Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Cain và Abel vs. sử thi Yang Yăng Yâng xứ Bù A Đà La (III)

tiếp theo phần 2

III

Các mối quan hệ trong sử thi Yang Yăng Yâng ngày càng phức tạp. Có thể tóm tắt sơ bộ thế này:

+ Gộc Tre Già quan hệ với Hang Chữ Thập đẻ ra Cánh Cổ (trai), Ổ Bẹn (trai), Căn Cốt (trai), Tả Thủ (gái), Hữu Thủ (trai), Đức Tâm (gái), Nhẫn Nhục (gái); Bị Can (trai), Hoang Phế (gái), Tiều Tụy (gái),

+ Gộc Tre Già quan hệ với Hà Ngọc Hồ Lôn đẻ ra Xì Xì Cà Phụt (gái);

+ Gộc Tre Già quan hệ với Hoa Diện Phấn Bì đẻ ra Ô Ba Ma Ma (gái);

+ Cánh Cổ quan hệ với Hà Ngọc Hồ Lôn đẻ ra Ngô Đồng Cục Cưng (trai, dị tính phóng túng [tức là heteroflexible]);

+ Cánh Cổ quan hệ với Xì Xì Cà Phụt sau này đẻ ra Phong Nguyệt Cảm Hoài (đồng tính nữ);

+ Ổ Bẹn quan hệ với Hà Ngọc Hồ Lôn sau này đẻ ra Tình Sâu Đức Yếu (đồng tính nam); Cán Cân (trai), Hấp Tinh (gái);

+ Ổ Bẹn quan hệ với Nhẫn Nhục đẻ ra Đoạn Vĩ (gái) – vụ này cực kỳ kinh khủng;

+ Căn Cốt quan hệ lén lút với Xì Xì Cà Phụt sau đẻ ra Bạch Túc (gái), Hắc Túc (trai);

+ Hữu Thủ quan hệ với Hấp Tinh sau đẻ ra Hậu Đạo (gái);

+ Ngô Đồng Cục Cưng quan hệ với Đoạn Vĩ sau đẻ ra Thu Nguyệt Đoàn Thương (lưỡng tính);

Và còn nhiều quan hệ phức tạp khác nữa, không thể kể hết được.

Còn Gộc Tre Già cũng không dừng lại ở người đàn bà thứ năm là Hoa Diện Phấn Bì, dù người này tài sắc vẹn toàn lại còn có tài lạ là trung tiện thơm như mùi mít chín mà lại còn phát ra đủ loại âm thanh của sấm, sét, sư tử, mèo, chó, dê. Có điều vì nàng quá đa tài đa sắc nên không được chữ thọ, sinh xong bé gái Ô Ba Ma Ma một thời gian thì mất, để lại trong Gộc Tre Già lòng tiếc thương vô hạn.

Khi về già trong một lần Gộc Tre Già ốm nặng, cậu cả Cánh Cổ chăm sóc lau rửa cho cha đã phát hiện ra trên ngực ông có tới 35 vết sẹo lớn, làm cho ngực ông méo mó dị hình, trông tội nghiệp đến cùng cực. Ông nói đáng lẽ còn có vết sẹo thứ 36 nhưng một sự kiện bí hiểm xẩy đến đã làm ông tỉnh trí. Sau sự kiện đó ông ngồi soạn ra những bài giảng về đạo đức hay tuyệt trần thế. Đầu tiên khi nghe các bài giảng ấy các con cháu ông đều nhất nhất vô cùng phản đối. Họ nói rằng ông quá ích kỷ, ăn chơi tơi tả tĩ tã chán rồi chắc bây giờ liệt dương bỗng dưng bầy trò cản mũi kỳ đà, giở mặt như kỳ nhông. Họ đã nguyền rủa ông.

Nhưng, họ đã không biết lòng ông.

Kỳ thực trong những ngày tháng cuối đời đầy sáng suốt ông đã tính kế dùng tới đạo đức để cứu rỗi cho con cháu ông, tức là cả loài Người. Thế mà…

Âu cũng là bi kịch nối tiếp bi kịch vậy.

Mải mê mãi thì cũng phải có lúc biết dừng.

Đừng có mà lừng khừng!

Cứ theo như sử thi Yang Yăng Yâng nói thì sau khi có những kinh nghiệm vô giá trong cuộc đời trần tục “giữa bầy sói” Gộc Tre Già đã soạn ra một bộ kinh bổn hết sức kỳ khu về một vấn đề vô cùng hệ trọng đối với giống Người: ĐẠO ĐỨC.

Xin được trích ra đây những câu hay ho trong pho tri thức “bất tức” ấy. Có những câu rất tuyên ngôn:

Âm Đạo khả Âm Đạo phi Thường Đạo; Dương Đức khả Dương Đức phi Thường Đức.

Những câu sau thì diễn biến lắm:

– “Không” là cái bản thủy của trời đất; “Có” là mẹ sinh ra muôn vật.

Cho nên, tự thường đặt vào chỗ “không” là để xét cái thể vi diệu của Thường Đạo, tự thường đặt vào chỗ “có” là để xét cái dụng vô biên của nó.

Hai cái đó (không và có) cũng từ Thường Đạo ra mà khác tên, đều là huyền diệu; huyền diệu rồi lại thêm huyền diệu, đó là cửa của mọi biến hóa kì diệu.

Cho nên phải xem Thường Đạo là cái Âm Đạo vĩnh viễn nếu như ta muốn nhìn cái huyền diệu của Thường Đạo; lại phải xem nó là cái Dương Đức vĩnh viễn nếu như ta muốn nhìn cái biểu hiện của nó.

Cả hai cái Âm Đạo và Dương Đức này cùng xuất hiện với nhau, mà tên gọi khác nhau; hiện tượng cùng xuất hiện này gọi là cái Huyền Diệu.

Đó là cái huyền diệu của sự huyền diệu, nên gọi là Huyền Huyền Diệu; là cái cửa để bước vào mọi cái huyền diệu khác, nên càng phải gọi nó là Huyền Huyền Huyền Diệu.

– Ai cũng cho điều thiện là thiện, do đó mà phát sinh ra quan niệm về cái ác; ai cũng nghĩ tới cái lời, nên mặc nhiên cái lỗ đã có rồi, cho nên Âm Đạo thường tìm đến Dương Tặc và ngược lại.

Là vì:

lỗ và lời sinh lẫn nhau;

dễ và khó tạo nên lẫn nhau;

ngắn và dài làm rõ lẫn nhau;

cao và thấp dựa vào nhau;

âm và thanh hòa lẫn nhau;

trước và sau theo nhau.

Những biểu hiện của Dương Tặc dù to lớn đến đâu đều tùy theo Âm Đạo; vì Âm Đạo là bản thể của Dương Tặc, Dương Tặc là tác dụng của Âm Đạo.

Âm Đạo là:

cái chỉ mập mờ, thấp thoáng, thấp thoáng mập mờ mà bên trong có hình tượng;

mập mờ thấp thoáng mà bên trong có vật;

nó thâm viễn, tối tăm mà bên trong có cái tinh túy;

tinh túy đó rất xác thực, và rất đáng tin.

Từ xưa đến nay, Âm Đạo tồn tại hoài, nó sáng tạo vạn vật; chúng ta do đâu mà biết được bản nguyên của vạn vật? do cái đó (tức Âm Đạo).

– Âm Đạo vĩnh viễn không có tên, chất phác, tuy ẩn vi mà thiên hạ không ai coi thường nó được; các bậc vương hầu biết giữ nó, thì vạn vật sẽ tự động qui phục.

Âm Đạo sáng tạo vạn vật rồi vạn vật mới có danh phận, khi đã có danh phận rồi thì nên ngừng lại, biết ngừng cho nên không nguy; Âm Đạo đối với thiên hạ cũng giống như sông biển đối với suối khe.

– Người biết Âm Đạo thì không nói về Âm Đạo; người nói là người không biết.

Ngăn hết lối, đóng hết cửa, không để lộ sự tinh nhuệ ra, gỡ những rối loạn, che bớt ánh sáng, hòa đồng với trần tục, như vậy gọi là “huyền đồng” (hòa đồng với vạn vật một cách hoàn toàn); đạt tới cảnh giới đó thì không ai thân, cũng không ai sơ với mình được (vì mình đã ngăn hết các lối, đóng hết các cửa, bỏ dục vọng, giữ lòng hư tĩnh);

Không ai làm cho mình được lợi hay bị hại (vì mình đã không để lộ sự tinh nhuệ, đã gỡ những rối loạn, giữ sự giản phác); không ai làm cho mình cao quí hay đê tiện được (vì mình đã che bớt ánh sáng, hòa đồng với trần tục), vì vậy mà tôn quí nhất trong thiên hạ.

………

Đặc biệt, trong pho kinh Đức Đạo (mà để ngụy trang cho sự kỳ khu thêm phần kỳ bí, thường được gọi là Đáo Đực hay Pín Lai), Gộc Tre Già có bàn đến một sự mà ai cũng ghét: BẦN TIỆN.

Nay xin được biên hết chương ấy ra đây:

Bần tiện là đáng khinh, đáng ghét hay… đáng trọng? Tất nhiên là người đời chỉ trọng phú quý rồi! nhưng, có chắc thế không?

“Đồ bần tiện!” là một câu chửi công khai; vậy phải chăng đó là thứ đáng khinh đáng bỉ nhất, chưa chắc đâu mà.

Vì biết bao nhiêu kẻ bần mà rồi người đời vẫn sẽ kính trọng bậc nhất: những ông/bà giáo, nhà văn, nhà thơ, nhà triết học, nhà nho, nhà lí luận, nhà phê bình, nhà binh, nhà tướng, nhà nông, nhà công, hiệp sỹ… hay những vị quan thanh liêm.

Biết bao kẻ tiện mà người đời vẫn sẽ kinh hay thậm chí kính nể; những tướng cướp vị nghĩa (“cướp của nhà giầu chia cho dân nghèo”), những tên trộm tài tình, những cô gái điếm có trái tim nhân hậu và có khả năng chữa lành những vết thương nhân thế (sẽ có gái điếm tên Maria được phong thánh), những tên cờ bạc bịp nhưng lại biết làm từ thiện… thậm chí là những kẻ giết người, nhưng mà là giết người đáng giết.

Chưa từng nghe ai chửi “đồ phú quý!”; hẳn nhiên, nhưng chỉ là cái vẻ ngoài nó thế thôi.

Rồi xem có bao nhiêu các loại tổng thống, thủ tướng và các nhà lãnh đạo được mọi người tôn kính? Phần lớn họ toàn bị chửi, thậm chí rủa xả thậm tệ, nhất lại là bọn hèn hạ, bán nước cầu vinh, rước voi về giầy mả tổ, ăn hút không ghê răng, tham nhũng không ghê tay, dẫm đạp không ghê chân, tàn độc và táng tận lương tâm.

Rồi sẽ có mấy đại gia được kính trọng đây? Rồi sẽ chỉ thấy truyền thông và đồng bào luôn đàm tiếu về toàn chuyện không hay, bỉ ổi của bè lũ ấy (cũng vì đồng bào thích nghe những chuyện đấy).

Vậy những ai sẽ luôn được mọi người yêu quý? Đó sẽ là những người nuôi (vật chất/tinh thần) được người khác và những người làm vui thiên hạ (như các ca sỹ, ngôi sao màn bạc, danh hài, văn sỹ hài hước hay diễm tình, thi sỹ lãng mạn hay chửi bậy, hay các nhà báo lá cải).

Những ai thì sẽ được mọi người kính nể? Đó là những kẻ phát ngôn mà chẳng mấy ai hiểu gì, hoặc những thằng có năng lực giết người tàn sát đồng loại xuất sắc nhất (như các mãnh tướng hay các lãnh tụ “bách chiến bách thắng”, “bất khả chiến bại” chẳng hạn).

Túm lại là đừng tin/dựa vào cái [đại] dư [thừa] luận nào, thậm chí một tha nhân nào; chỉ có thể tin vào chính mình, tự tôn trọng chính mình.

Hình như, Bất Tử vấn:

Bất tri túc tri chỉ thị đệ nhất thiên hạ bần giả?

(Đại ý: không biết đủ biết dừng là kẻ nghèo hèn nhất thiên hạ này, dù mày có là vương tướng gì chăng nữa?) [Câu này có vẻ sẽ được Lão Tử (chết già) sau này nhái]

Úy Tử đáp:

Thâm tâm tự khinh bỉ nhi vô địch hoàn cầu tiện gia!

(Kẻ nào trong thâm tâm tự khinh bỉ mình kẻ đó mới là đáng khinh nhất – “Tiện gia” cũng có thể hiểu là cái nhà xí nên câu trên còn là: kẻ nào trong thâm tâm tự khinh bỉ mình là cái chuồng xí/bồn cầu to nhất hành tinh) [Câu này ắt sẽ được Khổng Tử (chết vì L/lỗ) sau này nhại lại]

Thật cao xa thay!

Thật là một tầm nhìn lịch sử!

Trí tuệ của người từng trải ngồn ngộn ra đấy mà được mấy đứa con cháu biết cho?

Thật là tiếc lắm thay!

Gộc Tre Già ơi, người xứng đáng được kính trọng như bậc thủy tổ, dẫu cho người có đực cái hơi nhiều.

Ngàn vạn lần tri ân người, RIP the 1st Human!

Quỷ Sứ: Nhìn chữ Human làm ta nhớ tới Hunan, nơi sinh ra lão Lông Trùm Chiếu. Đây là người đàn ông đầu tiên (và cuối cùng) từ Trung Hoa mà ta thương quý nhất. Dưới chân Ngài, tất cả chỉ là mọi rợ đớn hèn, một lũ phi/phỉ nhân đã thui chột hoặc đánh mất bản năng cao quý. Ngài chắc chắn có họ hàng máu mủ với Quỷ Sứ này, hạnh phúc thay ta lại thuộc dòng Lông-nhiều (vậy nên [cùng với các cụ khỉ vượn tiên phong tầm cỡ Australopithecus hay chí ít là Cro-Magnon, Mongoloid…] ta mong được gọi Lông Trùm Chiếu là Quỷ Sứ Nhân Tông lắm lắm) chứ không phải là cái bọn Lông-ít (là bọn theo Ngài đông như chui từ nắm lông nách của Tề Thiên Đại Thánh mà ra nhưng ngu xuẩn và mọi rợ, đếo hiểu gì về Ngài).

Nay xin quay về với câu chuyện chính của sử thi Yang Yăng Yâng: cuộc chiến giữa Cánh Cổ và Ổ Bẹn.

Lại nói Ổ Bẹn khi lớn lên chỉ khoái ăn thịt. Vì cái nhu cầu đó nên chàng nghĩ cách nhốt những con thú săn được vào trong hang đá, đầu tiên là để ăn dần.

Ổ Bẹn càng lớn càng khôi vĩ; vai u thịt bắp mồ hôi dầu.

Những bước chân của chàng chắc nịch, đạp đâu đất cũng lõm xuống; đầu chàng rắn và nặng như sắt, húc vào con vật nào con ấy chết tươi.

Hai tay Ổ Bẹn như hai con chằn tinh, loang lổ lang ben; chàng bẻ cây cây đổ, đấm hổ hổ toi.

Có lẽ là nhờ chàng ăn thịt nhiều; hay là tại công việc chăn nuôi súc vật đòi hỏi nhiều cường lực mà sức vóc chàng ngày càng hăng.

Vì chàng khỏe nên bắt được rất nhiều hoang thú nhốt trong hang; bọn chúng lại còn tiếp tục sinh nở rất nhanh.

Lũ súc vật lớn nhanh đẻ lắm làm chật các hang đá; thế là Ổ Bẹn phải dồn chúng ra những khu đất rộng lớn.

Các núi đồi xanh tươi chứa đầy thú vật của Ổ Bẹn; điều làm chàng thích thú là xem cái cách thức chúng sinh sản.

Để đẻ con bọn chúng phải tạo ra sự giao tiếp giữa con vật có chân phụ và con có cái lỗ lồi; cái chân phụ thò ra chọc vào cái lỗ lồi một thời gian sau thì con có lỗ lồi bị trương bụng, rồi sau đó thì đẻ ra con.

Ổ Bẹn tò mò lắm với cái trò chọc lỗ của bọn thú vật; có lần chàng thử thọc tay vào một cái lỗ lồi thì thấy vừa ấm vừa ướt, hay hay.

Thế rồi có một ngày chàng bỗng phát hiện ra mình cũng có cái chân phụ; cái chân cũng lớn dần theo con người chàng.

Cái chân phụ ấy suốt bao lâu rất nhỏ và chỉ dùng để tháo nước trong bụng chàng ra; để rồi có ngày cứ sờ vào nó thì chàng lại thấy một cảm giác lạ lẫm.

Có điều cái chân phụ ấy có lớn lên nhưng không thể vươn dài ra bằng chân chính được; nhưng mà hình như nó cứ đang muốn chọc vào một cái lỗ lồi nào đó.

Cái chân phụ của chàng như càng ngày càng thêm vướng víu, đi đâu nó cũng lặc lè; thế rồi, cái chân ấy dần dần cứ như một con quỷ, nó như thể đang ám chàng kinh khủng, không cho Ổ Bẹn được thanh thản hay thoải mái trong lòng.

Chàng buồn bực lắm mà không biết phải làm gì với cái chân phải gió, chân gì mà lại không dùng để bước hay dựa dẫm gì được vào nó; rất nhiều khi chàng chỉ muốn cắt phăng nó đi hay đập giập ra cho bớt tức.

Nhiều lúc chàng băng đồi tìm gặp Gộc Tre Già để hỏi mà cha chàng chỉ cười ruồi, mồm cứ lẩm bẩm “con cha thì lại mọc cặc ra” nghe rất khó hiểu; hỏi Hang Chữ Thập thì mẹ chàng chỉ cau mặt lại vẻ rất khó chịu, lại càng khó hiểu hơn.

Cho đến một hôm có nhiều trăng sao, sau một ngày lao động và vui chơi bên những đàn súc vật chàng ngả ngớn người lên thảm cỏ; trời trong gió mát đưa chàng dần vào một giấc mơ màng.

Trong cơn mơ Ổ Bẹn thấy mình được bay lên trời cao, tràn đầy ánh sáng choang choang; chàng như lạc bước trong những khu vườn đầy chim hoa cá gái.

Chim trên trời chẳng cần đập cánh cũng bay được, mỏ chúng thốt ra những bản nhạc lộng thiên, khiến muôn tinh tú rùng mình; đã thế, chúng chẳng cần đạp mái mà cũng đẻ được ra con cái đàn đàn.

Hoa trời muôn sắc mà trong suốt, mỗi cánh hoa nhòa hình như mây, như mù, vừa xinh tươi sắc sảo mà vừa như vươn suốt ra vô vàn thế giới; hương muôn mùi sực nức đến tận tim mà thanh khiết trọn vẹn, chỉ vì đâu cần phải bón phân hay tưới nước giải.

Cá trời như bơi trong thinh không khiến người ta không còn biết đang ở trên trời hay trong lòng biển; những con cá “hà ngôn tai” gian dâm trước mắt chàng đủ mọi kiểu lạ lẫm trên đời khiến ta nghĩ ngay cá là loài thần tiên.

Gái trời trông nửa đoan trang hiền thục nửa lõa lồ, vú to như bưởi, lỗ lồi xinh xắn như múi quýt đầu mùa; từng bầy nói cười ríu rít thanh thản tột cùng, họ cũng tự sinh con mà chẳng cần cái chân phụ nào cắm vào lỗ lồi như bầy súc vật của Ổ Bẹn.

Ngắm nhìn gái trời mãi không chán chàng cứ ngẩn người ra, thế rồi chàng cảm thấy cái chân phụ cứ vươn lên phía trước; rồi cái chân đáng nguyền rủa xoạc thẳng lên lừng lững như cái cột chống trời.

Bầy gái trời quay ra nhìn thấy cây cột chống của Ổ Bẹn bèn cấu chí nhau cười thích thú vô biên; rồi họ xúm lại bên cây cột vuốt ve, bú liếm, mơn trớn xoắn xuýt vô chừng.

Chàng thấy khoan khoái vô song, hứng thú dã man, hứng thú không chịu nổi; bỗng dưng, một luồng lửa sướng khoái mãnh liệt nổi lên cuồn cuộn khắp thân thể chàng rồi một dòng suối thần tiên vọt ra từ đầu cái cột chống trời.

Cái cột bỗng hóa thành một đài phun nước làm cho cõi trời thêm một cảnh trí thần tiên; các gái trời cứ há to những cái miệng thiên hoa hứng vòi chàng uống lấy uống để.

Khi một gái trời có bầu vú to nhất cong môi lên để vít cái đài phun nước cắm vào lỗ lồi của mình thì dòng suối giật lên cơn xả nước cuối; chàng thấy bật lên một cơn khoái ngất tột đỉnh, rồi cái cột cứ mềm dần rồi co rút lại như một quả cà héo.

Ổ Bẹn giật mình nuối tiếc rồi tỉnh giấc; hóa ra chàng vừa qua một cơn mơ.

Chàng ngơ ngẩn tiếc nuối, bùi ngùi nhìn lên trời cao; bầu trời đêm vẫn thế, chỉ có điều các vì sao như nhấp nháy mạnh hơn với chàng.

Bỗng chàng thấy lành lạnh hai bắp đùi, nhìn xuống thấy ướt, sờ vào thấy nhầy nhụa; chàng thấy lạ mà đâm hồ nghi một điều gì.

Chàng đưa tay tìm cái chân phụ của mình, nó đang ỉu xìu; và chàng như hiểu dần mối nghi ngờ.

Chàng nhớ da diết cái cảm thức cực khoái trong cơn mơ; thuận tay chàng đưa xuống vuốt ve cái chân phụ.

Cái chân ấy dần trở nên rạo rực, làm chàng hiểu ra rất nhiều điều; cứ thế đánh liều chàng cứ vuốt ve, ve vuốt, rồi một dòng nước vọt ra kèm cơn sướng khoái.

Thích chí quá Ổ Bẹn làm tới, đến dăm bẩy lần mà vẫn chưa muốn thôi; khoái cảm càng dâng trào chàng càng hiểu ra nhiều vấn đề.

Thăng hoa sáng tạo đến lần thứ chín thì chàng thốt lên: “tìm ra rồi!! quên mẹ nó bọn Gộc Tre Già với Hang Chữ Thập đi, chẳng cần các ngươi thì ta cũng tự tìm ra công dụng của cái chân phụ;” nói xong, chàng vươn mình đứng dậy, phăm phăm dấn bước vào hang thẳm, mắt chàng sáng quắc xé xuyên đêm tối.

Chàng vào một hang đá đầy súc vật, hầu như đàn lũ chúng đang ngủ cả; hình như, chàng đang đi tìm một cái lỗ lồi.

May cho chàng chăng khi chàng làm một con bò thức giấc, mẹ kiếp, lại là một con chỉ có chân phụ chứ không có lỗ lồi; con bò có chân phụ dường như cũng có “nỗi buồn” giống chàng, nó mò mẫm đi tìm đối tác.

Nhanh chóng, con bò đã gạ gẫm được một em mơn mởn; nhanh chóng, cái chân phụ nó thò dài ra chạm đất, thật đáng kính phục.

Chàng định nhao vào tranh em bò của nó nhưng bị nó đá bật ra; xong rồi nó thọc lỗ ngay trước mũi chàng.

Chàng đứng lên xoa mấy vết đau, định bụng chờ đến lượt mình; nhưng mà, hai con bò cứ dai như đỉa.

Một canh, hai canh… trôi qua, nhìn ra vẫn thấy bọn chúng dính chặt lấy nhau; không nhin được nữa, Ổ Bẹn điên lên túm gáy con bò có chân phụ cho một đấm chết tốt.

Con bò có lỗ lồi cũng chả tỏ vẻ thương tiếc gì bạn tình cả; thế nhưng, khi chàng cứ sáp vào thì nó lại đá cho chàng túi bụi.

Chàng bất lực ngồi sụp xuống than giời, mẹ mày, hay là mày chê chân của ông ngắn, hay là mày coi ông không xứng đáng…; chàng mà điên lên thì lại dễ cho một đấm chết tốt lắm.

Đến lúc này, chàng đã chứng minh được mình là giống “Người thông minh” thượng đẳng: chàng đi kiếm dây buộc chặt bốn cẳng con bò lại; thế là, chàng đã chọc cho cái lỗ lồi ương bướng ấy thất điên bát đảo.

Sử thi Yang Yăng Yâng có bình: “Vậy là Ổ Bẹn đã mất trinh vì một con bò góa.”

Xưa nay trong cõi người “văn minh”, đàn ông thường hay bị mất trinh vào tay gái điếm. Cụ thể như có thi sỹ đau thương nọ đã từng than lên trong câu thơ của mình rằng đến hơn ba chục tuổi đời anh đã “mất trinh vì một cô điếm ế”. Tất nhiên là anh muốn dùng hình tượng đó để nói lên thân phận đau đớn, tủi nhục của những con người và nghệ sỹ chân chính sống trong một xã hội tù đầy, đen tối, thảm thương.

Nhưng mà, mất trinh vì hay nhờ gái điếm? Gái điếm là thuốc an thần hay độc dược?

Và vấn đề là nỗi tủi hờn có gắn với gái điếm kia có thật sự đáng đau buồn không khi sánh với cú mất trinh của Ổ Bẹn?

Có ai trong số các quý vị đã từng mất trinh vì một con bò góa chưa? Hay là một con bò ế?

Tôi nghĩ là có.

Vậy thì những người “có” ấy có đau buồn tủi hận hơn thi sỹ buồn đau kia không?

Tôi cũng nghĩ là có.

Tủi lắm chứ, đau buồn lắm chứ.

Người ta thì mất ở chốn trong ngọc trắng ngà, ba tòa thiên nhiên… thế mà mình lại mất đi sự nguyên khiết đầu đời trong vũng lầy thối tha của lịch sử.

Buồn tủi lắm.

Vậy thì thi sỹ kia ơi, anh hãy vui lên, hãy tự hào đi. Được mất cái vốn điều lệ ở chốn lầu xanh là cực đỉnh thanh cao đó anh.

Thì “lầu” ắt phải “cao”, “xanh” là “thanh” chứ còn gì nữa.

Rõ khổ!

Vậy vấn đề là Ổ Bẹn và những người như chàng có buồn tủi không?

Chắc chắn với chàng khi đó thì “buồn tủi” là một thứ vô cùng xa xỉ, phù phiếm; nó xa xỉ như thể người Việt Nam ngày nay nhắc đến hai chữ “xấu hổ” vậy. Chàng hăm hở khám phá và sáng tạo đến thế cơ mà. Chàng thăng hoa đến vậy cơ mà. Còn đòi hỏi gì nữa?

Chàng đã hưởng cái tột cùng của hạnh phúc nhân sinh.

Vì thế, sau này các hậu duệ của chàng, nhất là ở xứ Ả Rập, vẫn tiếp tục cái cuộc chơi vui bất tận ấy; với không những bò mà cả lừa, lạc đà, cừu, hươu, ngựa… Không ai tin ư? Chứng cớ đây này (lấy trên trang mạng http://answers.yahoo.com):

An Arab at the airport:
– Name?
– Abdul Al Rahzid.
– Sex?
– Three to five times a week…
– No no… I mean, male or female.
– Male, female, some times camel.
– Holy cow!
– Yes. Cow, sheep, animals in general.
– But isn’t that hostile?
– Horsestyle, doggystyle, any syle.
– Oh dear!
– No deer. They run too fast.

Tại sao người Ả Rập lại có vẻ man rợ như thời của Ổ Bẹn như vậy? Thật là phức tạp quá.

Kỳ thực xứ sở có ảnh hưởng ghê gớm của Hồi giáo ấy mọi người không được quan hệ tình dục bừa bãi. Đó là nơi hầu như không có ngoại tình, vì đấy là một tội chết (đối với phụ nữ). Vì thế các gia đình của họ, dẫu là chế độ đa thê, nhưng mà rất là êm ấm đuề huề. Đó là lý do hàng năm có đến hàng triệu người phương Tây cải đạo theo Hồi giáo; và điều cực kinh ngạc xẩy ra là cứ trong 5 người cải đạo thì có đến 4 là phụ nữ. Chắc hẳn phụ nữ Âu Tây đã chán ngán cái chế độ mang tiếng là dân chủ một vợ một chồng mà nạn ngoại tình xẩy ra triền miên và tình trạng quan hệ tình dục hơi bị bừa bãi. Họ đã thấy cái dở ẹc của “dân chủ một vợ một chồng” để tìm đến một xã hội nghiêm minh. Đó là nơi đã yêu là phải cưới. Không cưới không xong.

Hồi theo học bên một nước phương Tây tôi có anh bạn cùng học người Mã Lai theo Hồi giáo, cùng lớp có một em người Thái quyến luyến hắn kinh khủng. Thế mà hắn cứ phải luôn tìm cách tránh mặt nàng. Vặn hỏi mãi thì hắn mới tâm sự: “Khổ quá. Tao thì có vợ rồi. Bây giờ mà yêu nó thì tao phải cưới. Mà hiện nay tao chưa có đủ điều kiện để đáp ứng các quyền lợi cho người vợ mới nên không được phép cưới thêm vợ đâu. Tao phải tránh mặt nó thôi à.” Khổ thân chàng, nếu vào tay một thằng Việt thì sự thể đã khác.

Tất nhiên, cõi đời cái gì chả có hai mặt cơ bản. Cái xã hội nghiêm minh ấy đã không tính tới thân phận của những thằng dậy thì và những kẻ độc thân. Vì thế mà biết bao nhiêu lạc đà, lừa, ngựa, cừu, bò đã trở thành nạn nhân!

Hạnh phúc hay buồn tủi là do đâu? Phải chăng là ở tự lòng ta? Ha ha… Ô là la.

Cái cặp phạm trù ghê gớm ấy đã được Gộc Tre Già bàn rất kỹ trong bộ Đức Đạo hay ho khúc triết kinh hồn; tôi rất mong được trình bầy ra trong một dịp nào đó.

Lại nói mối quan hệ của Ổ Bẹn với Hà Ngọc Hồ Lôn chính là lần giao tiếp đầu tiên của chàng với một người gái. Sự này làm Cánh Cổ tức giận trào dâng, trong lòng dâng lên mối căm hờn sâu sắc.

Thế rồi, có một lần hai anh em được cha gọi về để sửa soạn lễ vật dâng lên Chúa Trời.

Cánh Cổ dâng lên vô vàn sản vật: lúa, ngô, khoai, sắn, mỳ, cao lương và rau củ các loại.

Ổ Bẹn dâng lên những đàn cừu, bò, lợn, gà, lạc đà, lừa, ngựa.

Sau khi nếm thử các món Chúa Trời tỏ rõ ra mặt cái sự khoái khẩu với các món thịt. Ngài khoái lắm, cứ cười ha hả suốt. Trời còn như thế, huống gì là cái con người.

Thế rồi Chúa Trời ban cho Ổ Bẹn rất nhiều ân sủng. Trong suốt mùa đại lễ lúc nào cũng cho chàng ngồi kế bên, ban cho rất nhiều ân tửu. Còn Cánh Cổ thì luôn phải hầu hạ cùng đám đầu bếp và lao dịch khác.

Hết kỳ đại lễ Chúa Trời còn ban cho Ổ Bẹn rất nhiều quà tặng. Nào thuyền, nào xe, nào bạc, nào vàng… Trước khi ra về chàng còn được đụ gái trời cả dàn.

Cánh Cổ thì lủi thủi ra về trong tủi nhục; Chúa Trời còn chẳng ban cho một lần đưa mắt.

Hận quá đi! Biết bao công lao khó nhọc, sáng chắn bão mưa, chiều ngăn nắng lửa, ăn thì ăn cơm đứng, hứng thì như hứng hoa… mới làm ra được từng ấy hoa mầu. Khốn nạn! Thế mà rồi công nó hưởng, vinh hoa nó thụ, gái nó cưỡi.

Không thể chịu được nữa rồi! Cánh Cổ bèn phục nấp bên khe đá, chờ khi Ổ Bẹn cùng đoàn xe vàng bạc đi qua thì Cánh Cổ cứ nhè đầu thằng em mà ném đá xuống. Một tảng đá đen nặng cả tấn đã rơi trúng Ổ Bẹn, chốc nhát chàng hóa thành cục ba tê, thịt xương tan nát lẫn trong vàng bạc. Sau này tảng đá đen ấy trở nên linh thiêng vô cùng, đoàn đoàn con người thường hành lễ đến để được hôn lên mà cầu cạnh.

Thưa quý vị!

Câu chuyện tưởng chừng bi đát lắm về cái sự “huynh đệ tương tàn” của kiếp người ấy không dừng lại ở đây.

Bởi vì sử thi Yang Yăng Yâng đã đưa ra một cái kết cục hậu hĩnh hay ho như Thánh Ý.

Nó thế này (chỗ in đậm là tôi nhấn mạnh):

Khi Cánh Cổ lìa trần chàng được lên trời gặp lại tất cả người thân ruột thịt; Gộc Tre Già và Hang Chữ Thập đón chàng và đưa ra một số lời dặn dò bí hiểm về đường đi lối lại.

Rồi Cánh Cổ cũng gặp Ổ Bẹn nơi chênh vênh giữa những miền cảnh giới; Ổ Bẹn mặt mũi chừng rất thanh thản mời Cánh Cổ ngồi xuống, nhóm lửa lên và nướng đồ ăn.

Trông họ chẳng khác gì năm xưa, ngồi xuống bên nhau ăn uống sau một ngày làm lụng kiệt lực; hai anh em đốt lên ngọn lửa thật to với những món nướng xèo xèo thơm nức.

Giờ đây trong ánh lửa bập bùng Cánh Cổ nhìn thấy trên trán Ổ Bẹn dấu vết bị đá đè chàng giật thót mình làm rơi mất miếng bánh đang ăn; chàng lập tức quỳ mọp xuống để xin em mình tha thứ.

Ổ Bẹn ngạc nhiên hỏi “nhưng mà anh đã giết em hay em đã giết anh? em chẳng nhớ gì nữa cả;” Cánh Cổ nghe xong mà nước mắt cứ rưng rưng, lại càng quỳ mọp xuống thêm.

Ổ Bẹn lại nói tiếp “em không nhớ gì nữa cả, thôi thì chúng ta lại cùng nhau ở đây như là trước kia nhé;” Cánh Cổ nức nở lên rằng “ôi em ơi, vậy là em đã tha thứ cho anh thật rồi, bởi vì quên đi chính là tha thứ, anh cũng sẽ cố gắng quên đi.”

Ổ Bẹn “vâng” thật nhẹ nhàng, “tội lỗi sẽ cứ kéo dài mãi mãi nếu mình còn lăn tăn;” Cánh Cổ đáp lời “OK, chúng ta sẽ cùng gắng không lăn tăn gì nữa nhé.”

Hình như các thuật sỹ giang hồ đã có đem bộ sử thi này đi buôn chuyện đâu đó nên chắc nó còn có những dị bản, ở đâu đó. Có những khi buôn chuyện cũng là một việc rất tốt.

 

Đặng Thân

(Trích tiểu thuyết Những kênh bão người / Channels of the Homo Storms chưa xuất bản)

bài đã đăng của Đặng Thân

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)