văn học trong nước vào thời kỳ đầu thì tôi có thể nhận thấy vài vấn đề như sau:

Sau biến cố tháng tư 1975, văn chương miền Bắc ồ ạt đổ vào miền Nam trong khi mùi thuốc súng vẫn chưa tan biến, sự chiến thắng vẫn còn ngây ngất và tiếng oán than của người thua cuộc vẫn chưa lắng dịu. Trong giai đoạn này, thành phần văn nghệ sĩ "phản Cách mạng" đều bị bắt đi tù cải tạo trong khi các tác phẩm văn chương nói chung của miền Nam đều bị tịch thu, chất thành đống và đốt sạch; để thế vào đó là những sản phẩm tuyên truyền cố hữu của Cộng sản miền Bắc.

Sau cái gọi là cuộc trường kỳ kháng chiến, biến động lịch sử càng tác động mãnh liệt vào tâm hồn người Cộng sản cầm bút. Tôi nghĩ rằng viết văn theo sự chỉ đạo của Đảng và Nhà Nước thì dù có cố gắng biết mấy giới văn nghệ sĩ miền Bắc cũng không phải là những người biết tạo nên cái đẹp, mà chỉ là những kẻ dùng ngòi viết để phục vụ vô điều kiện cho dân cày, cho lao động và tranh đấu cho giai cấp của chế độ chớ không hề đứng lên tỏ rõ thái độ. Tâm trạng của những người nghệ sĩ sau khi dự lớp Chỉnh Huấn nhằm rèn luyện tư tưởng và đạo đức con người, khi vào Nam cùng đoàn quân giải phóng, phần lớn đều là những thành phần còn bỡ ngỡ trước cuộc đời mới, miền đất mới từ thôn quê tới thành phố mới, cho nên từ hầm hố, từ dưới lá trồi lên, đối mặt với bất cứ việc gì trong cuộc sống hoàn toàn mới lạ họ cũng bắt đầu bằng những hành động đơn giản nhất, thô thiển nhất, vụng về nhất, như một thói quen, để rồi chỉ biết thể hiện những ngỡ ngàng, thấp thỏm, băn khoăn, ẩn ức trong phạm vi từ tư tưởng sanh hành động.

Vì vậy giá trị sáng tác của họ trong giai đoạn sơ khai, dù cố xây dựng một cách tận tụy trung thành cái hình tượng nhân văn tiêu biểu có kỹ thuật cao, nhưng rốt cuộc cũng chỉ đóng khung trong khuôn khổ khô khốc, cằn cỗi của ngành chỉ đạo.

Tôi không biết vào thời kỳ hỗn độn này người ta có tò mò đọc Cù Lao Tràm, Đứng Trước Biển của Nguyễn Mạnh Tuấn, Thời Xa Vắng của Lê Lựu, Một Cõi Nhân Gian Bé Tí của Nguyễn Khải, Cao Nguyên Mưa Nắng của Bút Ngữ, Ngôi Trường Đi Xuống của Vũ Hạnh, Đèo Mưa Bay của Triệu Bôn v.v. hay không. Điều đáng tiếc là những loại sách báo này, hoặc được vội vàng chuyển vào Nam hoặc được in một cách hối hả bằng lối in bình dân rẻ tiền của thời kỳ "đồ đá", nghĩa là giấy bìa và ruột đều mỏng dính và vàng ố. Nó không có mùi thơm của mực in. Nó không có tiếng động ngọt ngào, êm ái của tờ giấy mỗi khi lật sang trang. Nó không có màu trắng của loại giấy trắng thường có ở miền Nam nước Việt.

Tôi có thể nói thêm văn học miền Bắc thời hậu chiến còn có sự trợ giúp đắc lực của nhạc điệu cách mạng mang âm hưởng tuyên truyền, cổ động, sắc máu từ người anh em láng giềng phưong Bắc. Suốt một thời gian dài sau khi thôn tính miền Nam Việt Nam, nhân dân cả nước đều khổ muốn phát điên vì bị tra tấn ngày lẫn đêm bởi loại nhạc cách mạng này.

Tôi hiểu rằng nhạc cách mạng của Cộng sản cũng như chiến đấu ca của Việt Nam Cộng Hòa đều có tác dụng làm thức dậy lòng yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân. Tiếng hát giữa sa trường là tiếng hát tạo thêm sức mạnh cho tinh thân binh sĩ nhưng cũng là tiếng hát khốc liệt nhất, man rợ nhất và thê thảm nhất. Có điều đó là âm nhạc thời chiến, tiêu biểu cho một cuộc chiến thì được. Thời bình mà suốt ngày, dù không muốn cũng phải nhét vài tai loại nhạc sắc máu này thì còn gì là… con người.

Nhưng cũng từ đó, theo thời gian, may mắn thay, từ những khắc khoải của lớp thanh niên trí thức, tới thái độ của họ trong xã hội, họ đã không ngừng bộc lộ chủ trương theo quan niệm chứng nhân thời đại bằng cách thể hiện nhiều loại hình sống, ngôn ngữ sống khác hẳn những giọng điệu tuyên truyền trước kia. Từ Thái Bá Tân, Nguyễn Xuân Nghĩa, Trần Vàng Sao tới Đỗ Trung Quân, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Quang Lập, Phạm Thanh Nghiên, Tạ Phong Tần, Huỳnh Thục Vy… Họ là những người viết có tài, sau một thời gian dài bị quá nhiều dồn nén, đều thành công phần nào nói lên tiếng nói khẳng khái của con người thời đại. Sự kiện này, dù chỉ là những cơn sóng nhỏ nhưng rạt rào đã cựa mình tạo nên những tác phẩm giá trị chứa đựng quan niệm nhân sinh cho làng nghệ thuật đương thời.

Tóm lại, qua những sự kiện văn chương nghệ thuật hiện nay trong và ngoài nước – đặc biệt là ở ngoài nước – thì đó rõ ràng là biến cố nói trên không thành công đem lại những ràng buộc từ cái cũ đã có trước 1975. Ngược lại, chính biến cố đầy bi thảm này đã tạo ra những cố gắng để an định hoàn cảnh mới, ra sức tháo gỡ, loại bỏ những ảnh hưởng cũ để dành quyền tự do sáng tác làm mới cho nền văn học Việt Nam.

bài đã đăng của Phan Ni Tấn

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)