Trang chính » Âm Nhạc, Da Màu và Bạn, Email bài này

Trịnh Công Sơn và những ngày Văn Khoa

0 bình luận ♦ 9.03.2011

(Tác giả Từ Thức tên thật là Trần Công Sung, trước là sinh viên Văn Khoa Sàigòn, hiện sinh sống ở Pháp. Đây là lần đầu anh cộng tác với Da Màu.)

 

 

Gởi những người bạn Sài Gòn ngày xưa.

Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
(Vũ Đình Liên)

 

khanhlywithtrinhcongson-1969

Khánh Ly và Trịnh Công Sơn vào khoảng năm 1969

 

Một ngày đầu tháng tư (2001), tôi lên phi trường Charles de Gaulle đón một người bạn từ Việt Nam qua. Trên xe về Paris, anh ta hỏi: Cậu có nghe tin về Trịnh Công Sơn (TCS)? Tôi gật đầu. Mấy hôm trước, có người gọi dây nói cho hay TCS vừa từ trần.

Anh bạn nói đám tang Sơn rất đông. Người ta ở đâu đổ về như kiến, chật cả đường phố. Quen có, lạ có. Không đủ chỗ đặt vòng hoa phúng điếu. Tôi nói với ông bạn: Như vậy, cái xứ của ông vẫn còn văn minh, vẫn còn thuốc chữa.

Đó là cái tin lạc quan nhất về Việt nam mà tôi được nghe từ nhiều năm nay. Dostoievski[1] nói: Cái đẹp sẽ cứu vãn nhân loại[2]. Bỏ công ăn việc làm, đến tiễn đưa một thi sĩ – TCS là một nhạc sĩ – thi sĩ – chứng tỏ người ta còn nghĩ đến cái đẹp, người ta còn có tâm hồn.

Tự nhiên tôi nghĩ đến “Bác sĩ Jivago” của Boris Pasternak. Cũng như Sơn, Jivago là một thi sĩ. Cũng như Sơn, Jivago bị cuốn hút trong cơn lốc của lịch sử, bị quẳng vào một bi kịch kinh thiên động địa từ trời giáng xuống. Như hàng triệu người Nga, Jivago bị đánh bạt ra khỏi gia đình, quê hương khi cách mạng vô sản Nga ập xuống nước Nga, cuốn trôi tất cả: gia sản, vợ con, bè bạn, tình ái trong một xã hội thay đổi tận gốc rễ.

Chỉ có một điều không bao giờ thay đổi: là một thi sĩ, Jivago tiếp tục làm thơ. Lấy thơ làm nhân chứng, lấy thơ làm cái phao. Lấy thơ làm một nguồn hy vọng để vươn lên. Khi Jivago chết, người ta ở đâu đổ về rất đông, nhiều người không hề quen biết. Pasternak viết: người Nga yêu thơ, yêu thi sĩ. Nghĩa là yêu cái đẹp, nghĩa là chưa hoàn toàn tuyệt vọng. Chỉ hoàn toàn tuyệt vọng khi người ta không còn thiết tha đến điều gì, ngay cả cái đẹp. Đó là nét lạc quan nhất trong một cuốn sách đầy thảm kịch : chiến tranh, tang tóc, chia lìa, đổ vỡ. Một tia sáng loé lên trong bầu trời đen tối.

 

mưa vẫn mưa rơi…

Khi Charles Trenet[3] chết, hàng chục ngàn người kéo về đưa tang một nhạc sĩ – thi sĩ hiện đại nổi tiếng nhất của Pháp. Đưa tang Trenet, người Pháp, trong vài giờ, quên mình đang sống trong một xã hội vật chất, suốt ngày túi bụi giành giựt. Trong vài giờ, thấy mình vươn lên, thấy đời có ý nghĩa hơn, bởi còn yêu cái đẹp. Trenet viết: Những thi sĩ đã qua đời, nhưng tiếng hát của họ vẫn bay nhẩy trên khắp đường phố.[4]

TCS đã qua đời, nhưng tiếng hát của anh vẫn bay nhẩy trong các hang cùng, ngõ hẹp. Không phải chỉ ở Việt Nam, mà trên khắp địa cầu. Người Việt, tan tác như một đàn gà mất mẹ, nương thân trên khắp nẻo đường thế giới, mang theo những kỷ niệm quê hương, mang theo mùi nước mắm, mùi sầu riêng, mùi phở và mang theo tiếng hát TCS. Tôi đã nghe TCS qua tiếng hát nhừa nhựa khói thuốc của Khánh Ly, tiếng hát thánh thót, không có tuổi của Thái Thanh, tiếng hát truyền cảm của Lệ Thu; và rất nhiều tiếng hát vô danh, tiếng hát của những người sống ở ngoại quốc nhưng chỉ nói tiếng Việt, của những người thuộc thế hệ sau này, hát TCS với một thứ tiếng Việt pha giọng Mỹ, giọng Pháp, giọng Đức. Tôi đã nghe tiếng hát TCS vọng ra từ những căn nhà ở New York, Tokyo, Budapest, Athènes hay Palerme…Một buổi chiều tàn, trong một bìa rừng ở Brésil (Ba Tây), cách Rio de Janeiro hàng ngàn cây số một nơi khỉ ho cò gáy, tưởng như không có hơi người, tôi nghe một giọng khàn khàn vọng ra từ một căn nhà gỗ. Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ/Dài tay em với mấy thuở mắt xanh xao. Người hát là một ông già gốc Ấn Độ, sống ở Việt nam từ nhỏ.Vượt biển, thuyền đắm, ông già được tầu Ba Tây vớt, ở lại Ba Tây, làm nghề canh rừng. Suốt ngày, lủi thủi một mình, tháng năm dài đằng đẵng, ông già Ấn mơ đến những cơn mưa trên tầng tháp cổ ở một xứ ông đã nhận làm quê hương.

Một ngày ở ngoại ô La Havanne, trong một tiệm ăn nhỏ trên bờ biển, nơi người ta bán lậu tôm hùm cho du khách (tôm hùm là tài sản quốc gia, chỉ để xuất cảng hay bán trong những tiệm ăn quốc doanh), tôi nghe một giọng hát đàn bà, rất trong, rất ngọt từ trong bếp vọng ra Ngày gió lớn tôi đi môi gọi thầm/ Gọi tên anh tên Việt Nam/ Gần nhau trong tiếng nói da vàng. Người hát là một bà Bắc kỳ, từ Hà Nội tới Cuba, trong một chương trình hợp tác gì đó giữa hai nước “xã hội anh em”, có lẽ đã mệt nhoài sau nhiều năm thề ăn gan uống máu quân thù.

Tác phẩm TCS đã đi sâu vào tâm hồn dân tộc. Nước ta có trên 80 triệu dân. Trừ trẻ con và những người không biết đọc, biết viết, có khoảng 50 triệu người làm thơ. Sự thực, không cần phải biết đọc, biết viết mới biết làm thơ: tác giả những câu thơ đẹp nhất trong văn chương Việt Nam, ca dao, là những người nông dân không biết đọc biết viết. Trong số 50 triệu người làm thơ, mỗi thế hệ cho vài ba thi sĩ. Những thi sĩ đi sâu vào tâm khảm đám đông, gặp gỡ tâm hồn một dân tộc còn hiếm hoi hơn nữa. TCS thuộc cái số hiếm hoi đó.

 

Sài Gòn, những ngày xáo trộn

Tiếng hát TCS đến với Sài gòn vào những năm 60, ở trường đại học Văn Khoa Sài Gòn, nằm trên góc đường Gia Long – Nguyễn Trung Trực, ngay trung tâm thành phố. Sơn ở Bảo Lộc trôi giạt về, lai vãng thường xuyên vì cái sinh hoạt trẻ ở đó rất náo nhiệt. Trường đang rục rịch di chuyển một phần về cơ sở mới gần sở thú Sài Gòn vì số sinh viên tăng rất nhanh, trường cũ không đủ chỗ. Văn Khoa là trường đông sinh viên nhất ở Việt Nam. Xa rồi, cái trường Văn Khoa đầu tiên ngoài Bắc, do giáo sư Cao Xuân Huy sáng lập năm 1949, với số sinh viên vỏn vẹn có bẩy người, gọi là thất hiền.[5]

Trường di chuyển, nhiều gỉảng đường bỏ trống. Gọi là giảng đường cho sang, sự thực đó chỉ là những căn nhà tiền chế. Tất cả những gì gọi là sinh hoạt văn hoá xã hội của giới trẻ Sài Gòn kéo về, chiếm đóng những căn nhà tiền chế. Một phần dành cho CPS (Chương trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên Học Đường), một phần dành cho hội họa sĩ trẻ, đoàn văn nghệ Nguồn Sống. Phần còn lại, một số sinh viên chúng tôi tịch thu làm nơi tập trung, hội họp. Hồi đó, người ta tự hào thuộc giới trẻ, có lẽ vì thất vọng với những gì “lớp già” để lại. Gia tài của mẹ để lại cho con, gia tài của mẹ, một nước Việt buồn. Họa sĩ trẻ, nhạc sĩ trẻ, ca sĩ trẻ… quên rằng người ta sớm muộn gì cũng …già. Các “cụ” trong nhóm Người Việt, Thế Kỷ 21 ngày nay đều là những người trẻ ngày xưa ở sân trường Văn Khoa.

Phải sống ở Văn Khoa những ngày ấy mới thấy sinh hoạt văn nghệ, sinh hoạt xã hội là một nhu cầu thiết yếu của tuổi trẻ, và nếu có cơ hội, sinh hoạt ấy bùng lên, tuổi trẻ bùng lên, đất nước không còn là một nước Việt buồn. Sống ở đó rất tiện: Văn Khoa nằm ngay trung tâm thành phố, đi vài bước là tới những tiệm cà phê nổi tiếng trên đường Catinat, vài bước là tới Khai Trí, tiệm sách lớn nhất Sài Gòn, tha hồ đọc sách cọp. Ông chủ Khai Trí là một người mê sách, muốn phát triển văn hóa, ông ấy khuyến khích sinh viên đọc sách cọp. Nhà cửa điện nước đều của chùa, rất tiện, trong khi hầu hết chúng tôi đều nghèo kiết xác, từ những ông họa sĩ trẻ, những ông văn nghệ sĩ có tiếng nhưng không có miếng ở đất nước của Tản Đà, Văn chương hạ giới rẻ như bèo, những ông ký giả đầu tháng đã hết lương, những ngày cuối tháng khó khăn, nhất là 30 ngày cuối tháng, theo cách nói của Coluche[6], đến đám sinh viên trong đầu đầy những mộng đổi đời, cải tạo xã hội và trong túi không có đủ tiền uống một ly cà phê.

 

đại bác đêm đêm vọng về…

Từ 1963, sinh hoạt giới trẻ Sài Gòn cực kỳ náo nhiệt. Chúng tôi sống ở ngoài đường nhiều hơn ở trong nhà hay trong lớp học. Hết biểu tình, hội thảo chống đàn áp Phật giáo dưới thời ông Diệm, đến hội thảo, biểu tình chống các chính phủ thi nhau lên xuống. Xuống đường trở thành một sinh hoạt thường nhật. Giữa những cuộc biểu tình, những buổi hội thảo, thỉnh thoảng ghé vào giảng đường học vài chữ cho phải phép. Đó là giai đoạn giới trẻ tham gia tích cực vào đời sống chính trị xứ sở. Với lòng nhiệt thành, và cố nhiên với đôi chút ngây thơ. Ngây thơ tin vào sức mạnh vạn năng của tuổi trẻ, nhất là khi thấy chỉ vài buổi xuống đường cũng đủ lật đổ một chính phủ, một ông tướng, một chính khách; và quên mất rằng trong cái hỗn loạn của đất nước, người Việt chỉ là những quân cờ thí.

Trước Tết Mậu Thân, lớp trẻ Sài Gòn còn tin tưởng, chưa hoàn toàn mệt mỏi, tuyệt vọng. Những ngày đầu thập niên 60, chiến tranh chưa thực sự len vào thành phố, mặc dù hàng ngày vẫn đọc trên báo những cuộc đụng độ nẩy lửa ở Pleiku, Cà Mâu, Đồng Xoài, Bình Giả; thỉnh thoảng chứng kiến những vụ pháo kích; thỉnh thoảng họp nhau, nhậu vài két la-de, lạc rang, củ kiệu, tiễn một người bạn lên đường nhập ngũ. Chiến tranh còn ở xa, đại bác đêm đêm dội về thành phố/Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe. Dân Sài gòn chưa thấy tận mắt thấy những xác người nằm chết như mơ, những xác người nằm bơ vơ dưới mái hiên chùa, trong giáo đường thành phố, trên thềm nhà hoang vu.

Sinh hoạt trẻ Sài Gòn ồn ào, sinh hoạt trẻ Văn Khoa còn náo nhiệt hơn nữa. Bên cạnh những hoạt động chính trị, những cuộc xuống đường, còn rất nhiều những đêm không ngủ, những hội Tết, những đêm văn nghệ Nguyễn Đức Quang, Nguồn Sống, những ngày túi bụi làm báo Xuân, nguyệt san Đối Thoại. Ở đó, (và ở trụ sở Tổng Hội Sinh viên Sài Gòn), Phạm Duy ra mắt trường ca Mẹ Việt Nam, Vũ Thành An ra mắt bài hát đầu tay. Chúng tôi, tuổi 20, kề vai nhau nghe Lệ Thu ngủ đi em, mộng bình thường/ru em sẵn tiếng thùy dương đôi bờ, nghe Thái Thanh ca tụng mẹ Việt Nam không son không phấn, mẹ Việt Nam chân lấm tay bùn (nhạc Phạm Duy); và thực tình xúc động với cái viễn ảnh Việt nam quê hương đất nước sáng ngời. Cái viễn ảnh ấy, trong những đêm không ngủ, tựa vai nhau, chỉ tưởng tượng cũng đã muốn khóc. Trước cái trống rỗng của hiện tại, và cái lo lắng cho một tương lại mù mịt, người ta ngồi sát lại nhau, người ta nắm tay nhau, xin chờ những rạng đông. Những câu hát đẹp như thơ của Sơn đã đi thẳng vào lòng người.

Phong trào hoạt động xã hội cũng phát triển rầm rộ. Ảnh hưởng của phong trào thanh niên chí nguyện quốc tế của Kennedy, những hội đoàn như CPS, Thanh Niên Thiện Chí, Thanh Niên Chí Nguyện vv … mọc ra như nấm. Tuổi trẻ tích cực tham gia những lần đi cứu trợ nạn lụt ngoài Trung, cải biến những xóm nghèo ở thành phố, leo lên những làng Thượng dạy học, đào giếng, chữa bệnh. Có anh tham dự vào những ngày cuối tuần, có anh bỏ học, hoạt động hai ba tháng, nhiều khi cả năm. Đó là một tuổi trẻ còn đầy lý tưởng, còn yêu đời, yêu người, còn đầy tình người trong mạch máu, ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau.

Điều đó chứng tỏ tuổi trẻ rất tha thiết dến dân tộc, sẵn sàng đóng góp cho đất nước. Nếu họ thờ ơ với đất nước như người ta than phiền, lỗi không phải ở họ: người ta đã không tạo cơ hội cho tuổi trẻ tham gia. Họ bị gạt ra ngoài lề. Đất nước không còn là đất nước của họ.

 

đường phượng bay

Son-Ca-7-album-cover

Bìa album Sơn Ca 7 với Khánh Ly hát những tình khúc Trịnh Công Sơn (1974)

TCS đến với Văn Khoa trong bối cảnh đó. Sơn không phải sinh viên Văn Khoa; anh ở Huế vào, bỏ học vì hoàn cảnh gia đình. Những đêm trăng, chúng tôi ngồi trên bãi cỏ trước quán Văn, nghe Sơn đàn, nghe Khánh Ly hát. Khánh Ly sinh ra để hát TCS, cũng như Thái Thanh sinh ra để hát Phạm Duy.

Quán Văn là một ngôi nhà tiền chế, nằm giữa sân trường Văn Khoa. Một nhóm thổ công Văn Khoa sửa sang lại, biến thành môt quán cà phê, làm nơi tụ họp, gặp gỡ. Đúng là một cái quán, đơn sơ, nhưng đầy tình bè bạn. Giống như một cái quán ở miền quê, nơi người nông dân ghé qua, uống một bát chè tươi, hút một điếu thuốc lào, ngâm vài câu thơ, vài câu ca dao, tán gẫu với nhau sau những giờ lao động. Ở đó, chúng tôi khám phá ra cái đậm đà của tình bạn, cái thi vị của những buổi hẹn hò. Ở đó đã nở ra những mối tình, đôi khi dang dở, nhưng có nhiều cặp còn keo sơn tới ngày nay.

Sơn, người nhỏ bé, gầy gò, ăn nói nhỏ nhẹ, ôn tồn (tôi chưa hề thấy một TCS giận dữ, gây gổ bao giờ), Sơn trở thành bạn của mọi người một người một cách rất tự nhiên. Đôi mắt tinh anh, láu lỉnh, nụ cười hiền lành như một thầy tu, Sơn có cái phong thái của một thi nhân, cái khiêm tốn của một người có thực tài. Từ cách nâng ly uống một ly rượu, tiếp chuyện với bạn bè, cách trang phục, giản dị nhưng trang nhã, cái phong thái thi nhân ấy hiện diện ở Sơn, thường trực, tự nhiên. Đừng tưởng ông thi sĩ nào cũng có phong thái thi nhân. Sartre nói về Heidegger, một triết gia hàng đầu mà chính ông chịu nhiều ảnh hưởng: “Có những người ta chỉ nên biết tác phẩm, không nên biết đến con người, nếu không muốn thất vọng”. Heidegger là một triết gia lỗi lạc, lại cũng là người theo chủ nghĩa Nazi. Tôi đã quen những ông thi sĩ, tác giả những câu thơ rất đẹp mà lại ăn uống, cư xử như một con heo đực.

TCS ở ngoài đời rất giống TCS người ta tưởng tượng khi nghe những bản nhạc tình của anh.

Chúng tôi, mới đầu, ngạc nhiên thấy một gã người Huế, rất thanh nhã, rất ung dung, từ tốn; không phải cái từ tốn của một ông già, mà là cái ung dung quí phái của một con mèo, với nụ cười hiền hoà thường trực trên môi. Sơn học chương trình Pháp, nhưng xử dụng tiếng Việt một cách tài tình. Nhiều chữ rất tầm thường, với Sơn, chợt trở nên truyền cảm; nhiều chữ do Sơn bịa ra, nhiều hình ảnh đến từ một trí tưởng tượng phong phú, nếu không nghe Sơn giải thích, chắn chắn không ai hiểu. Mặc dù vậy, người ta cũng vẫn rung động, vẫn thấy cái Sơn nói đến rất thực, rất gần gũi. Đó là cái ma lực của chữ nghĩa, của thơ khi thơ đạt, khi chữ nghĩa có duyên nợ với nhau. Nhiều chữ, nhiều câu rất cũ, đột nhiên ở Sơn trở thành rất mới. Nhiều chữ nhiều câu rất cầu kỳ, đột nhiên gần gũi. Khi thất tình, người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ, khi tuyệt vọng, mùa thu không về, mùa xuân cũng ra đi, ngay cả khi nói đến chiến tranh tang tóc, xác người nằm như mơ, TCS không lúc nào quên mình là thi sĩ.

TCS nói về những cái rất riêng tư, những kỷ niệm rất riêng tư, qua một ngôn ngữ rất riêng tư. Và lạ lùng, cái riêng tư ấy của thi sĩ thấm vào lòng người nghe. Người ta xúc động mặc dù không hiểu từng câu, từng chữ. Nhất là trong những bản nhạc tình. Nói về chiến tranh, ngôn ngữ TCS là ngôn ngữ của mọi người; chiến tranh là một tai họa chung, một thảm kịch của cả một dân tộc, không phải là thảm kịch của một cá nhân, mặc dù mỗi cá nhân là một thảm kịch.

Một người bạn tôi nói khi nghe Sơn hát đường phượng bay mù không lối vào, anh thấy hình ảnh rất đẹp, rất mới, nhưng không biết tác giả nói gì, cho đến một hôm, ở một tỉnh nhỏ, anh thấy hoa phượng rơi, bị gió cuốn mịt mù, đỏ rực cả con đường trước mắt.

Nếu không quen Sơn, ít ai biết trời cao níu bước sơn khê, nói đến một người bạn gái tên Khê; ngàn cây thắp nến lên hai hàng/ để nắng đi vào trong mắt em mô tả những tia nắng cuối cùng của một buổi chiều tà đọng trên những ngọn cây, giống như ngàn cây thắp nến.[7]

Ngôn ngữ TCS khác với ngôn ngữ Phạm Duy (PD). Ngôn ngữ PD là ngôn ngữ ca dao. Hình ảnh của PD là hình ảnh của ca dao. Nhiều câu, nhiều hình ảnh trong nhạc PD không hiểu là của PD hay mượn từ ca dao. Đó không phải một lời chỉ trích; đó là một lời ca ngợi. Bởi vì dùng ngôn ngữ của một dân tộc, nói lên tình tự của dân tộc không phải ai cũng làm được, là một điều rất đáng tự hào. Lời ca của PD ai cũng hiểu, hình ảnh của PD ai cũng đã từng thấy, vì trong tiềm thức, chúng ta đã sống với ca dao từ hàng ngàn năm nay. Trong một bài báo ngày xưa ở trong nước[8], tôi viết tiếng hát Thái Thanh không có tuổi, vì đã làm say mê ba thế hệ. Tôi nghĩ thêm: tiếng hát Thái Thanh qua nhạc PD không có tuổi vì chúng ta vẫn nghe từ hàng ngàn năm nay. Tiếng hát ấy gợi ra trong đầu người nghe những cánh đồng lúa xanh, tiếng cười rúc rích của cô thôn nữ, những làn khói lam trên những mái nhà tranh, tiếng chuông chùa ngân nga, tiếng hò hát của người nông dân những ngày được mùa, tiếng nghẹn ngào của bà mẹ mù mắt chờ con đi chinh chiến, tiếng than vãn của những đời lầm than, đen tối. PD sống với ca dao, thở với ca dao, cười khóc bằng ca dao. Ít có người Việt nam nào Việt Nam hơn PD. Có lẽ có một người: Nguyễn Bính. Nguyễn Bính là ca dao, ca dao là Nguyễn Bính.

 

hai nghệ sĩ, hai cuộc chiến

Trên bãi cỏ trường Văn Khoa, trước quán Văn, TCS và Khánh Ly hát trước hàng ngàn người hay chỉ năm, bẩy anh em. Không phải chỉ hát cho tình yêu. Sơn càng ngày càng bị ám ảnh bởi chiến tranh. Từ hình ảnh lãng mạn của người phu quét đường dừng chổi đứng nghe, chiến tranh trở thành cụ thể hơn, ghê rợn hơn :

Một buổi sáng mùa xuân
Một đứa bé ra đồng
Đạp trái mìn nổ chậm
Xác không còn đôi chân.

Nhạc tình TCS là những tiếng thở dài, có buồn cũng chỉ buồn thoang thoảng: mùa đông vời vợi, mùa hạ khói mây, có trách cũng chỉ trách nhẹ nhàng: từng người tình bỏ ta đi, như những giòng sông nhỏ. Một thái độ rất thiền, rất ‘zen’: trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt, rọi suốt trăm năm một cõi đi về.

Nói về chiến tranh, TCS kêu gào, phẫn nộ. Chiến tranh không còn từ xa vọng về như những ngày đầu, nó ở trước mắt: Xác người nằm trôi sông phơi trên ruộng đồng/trên nóc nhà thành phố trên những đường quanh co. Cùng với cuộc chiến càng ngày càng dữ dội, tiếng kêu gào của Sơn càng ngày càng thảm thiết. Anh nói đến những em bé loã lồ, suốt đời lang thang, đến những xác người nằm bơ vơ, dưới mái hiên chùa, đến những trái mìn nổ chậm, người chết hai lần. Chiến tranh trở thành khốc liệt, tang tóc đổ xuống dân tộc kinh hoàng. Hàng vạn chuyến xe, claymore lựu đạn/Hàng vạn chuyến xe mang vô thị thành/Từng vùng thịt xương, có mẹ có em. TCS của chiến tranh trở thành một người dở điên, dở dại, thất thểu, chiều đi trên đồi cao, hát trên những xác người. Hình ảnh bi thảm, ma quái. Một thi sĩ thất thểu trên Bãi Dâu, hát bên những xác người. Đi trên đồi cao, bên cạnh xác người là một hình ảnh bi thảm, nhưng hát bên những xác người, hình ảnh mang thêm một cái gì ma quái, điên dại. Bi đát như chiến tranh với những con ngựa hý điên cuồng trong tác phẩm Guernica của Picasso.

Ngôn ngữ TCS về chiến tranh khác với ngôn ngữ TCS về tình yêu. Chiến tranh trong nhạc TCS cũng khác chiến tranh trong nhạc Phạm Duy. PD có “cái may” sống trong một cuộc chiến tranh chống Pháp, có địch, có thù, chiến tuyến phân minh. PD 24 tuổi lên đường tham gia kháng chiến, như hàng ngàn hàng vạn thanh niên khác. Chiến tranh trong nhạc tiền chiến của PD nó hào hùng, nó bừng bừng khí thế. PD tiền chiến không có cái cấu xé, cái dằn vặt. Cái chọn lựa của PD nó hiển nhiên. Nhạc PD không có cái lưỡng lự, nó là một tiếng quân ca, tiếng gọi lên đường. Bên cạnh cái hào hùng là cái lãng mạn của một trí thức tiểu tư sản ở tuổi 20, của một nghệ sĩ giầu tình cảm. Đó là cuộc chiến của những cô nàng gánh lúa cho anh đi diệt thù, của những chiến sĩ dừng chân trên chiếc cầu biên giới tưởng tới người yêu ở quê xa.

Điều đó không có nghĩa là trong nhạc PD không có cái bi thảm của chiến tranh. Nhạc PD có Bà Mẹ Gio Linh lên đường đi kiếm xác con bị giặc chặt đầu, có bà mẹ đón người con thương binh trở về, tiếc rằng ta đôi mắt đã loà vì quá đợi chờ. PD nói ông làm tới ba bài người thương binh vì ông sống qua ba cuộc chiến. Tác giả Con Đường Cái Quan nói ông khác xa những nghệ sĩ khác thời tiền chiến vì họ chỉ làm nhạc hùng; trong khi ông nói cả đến cái bi thảm của chiến tranh. Nhưng cái tàn phá của chiến tranh, cái thảm họa đổ lên đầu dân tộc càng khiến PD thấy cuộc chiến tranh của mình có ý nghĩa hơn. PD thuộc những người, như Malraux nói, không thích chiến tranh, (bởi vì có những người thích chiến tranh, coi đó là lẽ sống) nhưng tham chiến một cách dứt khoát vì là chuyện phải làm.

Cuộc chiến của TCS khác, cái nhìn của TCS khác. Đối với Sơn, đó chỉ là một cuộc nội chiến tương tàn. Nạn nhân là nước Việt, người Việt:

Hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng
Cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn

Lật xác người chết, chỉ thấy đồng bào, cha mẹ, anh em:

Bên xác người già yếu có xác còn thơ ngây
Xác nào là em tôi dưới hố hầm này
Trong những vùng lửa cháy bên những vồng ngô khoai

Những câu hát làm người ta nghĩ đến chiến tranh của Quang Dũng:

Mẹ tôi, em có gặp đâu không
Những xác già nua ngập cánh đồng
Tôi cũng có thằng em bé dại
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông

Ngay cả ở cùng một thời điểm, cái nhìn về chiến cuộc của hai nhạc sĩ cũng khác nhau. Với TCS, đó là một cuộc nội chiến mà người Việt Nam là nạn nhân. Với PD, đó là cuộc chiến Quốc Cộng nối dài, mặc dù sau này, Phạm Duy, vì cơm ăn áo mặc, hay vì một lý do gì khác, đã vứt bỏ cái hình ảnh của một nghệ sĩ dấn thân, đánh đổi vai trò thần tượng của một thế hệ để đóng vai trò “hàng thần lơ láo”. Ca ngợi cái chết của một phi công, Phạm Phú Quốc, PD nói: Ðặt tên cho anh anh là Quốc/Ðặt tên cho anh anh là nước/Ðặt tên cho người đặt tình yêu nước vào nôi. Viết cho một phi công khác tử trận, TCS không nói đến chiến công, không ca ngợi anh hùng, chỉ nói đến một kiếp người: Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây/Đã vui chơi trong cuộc đời này/Đã bay cao trong vòm trời này.

Trong bài “Kỷ vật cho em”, thơ Linh Phương, PD phổ nhạc, có câu: anh trở về bại tướng cụt chân. Nếu Sơn là tác giả, tôi nghĩ chắc Sơn viết anh trở về vì đã cụt chân. Đối với Sơn, không có thắng có bại; chỉ có người Việt Nam bị cuốn hút vào một cuộc chiến tương tàn. Nếu chưa bị cụt chân thì còn đánh nhau. Đó là một cái nhìn cực kỳ bi đát về cuộc chiến.

 

nghệ sĩ và cuộc chiến

Trong cuộc chiến ấy, TCS không có chỗ đứng.

Người Cộng Sản không chấp nhận anh là chuyện đương nhiên. Với người CS, không có chuyện lưng chừng, lưỡng lự, phân vân. Những người không hoàn toàn theo họ là những kẻ thù. Những người chống Cộng lên án Sơn đã trở cờ. Nhưng đọc kỹ những lời ca anh viết sau 75, không thấy một lời ca chứng tỏ anh về hùa, tâng bốc nhà cầm quyền. Nó vẫn chỉ là những lời ca ngợi tình yêu; kêu gọi tình anh em, nghĩa đồng bào. Không hề thấy hô hào thù hận, như Xuân Diệu chẳng hạn, khi “nhà thơ của tình yêu” (!) kêu gọi đấu tố năm nào:

Lôi cổ bọn chúng ra đây
Bắt quỳ gục xuống đoạ đầy chết thôi
Bắt chúng đứng,cấm cho ngồi
Bắt chúng ngước mặt, vạch người chúng ra

Còn nhạc gọi là phản chiến trước 75? TCS chỉ làm công việc của một nghệ sĩ: diễn tả cái thảm kịch của chiến tranh, cái đọa đầy của một dân tộc. Ai mà không chia sẻ giấc mộng của Sơn: Khi đất nước tôi không còn giết nhau, trẻ em đi hát đồng dao ngoài đường.

Một câu hỏi đáng được đặt ra: TCS có ảnh hưởng xa gần đến việc miền Nam thua trận? Có thể. Rất có thể. Một người lính xúc động vì hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng/từng vùng thịt xương có mẹ có em chắc chắn không chiến đấu hăng say bằng những người cuồng tín. Một người lính than vãn ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè/Ngựa hồng đã mỏi vó/Chết trên đồi quê hương, chắc chắn không chém giết hữu hiệu bằng một người lính suốt đời chỉ đưọc dạy ăn gan uống máu quân thù. Một quân đội suốt ngày nghe (trên đài phát thanh nhà nước!) những câu người già co ro, buồn nghe tiếng nổ/Em bé lõa lồ, khóc tuổi thơ đi, chắc chắn không xả súng tưng bừng bằng một cán bộ suốt đời chỉ biết vực sâu thăm thẳm, vực nào sâu bằng chí căm thù (Hò kéo pháo). Nhưng nếu cuộc chiến đấu của miền Nam có ý nghĩa, cái ý nghĩa ấy chính ở chỗ nó cho phép mọi người, trong đó có nghệ sĩ, được tự do diễn đạt tư tưởng của mình. Đó là cái yếu của một chế độ dân chủ, ngay cả dân chủ tương đối. Năm người mười ý, trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Đó cũng là lẽ sống của một nền dân chủ. Đó là cái giá phải trả, bởi vì không có chọn lựa nào khác. Nói theo kiểu Winston Churchill: dân chủ là chế độ dở nhất, nếu không kể các chế độ khác.

Khó trách người nghệ sĩ bày tỏ sự rung động của mình trước cái đau thương của đồng bào. Ngay cả Phạm Duy, tác giả bài ca tụng Phạm Phú Quốc, người đã tử nạn trong chuyến oanh tạc miền Bắc, Ðặt tên cho anh anh là Quốc/Ðặt tên cho anh anh là nước/Ðặt tên cho người đặt tình yêu nước vào nôi, cũng đã kêu giết người đi thì ta ở với ai? Khó trách nghệ sĩ bày tỏ sự rung động của mình. Cái điều lạ, cái cảnh khó tin nhưng có thực, là những đêm không ngủ chống chiến tranh ở Văn Khoa ngày xưa diễn ra ngay ở trung tâm Sài Gòn, với … cảnh sát, quân đội giữ an ninh chung quanh sân trường. Nếu TCS sống ở miền Bắc, chắc chắn anh đã bỏ mạng trong trại cải tạo, và chúng ta sẽ không bao giờ có được những Diễm xưa, Tuổi đá buồn…

 

huyền thoại da vàng

Nhiều người trách cái ngây thơ chính trị của TCS. Nhưng cái ngây thơ chính trị của nghệ sĩ, của trí thức là chuyện rất phổ thông. Chỉ cần nêu trường hợp Jean Paul Sartre, suốt đời hô hào ủng hộ cách mạng vô sản, nhắm mắt trước cái dã man, chà đạp nhân quyền trong những goulag. Chiến tranh, chính trị phức tạp hơn là tình cảm của nghệ sĩ.

Chẳng hạn, TCS day dứt về thân phận “da vàng” đến kiếp nô lệ “da vàng”; hết tiếng nói “da vàng” đến dư khúc “da vàng”. Làm như cái bất hạnh của dân tộc nằm trong cái nghiệp sinh ra từ mầu da, quên rằng nhiều dân tộc khác, cũng vàng khè không thua gì người An Nam ta, đang tiến nhanh, tiến mạnh. Nhật Bản đã làm Tây phương thất điên bát đảo trên mọi phương diện, Đại Hàn trở thành một cường quốc, Trung Cộng sẽ là một trong hai lãnh tụ thế giới, và những nước phát triển nhất trên địa cầu, Đài Loan, Singapore là những nước da vàng. Một triết gia nói: “Có hai loại người, những người chấp nhận làm nô lệ và những người không chấp nhận”. Vàng, xanh, trắng, đỏ không liên hệ gì đến thân phận của một dân tộc. Ai đã gặp một người Nhật có mặc cảm da vàng ? Họ không muốn thua ai, không muốn bằng ai, họ muốn trên mọi người, đứng đầu thiên hạ, họ không biết hai chữ thân phận, vàng hay xanh.

Những câu hát phản chiến của TCS là những tiếng nói của tình cảm, không phải là một phân tách chính trị, không phải những hô hào chính trị. Đó chỉ là những giọt nước mắt, Giọt nước mắt thương đất, đất cằn cỗi bao năm, giọt nước mắt thương dân, dân mình phận long đong, thoát ra từ trái tim, mặc dù những giọt nước mắt đó, vì khả năng truyền cảm của nó, chắc chắn đã có ảnh hưởng đến chính trị, đến chiến cuộc.

 

chữ nghĩa ích gì

Từ những năm 64-65, chiến tranh càng ngày càng dữ dội. Xã hội càng ngày càng xáo trộn, tình hình chính trị càng ngày càng nát bét. Ngay cả trong bối cảnh đó, trường Văn Khoa vẫn sinh hoạt mạnh. Số sinh viên càng ngày càng đông. Ban giảng huấn đã rất tận tụy góp phần vào việc phát triển trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Cố nhiên, đó chưa phải là một trường đại học tân tiến, kiểu mẫu. Phương pháp giáo huấn còn cổ hủ, từ chương khoa cử, chưa thực sự có đối thoại, trao đổi giữa thầy và trò. Nhưng ngay cả ở Sorbonne, cũng vẫn còn cái cảnh ông thầy ngồi trên giảng đường, thao thao bất tuyệt, đám sinh viên ngồi dưới hí hoáy biên chép như các cụ đồ ngày xưa dạy học.

Nền giáo dục Việt Nam thời đó hoàn toàn miễn phí, từ mẫu giáo đến đại học. Trong một nước chiến tranh, thực hiện một nền giáo dục hoàn toàn miễn phí là một cố gắng đáng kể. Người ta có thể chê trách chế độ rất nhiều điểm, nhưng đó là một điểm son phải ghi nhận. Điểm son đó là nhờ ý thức của những người có trách nhiệm, hay nhờ truyền thống tôn trọng học vấn của một xã hội chịu ảnh hưởng Khổng giáo? Khổng giáo, ít nhất trên phương diện đó, có khía cạnh tích cực với xã hội VN. Điều chắc chắn: nếu không có nền giáo dục hoàn toàn miễn phí, hầu hết chúng tôi đã bỏ học từ lâu.

Một câu hỏi luẩn quẩn trong đầu tôi từ nhiều năm: một trường Văn Khoa đóng vai trò gì trong một nước chiến tranh? Sách vở ích gì cho buổi ấy ? (Nguyễn Khuyến). Bên cạnh bom nổ, thịt rơi, cái sống cái chết gần kề, có phi lý không khi ngồi đó mổ xẻ “Tứ thư ngũ kinh”, phân tích tư tưởng Socrates, tìm hiểu nguồn gốc chữ Nôm. Bên cạnh cái nghèo đói của một xã hội lạc hậu, có vô nghĩa không khi ngồi đó tụng niệm kinh điển bách gia, rung động với Lord Byron hay Beaudelaire? Sartre nói: Bên cạnh một đứa trẻ chết đói, cuốn La Nausée không có một giá trị gì.

Câu hỏi ấy lởn vởn trong đầu, rất nhiều năm, và tôi đã thực sự nhiều lúc hoài nghi, không tìm được câu trả lời.

Câu trả lời, mãi sau này tôi mới tìm ra. Câu trả lời tên là Céline, một cô bạn Pháp. Một buổi chiều thứ bẩy, tôi lên phi trường đón Céline từ Sarajevo về. Céline là một thiếu nữ thông minh, có bằng cấp, có chỗ làm tốt trong một công ty lớn, sống nhàn hạ trong cái xã hội hưởng thụ là cái xã hội Pháp. Weekend bay qua Madrid hay Marakech. Mùa đông trượt tuyết ở Courchevel, mùa hè nghỉ mát ở Bali hay Bora Bora. Tóm lại, cô nàng có đủ thứ để hạnh phúc. Nhưng thay vì hạnh phúc, Céline lúc nào cũng tất tả ngược xuôi, mệt mỏi cả thể xác lẫn tinh thần; nhất là tinh thần. Rồi thuốc ngủ, thuốc an thần, hết Lexomil đến Prozac.

Một buổi, Céline dẹp hết, bỏ việc, bán nhà, bán xe. Và biệt tăm. Adieu Céline. Cho đến cái hôm ở phi trương, tôi gặp lại Céline, nhưng một Céline khác, má rất hồng và miệng rất tươi. Céline nói sau khi vứt bỏ mọi chuyện, cô nàng gia nhập một ban hợp tấu, lưu diễn khắp nơi. Céline là một tay violon thiện nghệ, từ nhỏ vẫn mơ thành nhạc sĩ. Céline lãnh một số lương tượng trưng, đủ cà-phê, thuốc lá, vì ban nhạc thường đi trình diễn ở những nước nghèo. Họ vừa ở Sarajevo về. Trình diễn hòa tấu ở Sarajevo, nơi người ta giết nhau như ngoé, nơi người ta thí mạng để cướp một ổ bánh mì, một cái mền? Ở đó, người ta chờ bột mì, thịt cá, đường muối, bột giặt, aspirine, ai chờ Beethoven với Mozazt? Ban đầu, Céline cũng nghĩ như vậy. Nhưng đêm trình diễn nào cũng đông nghẹt.

Trong một ngôi nhà thờ đổ nát, một trường học còn đang cháy dở, mưa dột vì mái nhà bị pháo kích loang lổ, người ta chen lấn nhau tới nghe nhạc. Ban ngày, người ta chạy bom, giành giựt nhau miếng ăn, một mớ củi để sưởi. Đêm xuống, người ta kéo nhau đi nghe nhạc. Đàn bà lục hành lý, lôi ra những nữ trang, những bộ quần áo đẹp. Có ông thắt cà vạt chỉnh tề. Có bà vừa nghe nhạc vừa lặng lẽ khóc. Céline vừa chơi nhạc vừa cầm nước mắt. Cô nàng vừa tìm thấy hạnh phúc. Chưa bao giờ cô nàng thấy yêu đời như vậy, yêu mình như vậy. Lần đầu tiên, Céline thấy mình có ích. Cô ta tìm thấy hạnh phúc của mình trong cái hạnh phúc của người khác. Y chang tâm trạng của lớp người trẻ chúng tôi ngày xưa khi đi cứu lụt, đào giếng.

Céline nói có thấy tận mắt cái cảnh người ta lấy tờ báo che mưa nghe nhạc trong một ngôi nhà đổ nát, mới thấm thía cái câu quen thuộc của người Pháp: Người ta không phải chỉ sống bằng bánh mì.[9] Ngay cả trong những lúc khốn cùng, cái đẹp, cái thẩm mỹ không phải là một xa xỉ, vô ích. Cái đẹp sẽ cứu nhân loại, không phải Marx hay Lénine, không phải bin Laden hay Bush.

Cái đẹp sẽ cứu vãn nhân loại. Người ta đã từng giết nhau, hành hạ nhau, bỏ tù nhau nhân danh thượng đế, nhân danh chính nghĩa, nhân danh giáo điều, nhân danh đất nước, nhân danh đồng bào, nhân danh chân lý. Chưa bao người ta giết nhau nhân danh cái đẹp. Người ta giết nhau vì thánh kinh, vì Coran, vì Hitler, vì Mao, vì Mác, chưa bao giờ người ta giết nhau vì Picasso, vì Beaudelaire, vì Nguyễn Du. Sau này, khi giận hờn sẽ quên, những gì người ta nhớ lại về TCS là những bài hát, những câu thơ đẹp.

Cái đẹp sẽ cứu vãn nhân loại. Cái đẹp không phải chỉ là những tác phẩm văn hóa. Cái đẹp còn là, cũng là, nhất là tình người, một xã hội của những người tử tế, lương thiện. Đem cái dối trá, đểu cáng, bất nhân làm tiêu chuẩn cho đời sống là cách hữu hiệu nhất để làm tiêu vong dân tộc. Biến Xuân Diệu, tác giả của “tôi khờ dại quá, ngây thơ lắm. Chỉ biết yêu thôi, chẳng biết gì”, của “ít nhiều thiếu nữ buồn không nói, tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì”, thành một người gào thét, căm hờn “lôi cổ bọn chúng ra đây”, là thành quả ghê rợn nhất của công cuộc hủy diệt cái đẹp.

Ismail Kadaré nói ngay cả trong những lúc cực kỳ khó khăn vẫn phải có thái độ nghiêm trọng đối với văn hoá. Kadaré sinh ra, lớn lên và viết văn trong một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, ở một nước Cộng Sản độc tài bực nhất thế giới: Albanie. Kadaré viết văn trong một xứ kiểm duyệt khắt khe, một nước vỏn vẹn ba triệu dân, nghèo đói, người mù chữ đông hơn người biết đọc, biết viết. Và viết bằng tiếng Albanie. Mặc dầu vậy, ông viết văn với một thái độ cẩn trọng. Ngày nay, Kadaré được coi là một trong những nhà văn quan trọng nhất thế giới.

Nghệ thuật, cái đẹp có công dụng gì? Chẳng có công dụng gì. Nhưng đời sống không có cái đẹp sẽ buồn tẻ biết bao nhiêu. Bức tượng của Michel Ange, bức tranh của Van Gogh không có công dụng gì, nhưng hãy tưởng tượng một thế giới không có Michel Ange, Van Gogh. Hãy tưởng tượng Paris không có tháp Eiffel, New York không Nữ Thần Tự Do.

Nghe cô nàng Céline kể chuyện về những buổi trình tấu ở Sarajevo, tôi hiểu rằng trong một xứ chiến tranh, nghèo đói, một trường Văn khoa chẳng có ích lợi thiết thực gì, nhưng nó là cái cốt yếu cho một dân tộc còn muốn vươn lên.

 

đời sao im vắng

Tôi gặp lại TCS những ngày cuối cùng của năm 1999, khi về thăm Việt Nam. Sơn ngồi trước một cái bàn nhỏ, trong sân Hội Văn Nghệ Sĩ gì đó ở Sài Gòn. Vẫn nụ cười hiền lành, nhưng buồn bã, vẫn thái độ từ tốn, phong nhã,vẫn đôi kính đồi mồi nhưng trước mắt tôi là một TCS lục tuần bịnh hoạn, mệt mỏi, mặc dầu đôi mắt vẫn sáng lên khi nghe đến tin bè bạn. Sơn hỏi thăm tin tức về người này ở bên Tây, người kia ở bên Mỹ. Sơn nói về những người ở lại, kẻ mất, người còn.

Bơi trong cái áo sơ mi rộng thùng thình, Sơn nói: mình chỉ còn 39 kí. Sơn nói rượu đã tàn phá lá gan đến độ không có thuốc gì chữa nổi. Có người sẵn sàng đưa anh đi ngoại quốc giải phẫu gan nhưng anh từ chối. Sơn nói anh rất mệt, nhiều khi xây xẩm mặt mày vì bịnh áp huyết thấp (hypotension).

Vừa nói chuyện, Sơn vừa chào hỏi của những người qua lại. Vị nhạc sĩ lão thành, tác giả bài Dư Âm nổi tiéng hồi nào ở Hà Nội (Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ…) kể chuyện đi thăm bác sĩ, chuyện thuốc men. Nhạc sĩ Trần Tiến nói về đêm ca nhạc thành công tuần trước. Ông Vũ Hạnh chạy qua chạy lại hối bài cho một đặc san kỷ niệm “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước”.

Sơn ngồi đó, mỉm cười hiền lành, buồn bã. Tôi hỏi Sơn có tính đi ngoại quốc chơi một chuyến, nhân tiện chữa bệnh, dù tôi biết Sơn đang sống những ngày tháng cuối cùng. Nếu người nghiện rượu tiếp tục uống, dù có thuốc thánh, dù có gỉai phẫu gan cũng không thay đổi gì. Sơn không muốn nghỉ rượu, hay không nghỉ được. Sơn nói mình uống ít hơn trước nhiều. Sơn mỉm cười: mình sang đó, sợ các ông ấy đập mình. Rồi tiếp: sự thực thì ở bên Pháp không có vấn đề gì, bên Pháp ít có người quá khích; kỳ trước mình qua Pháp, anh em đãi ngộ rất tử tế.

Sơn tiếp: nói cho đúng, mình mệt lắm, có muốn cũng không đi được. Sơn nói, từ tốn, không lộ một chút xúc động. Anh đang ở một cõi khác, những cái lăng nhăng ở cuộc đời này không liên hệ gì đến anh nữa. Nghe tôi sắp đi Nhật, Sơn nhắc đến một cô sinh viên Nhật Bản đã làm một luận án về ngôn ngữ và chiến tranh trong nhạc TCS.

Khi tôi ra về, Sơn đưa cho tôi số điện thoại ở nhà riêng: “Ráng đến chơi, mình có chuyện muốn nói. Thằng em mình, biết cậu về, chắc nó mừng lắm”. Em Sơn ngày xưa cũng la cà ở quán Văn.

Tôi nghĩ Sơn muốn nói những gì không thể nói được ở một nơi có nhiều người qua lại. Tôi ân hận vì không có thì giờ tới nhà Sơn như đã hứa, vì phải rời Việt Nam ngày hôm sau. Tôi rời Sài Gòn ngày mùng 1 tháng giêng năm 2000. Thế giới đang bước sang một thế kỷ mới. Tôi gọi điện thoại chào Sơn. Anh hỏi: Cậu đi ngày đầu năm 2000, không sợ ‘“sự cố” à? Tôi nói sự cố nó sợ tôi chứ tôi sợ gì nó. Hồi ấy, ở Sài Gòn, người ta kỵ đi máy bay ngày đầu năm 2000. Sơn nói, giọng buồn: Nếu gặp lại X,Y cho mình gởi lời hỏi thăm; chắc mình không có dịp gặp lại anh em nữa. Ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè. Ngựa hồng đã mỏi vó chết trên đồi quê hương.

Mỗi lần nghe nhạc TCS, tôi nghĩ đến cái cô đơn cùng tận của người nhạc sĩ ngồi trước cái bàn nhỏ ngoài sân, mỉm cười với người này người kia, nhưng đầu óc ở một nơi khác. Sơn ngồi đó, cô độc. Một mình tôi về với tôi. Đem cái cô đơn của kiếp người nhân lên gấp mười, bạn có cái cô đơn của người nghệ sĩ, nhân lên trăm lần có cái cô đơn của người nghệ sĩ Việt Nam, nhân lên ngàn lần có cái cô đơn của TCS. Cái cô đơn của một người suốt đời ca ngợi tình yêu, tình đồng bào, ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau, mà cuối cùng bị chỉ trích từ mọi phía. Sơn ngồi đó, nâng niu cô đơn từng ngày…mà đời còn nhiều đắng cay (Vũ Thành An). Sơn ngồi đó, một mình, giữa nhiều người

Đời sao im vắng
Như đồng lúa gặt xong
Như rừng núi bỏ hoang
Người về soi bóng mình
Giữa tường trắng lạnh câm

Cái sân chỗ Sơn ngồi đông người qua lại, và ngoài đường xe hơi, xe gắn máy chạy loạn xà ngầu, nhưng Sơn ngồi đó, giữa tường trắng lạnh câm.

 

anh đã đến, đã vui chơi…

Sơn ra đi ngày 1 tháng tư 2001, hưởng thọ 62 tuổi. Sáu mươi hai tuổi, đời người như gió qua. Ở bên Pháp, ngày 1 tháng tư là ngày “cá tháng Tư” (poissons d’Avril), ngày người ta đùa nhau bằng những chuyện hoàn toàn bịa đặt. Báo cho một ông nhà văn hạng bét là ông ta vừa chiếm giải Goncourt. Thú với cô fiancée là đã có vợ với ba con, rồi sau đó cho hay đó chỉ là những cá tháng Tư, những chuyện đùa chơi.

TCS ra đi thật hay chỉ thả một con “cá tháng Tư”?

Sơn đã đến, đã vui chơi trong cuộc đời này. Bây giờ có lẽ anh đang bay cao trong bầu trời này. Nhưng, nhiều lúc, tôi tự hỏi có quả thật anh đã vui chơi trong cuộc đời này. Có bao nhiêu người Việt nam đã thực sự vui chơi trong cuộc đời này?
 

(Paris, tháng 3/2011)

 

 


[1] Xin lưu ý: Những tên tác giả trong bài viết này viết theo tiếng Pháp

[2] C’est la beauté qui va sauver le monde. Fiodor Dostoïevski, trích từ tiểu thuyết L’Idiot

[3] Charles Trenet (1913-2001), ca-nhạc sĩ Pháp

[4] Longtemps, longtemps, longtemps /Après que les poètes ont disparu /Leurs chansons courent encore dans les rues…

[5] Tư tưởng Phương Đông / Cao Xuân Huy. Nhà xuất bản Văn Học, Hanoi, 1995

[6] Le plus difficile c’était la fin du mois, surtout les trente derniers jours. Coluche, biệt danh của Michel Colucci (1944-1986), một nghệ sĩ Pháp, nổi tiếng vì tài dí dỏm.

[7] Trịnh Cung, Phan Thanh Tâm. Thế kỷ 21, May 2001

[8] Đất Mới, Saigon, 1966

[9] On ne vit pas que du pain/l’être humain ne vit pas seulement de pain (từ Thánh Kinh)

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

  • Hồ Sơn says:

    Không phải là một “fan” của nhạc Trịnh . Càng không quen biết nhạc sĩ để là “fan” của con người .

    Nhưng đọc các phản biện , tôi thấy những người như CÓ VẺ bênh vực Trịnh Công Sơn ở trên , không cho thấy gì là coi TCS như Thánh Kinh hay coi con người TCS như Thánh cả . Các phản hồi chỉ cho thấy thái độ / phản ứng về tính logic , phản hồi cách phản hồi , chứ không cho thấy phản hồi để nâng cao TCS . Nếu bình tĩnh và công tâm ghi nhận các “post” ở trên thì thấy điều đó . Tôi chỉ thấy các vị chống thì hình như hơi cực đoan (như kiểu cho rằng 600 bài hát là Thánh Kinh !!!???) hay quy nạp hơi nhiều (như kiểu cho rằng những người yêu nhạc TCS luôn muốn một Thánh Chiến !!!???). Tôi chẳng đọc đâu ra chữ Thánh cả , hay các vị dựa vào một yếu tố ngoài lề nào đó mà tôi không biết chăng ? Trong phản biện , tôi nghĩ cần có logic và đừng quy kết vội để ý kiến của mình mang tính thuyết phục hơn .

    Tôi không đọc thấy đâu trên đây cho rằng nhạc TCS hay TCS là một thứ âm nhạc thế giới hay ông ta là vị “cha già” dân tộc / quần chúng cả . Tôi nhớ rằng TCS vẫn coi mình là một người hát rong thì chúng ta cũng nên trả ông ấy về …nguyên vị trí như thế .

    Nay kính,
    Hồ Sơn

  • Vu Son says:

    Thi sĩ Lê Thị Thấm Vân quả là có sự nhạy cảm của một nhà thơ Việt . Từ chuyện cụ Hồ , cụ Rùa …mà qua cụ Trịnh thì đúng là bótay chấm “com” .
    Cho có một chút căn cứ , Thi Sĩ về Saigon làm một “survey” nho nhỏ thử : bao nhiêu người làm “tín đồ” của cụ Rùa , bao nhiêu người vẫn là “tín đồ” của Hồ , và
    bao nhiêu người , kể cả dân xích lô , lũ lượt đi đám tang Trịnh có là tín đồ tự nứng , tự hứng hay thi sĩ “tự trào” ? Hay thi sĩ nghĩ bao nhiêu chục đầu sách , các báo Văn Học , Văn, Hợp Lưu hải ngoại thay nhau ra 3 số đặc biệt TCS là theo chính sách của Đảng ?
    Tôi nghĩ , đừng nên đặt Trịnh Công Sơn quá cao , đừng đem “chả” ra “phạm trù thế giới ” làm gì cho …trật phạm trù . Bây giờ vẫn còn bao nhiêu tín đồ Beatles , Elvis , hay …Lady Gaga …những fan gào thét kia toàn là hàng tự nứng chăng, hoàn toàn không dựa vào một yếu tố nghệ thuật nào (vốn tự nguyện) ?
    Còn Rùa chỉ là một tin “chính trị” vẫn vơ thôi , đâu phải là thứ quần chúng VN đang thờ nhỉ , hay thi sĩ chỉ đọc vài bài báo rồi cứ cả tin ?

  • le tran says:

    Tóm lại, theo tôi nên diễu nhại bài thơ của thi sĩ Bùi Chát khóc nhạc sĩ Văn Cao:
    “Anh Văn ơi
    Hu hu hu!”
    Thành ra:
    “Anh Sơn ơi
    Hu hu hu
    He he he!”
    Là xong.

  • lê thị thấm vân says:

    Xẩm Xoan viết:
    “Nếu lê thị thấm vân không phải là “quần chúng” thì làm sao lại biết là quần chúng “khổ thân”?
    Có chắc là quần chúng “khổ thân” không, biết đâu lại sướng thì sao?
    Thử đào sâu thêm một chút, con rùa thì có đầu, có cổ (như người ta nói “rụt đầu rụt cổ như con rùa”), rồi có mai/mu. Vậy mà quần chúng có cả ba thứ, tức là có Cụ rùa, bác Hồ, nhạc Trịnh sống mãi trong quần… chúng, tùy hứng/nứng mà muốn xài thứ nào thì lấy ra xài. Vậy thì có gì là “khổ thân” đâu?”

    thấm vân không/khoan bàn về khía cạnh triết lý hay tâm lý mà chỉ xét về hậu quả của sự quá yêu và yêu quá lâu của “quần chúng” đối với cụ Rùa, bác Hồ, và nhạc Trịnh. Phong cụ rùa là vị thần bảo hộ quần chúng, bác Hồ là cha già (bất tử) soi đường cho quần chúng, biến 600 bản nhạc của họ Trịnh thành thánh kinh dẫn dắt quần chúng.

    À mà biết đâu vì nhờ Rùa-Hồ-Trịnh soi đường dẫn lối mà quần…chúng ta được xếp vào top 5 nước hạnh phúc nhất thế giới!!!!

    http://dantri.com.vn/c36/s36-335367/viet-nam-vao-top-5-nuoc-hanh-phuc-nhat-the-gioi.htm

    ~ ~ ~ ~
    đúng là…
    tự nứng
    tự hứng
    tự sướng
    tự thủ dâm
    dân tộc

  • Bao Tự says:

    Độc giả Nguyễn Hữu Khánh viết:”…Bài viết của ông Từ Thức đối với tôi thật sự là bài viết lớn.”
    Thật sự thì bài viết cuả TT cũng vừa vừa thôi, nhưng những góp ý cuả các độc giả như Trần Yên Bình, Nghiêm Dung, Trần Đăng Khoa hay Hồ Tấn Minh thì mới thật là “VĨ ĐẠI”!!!

  • Nguyễn Đăng Thường says:

    Đối tượng “Diễm Xưa”.

    Lần đầu tiên nghe Diễm Xưa tôi đã hòa mình/hòa tan vào bài hát. “Diễm” lúc ấy cό thể là một “người yêu cũ” của tôi, của mọi thính giả, vì “Diễm” còn nguyên là một cái bόng dáng thấp thoáng, một khuôn mặt mờ ảo, mơ hồ. “Diễm” lúc đό cũng cό thể làm biểu trưng cho Cái Đẹp, cho “vẽ đẹp” lãng mạng của những ngày xưa xa.

    Thế nhưng, từ khi “đối tượng Diễm Xưa” đã trở thành một “thực tế”, không còn là một “bí mật”, khi bí ẩn đã được/bị bật mí, khi Diễm không còn là một hình bόng, một khuôn mặt luôn luôn trống vắng để người nghe điền vào một khuôn mặt do chính mình lựa chọn, thì nό đã giới hạn trí tưởng tượng của người nghe, hay chí ít là với tôi. Vì Diễm đã/đang/sẽ mãi mãi thuộc về Sơn, dành cho một mình Sơn thôi. Giờ đây nếu cό nghe lại, tôi sẽ cό cảm tưởng mình là kẻ dòm qua lỗ khόa, kẻ nhìn trộm chuyện tình yêu/chuyện ân ái của kẻ khác nên không chỉ mất hết thú vị mà còn nghe ngượng nghịu.

    Mặt khác, những “người em” của/trong “Dư âm”, “Em tôi”, “Em đến thăm anh một chiều mưa”, “Nắng chiều”, thậm chí “Nụ cười sơn cước”, v.v… vẫn/sẽ mãi mãi còn là “người em gái” của người nghe, nghĩa là của mọi người. Khuôn mặt Diễm Xưa dưới nét mặt của “cô” Diễm ngoài đời cũng đã lấn lan sang các tình khúc khác của TCS khiến tôi… dị ứng!

    Sorry!

  • Trần Đăng Khoa says:

    Tôi nghe và nhìn TCS hát 1 lần vào năm 1984 tại giảng đường Đại học Tổng hợp (trước là Đại học Khoa học Sài Gòn). Tôi không còn nhớ ông hát bài gì chỉ nhớ cái không khí khó tả của vài trăm sinh viên. Cho đến lúc ấy chín năm đã trôi qua từ ngày sợi chỉ đỏ xuyên suốt được ngự trị một cách chính thống môi trường văn hóa nghệ thuật. Cái cảm giác nửa chờ đợi, nửa e dè khó tả của đám sinh viên ấy chứng minh một điều là những giá trị và niềm tin không dễ gì tàn lụi. Tôi nhớ rằng trong lúc chỉnh dây đàn TCS đã khảy giai điệu bài Quỳnh Hương bị cấm. Ôi sự phản kháng của người nghệ sĩ và mấy trăm con người gọi là trí thức chỉ có chừng đó. Nói như Từ Thức, “phải chi trong mỗi chúng ta chỉ cần 1 phần nhỏ Sakharov,..”

    Nhưng trong cái bóng thống trị của những sắc màu đấu tranh giai cấp (dù là lý thuyết), của chủ nghĩa dân túy lúc ấy thì sự hiện diện của người nghệ sĩ và giai điệu Quỳnh Hương lạc lõng có phải vẫn là điều tốt và hy vọng!

  • Nguyễn Đăng Thường says:

    Phố Trịnh & các em Diễm Xưa.

    Thời “Mỹ-Ngụy” ở Sài Gòn nghe nhạc “phản chiến/tuyên truyền” cό câu “người Việt nào da không vàng” tôi rùng mình nghĩ tới bọn con lai Á-Âu-Mỹ và Hitler và người Do Thái. Nay cό thêm khẩu hiệu “nhạc Trịnh đã cό trong máu người Việt qua nhiều thế hệ” khiến tôi lại nổi da gà rởn tόc gáy.

    Một “giên” mới trong dòng máu Việt? Trẻ sơ sinh đã cό “nhạc Trịnh” trong máu huyết? Thử máu ai nếu không thấy “nhạc Trịnh” thì kẻ đό không phải là Mít khô Mít ướt? Khiếp!

    Một “phố Trịnh” nếu không cό “bia Trịnh”, “phở Trịnh”, “mát xa Trịnh”, thậm chí… ị trịnh thì đêm đêm sẽ cό các em “Diễm Xưa” lấp lό dưới các hàng cây rất ư là… liêu trai/liêu gái!!!

  • Xẩm Xoan says:

    Có lẽ vì thấy bà con Da Màu tranh luận hăng quá (nhỡ ra lại cách mạng “Hoa Gì” thì nguy!???) Hội Đồng Nhân Dân tỉnh Thừa Thiên-Huế lại đành phải “chiều một suất”. Xin xem:

    http://phapluattp.vn/201103181221451p1021c1082/hue-dat-ten-trinh-cong-son-cho-con-duong-doc-song-huong.htm

    Huế: Đặt tên Trịnh Công Sơn cho con đường dọc sông Hương
    Nhiều trí thức đề nghị Hà Nội và TP.HCM đặt tên đường Trịnh Công Sơn.
    Ngày (17-3), HĐND tỉnh Thừa Thiên-Huế đã thông qua đề án đặt tên đường đợt VI, trong đó thống nhất việc đặt tên Trịnh Công Sơn cho một con đường chạy dọc sông Hương.
    ***********************
    http://phapluattp.vn/2011031805132748p0c1021/duong-trinh-cong-son-nhung-goc-nhin-dep.htm

    Đường Trịnh Công Sơn – những góc nhìn đẹp
    Con đường đầu tiên của Việt Nam mang tên nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn nằm sát dòng sông Hương ở Huế, rất đẹp với những khúc quanh mềm mại, cây xanh, nhà cổ và mặt nước xanh trong.

  • Nguyễn Đăng Thường says:

    Để chấm dứt “cuộc thánh chiến”!

    Con người tài hoa của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn quả thực là một cái mỏ vàng, một kho châu báu bất tận, bao nhiêu “tiết lộ” về ông cũng chưa vừa lòng bạn đọc và “fan”. Để chấm dứt những tranh cãi ngày càng vô duyên “anh đi đường anh tôi đi đường tôi”, nếu không luôn luôn ngược chiều nhau thì cũng mãi mãi song song không bao giờ gặp gỡ, cho nên thiển nghĩ của tôi là nhà nước nên tức tốc:

    1. Chánh thức gọi Huế là “thành phố Trịnh Công Sơn”, cầu Trường Tiền là cầu “Diễm Xưa”, sông Hương là “sông Gọi Nắng”, trường nhạc thành phố Hồ Chí Minh là “trường nhạc Trịnh Công Sơn”, biển/bãi biển Cap Saint-Jacques/Vũng Tàu là “Biển Nhớ”. Mỗi tỉnh cũng nên cό một đường Trịnh Công Sơn, hay một quảng trường Trịnh Công Sơn, hay một ga Trịnh Công Sơn, hay một bến Trịnh Công Sơn, v.v…

    2. Nếu nhà nước không/chưa làm thì tư nhân và các “fan” nên chung tiền/quyên tiền xây một “ngôi miếu Trịnh Công Sơn” rồi dần dà biến nό thành ngôi “Đền Trịnh Công Sơn” (như Đền Hùng chẳng hạn), một “viện bảo tàng Trịnh Công Sơn” treo tranh Trịnh Công Sơn và lưu giữ các di cảo, sách vở, tất cả các thứ cό “liên hệ” (liên quan) đến thiên tài nhạc Việt chỉ cό một không hai. Cũng nên cho ra đời một “tập san Trịnh Công Sơn” để phục vụ các “fan” của ông.

    3. Các loa phόng thanh thay vì rỉ rả các lời tuyên truyền nước đổ lá môn, nên phát thanh nhạc Trịnh Công Sơn và thơ Nguyễn Du (Kiều). Cái hay cái đẹp cu3a nhạc Trịnh thơ Du sẽ biến mọi công dân VN trở thành người tốt.
    Vân vân và vân vân.

    Về mặt thương mại nên cό:

    – khách sạn Trịnh Công Sơn
    – nhà hàng Trịnh Công Sơn
    – tiệm sách Trịnh Công Sơn
    – nhà hát Trịnh Công Sơn. v.v…
    – áo thun, áo thụng, quần bò, váy ngắn Diễm Xưa
    – áo quan Cho Một Người Nằm Xuống
    – kem đánh răng Hạ Trắng, bột giặt Hạ Trắng
    – kính cận, kính râm Nhìn Những Mùa Thu Đi
    – vòi tắm (douche) Mưa Hồng
    – bao an toàn Chìm Dưới Cơn Mưa, Hãy Yêu Nhau Đi, Lại Gần Với Nhau, Mỗi Ngày Cho Tôi Một Niềm Vui, Những Giọt Mưa Khuya, Tiến Thối Lưỡng Nan, Lặng Lẽ Nơi Này, Một Lần Thoáng Cό, Một Cõi Đi Về, Chiếc Lá Thu Phai, Tình Nhớ, Tình Sầu, Tình Quên… để khách chọn lựa mua và sử dụng cho hợp tình hợp cảnh.
    Vân vân và vân vân.

    Rất mong Mộng sẽ chόng thành Thực để “người người ra phố mời giao nụ cười” và “trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường”.

    Mong lắm thay!

  • thuy says:

    Tình cảm của khán giả cho người nhạc sĩ thay đổi theo thời gian và không gian. Nhớ ngày còn bé, chị tôi hát nghêu ngao bài Hạ Trắng, rồi tôi được chị cho đi cùng đến trường Luật để nghe Khánh Ly và TCS hát , anh bạn trai của chị lúc ấy chìu chị tôi nên cố ráng ẳm tôi lê thật cao để xem mặt cô ca sĩ mới nổi tiếng mà nổi tiếng như cồn với tóc dài chân trần. Cả một thế hệ say mê nhạc Trịnh. Rồi 30 tháng tư xãy ra, tôi chưa kịp trở thành người lớn như chị hai đã phải tử bỏ nghe nhạc Trịnh, ngoài bài Nối Vòng Tay Lớn lúc VC mới tấn công đài phát thanh cho phát thanh ra rã cả ngày mà tập làm quen những bài là lạ
    Mùa Thu rồi ngày hai ba, ta ra đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến
    hay
    Ở tận sông Hồng em có biết, quê hương anh cũng có giòng sông
    hay
    Cùng mắc võng bên rừng Trường Sơn , hai đứa ở hai đầu xa thẳm
    Nghe mãi cũng chàn, hát mãi cũng nhàm, những sáng tác mới bắt đầu xuất hiện với tiếng hát Lê hành, sinh viên y khoa có người cha đang học tập thật tốt ở nơi rừng sâu , với
    Cây lúa non chờ từng cơn mưa đổ
    Bông lúa trổ chờ nước đổ trên nguồn
    và những bài hát đại loại như thế
    Em ở nông trường, anh nơi biên giới
    hay
    Em ra đi nơi này vẫn thế, lá vẫn xanh…
    nghe nói là của Trịnh Công Sơn. TCS cũng tầm thường như thế sao? Tôi vỡ mộng từ đó. Cái hiệng tượng , huyền thoại về TCS- Khánh Ly mà các anh chị của tôi đã gieo vào đầu óc đứa bé con đã vỡ tan tành , có thể tôi nói sai một nửa vì chỉ có TCS, Khánh Ly đang ở bên kia bờ đại dương.
    Rồi qua Mỹ hiện tượng thần thánh hay thất vọng về TCS đã mất hết trong tôi. Chẳng có gì để ca ngợi hay thất vọng về người nhạc sĩ ấy. Ông cũng chỉ là một con người và tôi là một con người khác với cách nhìn đời khác với thời ông sống, với không gian khác thời ông sống. Vậy thôi.

  • Nguyễn Đăng Thường says:

    Cháu Hoa Nguyen ơi!

    Bác biết ca từ mới hay hết xẩy, cháu đã hát thử chưa mà chê khό hát? Bác hát cho con mèo của bác nghe nό khόc hu hu cả buổi chiều dỗ mãi không nín phải mua cho mấy cục kẹo chuối nό mới hết ngao ngao!

    Bộ cháu muốn gây rối chống Nhà Nước của Nhân Dân Ta à?

    Vì là lần đầu tiên nên Đảng ta và Tòa Án Nhân Nhân ta luôn luôn khoan hồng nên lần này chỉ tuyên án phạt cháu 50 năm biệt xứ!

    OK?

    Thân ái.

  • Phan Đức says:

    Nhân ông Từ Thức nói ý kiến của tôi “thực tế” thì xin được
    phép viết thêm,để khỏi bị hiểu lầm.
    Việc vinh danh TCS.mà nhà nước CSVN.cho phép làm là sự lợi
    dụng trắng trợn tên tuổi của nhạc sĩ họ Trịnh,dù ngay sau
    1975 họ lên án TCS.công khai và có tổ chức từ cán bộ chính
    trị,chứ không phải kiểu “tự phát” của quần chúng !
    Chính vì bị “sờ gáy” có tính đe dọa như vậy mà TCS.hết ảo
    tưởng về “cách mạng” mà trở nên thực tế hơn.Nói ảo tưởng là
    vì tâm lý con người thường ở trong tình trạng “đứng núi này
    trông núi nọ”,huống hồ nghệ sĩ đa sầu đa cảm !
    Thực tế là dưới chế độ chuyên chế CS.làm dân cũng đã khó rồi,
    mà làm người nổi tiếng lại càng không thể,trừ phi là anh hùng
    thực sự.Đòi hỏi TCS.làm anh hùng là có phần không tưởng.Do đó,
    TCS.đã”co vòi lại” mà không thể tự do sáng tác như trước 1975.
    Theo thiển ý tôi,đa số người dân miền Nam đều “ngây thơ” với
    cs.núp dưới mặt nạ “cách mạng”,chứ không chỉ mình TCS.
    Trong chiến tranh,họ có thể lừa gạt người nước ngoài để thắng
    trận thì không nói làm gì nhưng bây giờ họ tiếp tục lừa bịp cả
    dân tộc VN.là một tội ác không thể tha thứ !

  • Trinh - Trung Lap says:

    Cám ơn Tác giả Từ Thức đã cho những người yêu nhạc Trịnh, những ai muốn tìm hiểu về cuộc đời của Trịnh một bài tùy bút/hồi ký rất có giá trị.

    Bài viết hay và thật cảm động ! Tuy có điều bỗng dưng độc giả lấy làm đáng tiếc là Tác giả Từ Thức đã không thể đến thăm Trịnh trước khi từ biệt như được đọc trong đoạn kể sau : “….Khi tôi ra về, Sơn đưa cho tôi số điện thoại ở nhà riêng: “Ráng đến chơi, mình có chuyện muốn nói. Thằng em mình, biết cậu về, chắc nó mừng lắm”. Em Sơn ngày xưa cũng la cà ở quán Văn. Tôi nghĩ Sơn muốn nói những gì không thể nói được ở một nơi có nhiều người qua lại. Tôi ân hận vì không có thì giờ tới nhà Sơn như đã hứa, vì phải rời Việt Nam ngày hôm sau. Tôi rời Sài Gòn ngày mùng 1 tháng giêng năm 2000. Thế giới đang bước sang một thế kỷ mới. Tôi gọi điện thoại chào Sơn. Anh hỏi: Cậu đi ngày đầu năm 2000, không sợ ‘“sự cố” à? Tôi nói sự cố nó sợ tôi chứ tôi sợ gì nó. Hồi ấy, ở Sài Gòn, người ta kỵ đi máy bay ngày đầu năm 2000. Sơn nói, giọng buồn: Nếu gặp lại X,Y cho mình gởi lời hỏi thăm; chắc mình không có dịp gặp lại anh em nữa. Ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè. Ngựa hồng đã mỏi vó chết trên đồi quê hương….”

    Thật sự, những lời kể của những Tác giả có mối thân quen với Trịnh Công Sơn sẽ cho những người yêu nhạc Trịnh những dịp may mắn để “file” lại những dữ liệu đáng tin cậy về Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

    Nhớ lần đầu tiên đọc bài viết “Trịnh Công Sơn – Tham vọng chính trị” của Tác giả Trịnh Cung về Trịnh Công Sơn, bọn trẻ chúng tôi cảm thấy thật sốc trước những thông tin “không thể tưởng tượng được”, nhưng sau đó và cho đến giờ này, chúng tôi lại cảm thấy dường như đó là một bài viết duy nhất có tính “thẳng thắn” và “cụ thể” từ phía những tác giả “rất thân” với Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (mặc dù phải nói ngay là độ trung thực và tính nhân nghĩa của những thông tin đó là một điều làm cho độc giả suy nghĩ mãi….). Và cũng thật là đáng tiếc Tác giả Trịnh Cung lại không có câu trả lời nào cho độc giả thắc mắc từ bài viết ấy.

    Vì thế chúng tôi rất quý những bài viết như thế này của Tác giả Từ Thức, của Anh Hoàng Xuân Sơn trước đây, cũng như chúng tôi luôn mong ước được nghe những lời kể của Chị (ca sĩ) Khánh Ly, Họa sĩ Đinh Cường,….Chẳng hạn, tình cờ khi xem phim “Đất khổ” (pre 1975) do Trịnh Công Sơn thủ vai chính, chung tôi thấy có sự tham gia của Anh Hoàng Xuân Sơn trong danh sách casting, làm cho chúng tôi càng trân quý và tin tưởng những bài viết của Anh Hoàng Xuân Sơn hơn nữa.

    Xin chân thành cảm ơn sự lên tiếng của các Tác giả Từ Thức và Hoàng Xuân Sơn !

  • Chu Hà says:

    Tôi không dám chắc là chữ “fan” của tiếng Anh có bao nhiêu nghĩa và bao nhiêu cách dùng, nhưng nếu tôi nhớ không lầm thì trong làng nhạc Saigon trước 75, nhất là trong giới gọi là “nhạc trẻ” do Trường Kỳ, một người được xem là lãnh tụ Hippies Saigon (thiệt giả không ai biết / không cần biết) khởi xướng, hay xuất hiện thuật ngữ “tín đồ” (âm nhạc), chẳng hạn như ai mê thích hay sùng bái The Beatles quá thì rất lấy làm khoan khoái và hãnh diện khi được người ta hiểu và gọi mình là fan của The Beatles, rồi những người này sẽ khoan khoái và hãnh diện hơn, và đồng thời có khi lại còn tỏ ra, nói theo tiếng bây giờ là rất “chãnh” nếu được người ta xem/nâng cấp mình lên thành “TÍN ĐỒ” của The Beatles. Thế mới oách! Những “tín đồ” trẻ măng của The Beatles này, nam cũng như nữ, mặt mũi người nào người nấy lúc nào cũng ra vẽ sáng rỡ ra chiều như ta đây đang “đắc đạo”, đạo của/do âm nhạc, qua sự truyền đạt của “tứ đại giáo chủ” The Beatles.

    Từ đó tôi suy ra là không biết chữ “fan” và “tín đồ” có ăn nhậu gì với nhau hay không, nhưng theo tôi, người nào nâng cấp, biến “fan” thành “ tín đồ” trong vấn đề dụng ngữ tiếng Việt và phổ quát hóa cách dùng chữ “tín đồ” trong lãnh vực âm nhạc như thế quả là tài tình vì rõ ràng “tín đồ” mới chính xác hơn trong việc nói lên sự sùng bái, vì “fan”, theo định nghĩa trên Cambridge Dictionaries Online là:

    someone who admires and supports a person, sport, sports team, etc

    nghe quá nhợt nhạt, thiếu sự mãnh liệt và nhất là thiếu sự cuồng tín cần thiết so với chữ “tín đồ” vì theo tôi, nội hàm của “fan”, như định nghĩa trên, mới chỉ dừng ở mức ngưỡng mộ (admire) và ủng hộ (support) mà thôi.

    Rồi tôi lại thấy chữ “fanatic” trong tiếng Anh, mà định nghĩa của nó cũng trên Cambridge Dictionaries Online là:

    a person whose strong admiration for something is considered to be extreme or unreasonable

    và không hiểu là chữ này có dây dưa rễ má gì với chữ “fan” hay không, và nhất là việc cái người mà “sáng chế” ra chữ “tín đồ” để dùng trong âm nhạc đó, khi sáng chế ra chữ “tín đồ” này, ở giây phút đầu tiên của sự sáng chế của mình có nhìn thấy sự na ná về mặt mặt chữ cũng như về mặt nghĩa ngữ giữa “fan” và “fanatic” để rồi từ đó và nhờ đó mới búng tay kêu một cái boóc, eureka ra chữ “tín đồ” hay không thì tôi cũng không biết.

    Ghi chú một điều nữa là ngay cả trước khi có hiện tượng “xâm lăng” ào ạt của The Beatles vào Saigon, vào cái thời điểm mà nhạc Pháp cũng như tiếng và văn hóa Pháp còn giữ vai trò thống trị, đâu khoảng sau 1963, tức là sau khi đảo chánh, thì trong giới tuổi trẻ thành phố lúc đó người ta đã thấy cái khuynh hướng cuồng tín và cái ý muốn show off sự hảnh diện vì ta là như thế đó, và đồng thời phải làm sao cho điều đó nổi đình đám lên, đã xuất hiện rồi. Đó là sự kiện có một ban nhạc trẻ được thành lập và lấy tên (tiếng Pháp) là “Les Fanatiques”; ban nhạc này có Công Thành là ca sĩ, và ca sĩ Công Thành này hiện vẫn còn hành nghề ca trong sinh hoạt ca nhạc tại hải ngoại. Khi tự xưng như thế, ban nhạc trẻ này có đúng là cuồng tín âm nhạc như kiểu nói trên hay cuồng tín cái gì hay kiểu gì khác thì tôi cũng không rõ. Nhưng “máu” cuồng tín nói chung thì quả là đã có sẵn trong gene như sự “phát tán” của nó đã được thấy qua cái tên “Les Fanatiques”.

    Khi đọc câu hỏi:” Những người “yêu” / “mê” nhạc Trịnh Công Sơn cό bao giờ nghĩ mình cũng là một thứ dân “ghiền” không nhỉ?” (Nguyễn Đăng Thường) thì tôi bèn nhớ tới câu tuyên truyền “bất hủ” từ khối Cộng, đó là câu:”Tôn giáo là một thứ á phiện”, đồng thời liên hệ tới chữ “tín đồ” theo nghĩa nói trên, tôi phăng ra rằng biết đâu chừng Trịnh Công Sơn, tuy chưa thể là một thứ “đại giáo chủ” như John, Paul… của The Beatles, nhưng cũng là một thứ “giáo chủ” ở tầm vóc nhỏ hơn chăng?

    Ai đụng tới “giáo chủ” là có chuyện, là đụng ngay với một dàn “tín đồ”, một dàn “thánh ca tập thể” lúc nào cũng chực sẳn: như Hoàng Hải Thủy thì bị cho nào là:”ngôn ngữ mạt sát, ý tưởng kèm theo 1 loại chủ nghĩa âm mưu giật gân câu khách…” (Trần Đăng Khoa), và nào là “xưa còn hơn Diễm” (Nghiêm Dung); những người khác, kẻ thì bị “rất vớ vẫn và tầm thường” (Nghiêm Dung), kẻ thì “nó thô bỉ, hạ cấp sao sao ấy” (Trần Yên Bình), vân vân.

    Và vân vân…

    Tôi đoán chừng là cuộc “thánh chiến” này sẽ còn tiếp tục kéo dài triền miên bất tận như nó đã từng kéo dài từ bấy lâu nay nếu như trong vấn đề văn hóa nghe nhạc, người ta vẫn không hiểu thế nào là văn hóa nghe nhạc bằng, nói theo Hoàng Ngọc-Tuấn, “lỗ tai thưởng thức nghệ thuật “ (http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=11589).
    Lúc nào tư duy cũng đi trước.

  • Hoa Nguyên says:

    Cháu đọc bày này thấy hay, cách viết lạ, khác với bọn cháu. Đọc thêm còm của các cô chú, thấy các cô chú thừa nhiều thì giờ quá. Khen cũng bị chê. Mà chê cũng bị chê. Bác Nguyễn D Thường làm thơ hay, đặc bài hát mà sao khó hát quá. Hát không hay bằng đọc.

  • Đặng Hòa Bình says:

    Kính Anh Từ Thức: Một lần nữa xin Cảm ơn Anh đã viết bài báo để nhẳc lại kỷ niệm và tâm sự về lòng yêu mến Trịnh Công Sơn, người bạn của mình. Nói về lòng yêu mến thì luôn luôn đúng, và lúc nào cũngcần thiết.
    Kính mến,

    Kính gởi Nguyễn T. Đàn: Có được con đường cho Trịnh Công Sơn rồi thì CSVN còn phải phát hành một tem thư vinh danh TCS nữa. Phải có tem thư để quảng bá với thế giới mới đúng điệu tinh thần văn học nghệ thuật. Việt Nam chen lấn vô được WTO nhưng chưa biết vinh danh văn nghệ sĩ thì chưa văn minh chút nào cả.

  • dinhtan says:

    Kính cám ơn Damau đã dẫn link.Quốc nội vô mấy trang Người Việt Ngoại quốc khó khăn lắm!!!!
    khi “chui “được,khi chịu chết.Tôi lại dở Điện toán!!!
    Về Ông TCS phải nói là Nhạc của Ông trước 75 tôi rất thích,nhất là thời SV và lính.Riêng cá nhân TCS ,đứng về mặtcá nhân tôi thì trước 75 tôi hơi “nghi ngờ” vì không thấy được.Sau 75 thì “bận học” đến khi về “trần gian” một lúc tôi bắt đầu có “ác cảm” với Ông,cũng như “các ngài đấu tranh ở miền nam” Ô.Nuôi,Ô.Mẫm….mà ngày nay thì đã rõ.Tôi thuộc và hát “chơi” nhạc Trịnh rất nhiều,có cả đống băng,nay thì hư hết và càng già càng lú nên quên gần hết!!!!Đến khi nghe chính TCS hát bài “tiến thoái lưỡng nan” tôi thấy tội nghiệp Ông “Thiên tài vẫn lạc đường”!!! nên tôi từ bỏ “ác cảm” với Ông,chỉ thấy tội nghiệp.
    Đây là ý kiến và suy nghĩ cá nhân,mong Quí vị thông cảm,tôi luôn giữ mình là tôi,đã đi một đoạn đường khá dài rồi,vẫn giữ thế,ngày “về với cát bụi” gần kề.
    Xin cám ơn- Trân trọng

  • Nguyễn Đăng Thường says:

    Xin lỡi quí vị vì trong phản hồi trước đã cό lầm lẫn: Tác giả của nhạc phẩm Đàn Chim Việt là Văn Cao, Phạm Duy chỉ hợp tác trong “version” đầu Bến Xuân. Tôi cũng sực nhớ ra rằng mình cũng cό sửa đổi vài chỗ trong Đàn Chim Việt để biến nό thành Đàn Em Việt hay Đàn Em Bụi Đời.

    ĐÀN EM VIỆT

    Riêng tặng “fan” Nguyễn Cai Lậy
    của quê hương ổi xá lị và ốc gạo vàng
    đã thắp sáng tuổi thơ của một cây bút
    đang xa đàn.
    NĐT.

    1.

    Về đâu khi gió mùa hiu hắt
    Ôi lũ em giang hồ
    Tung gót chân mềm lạc loài trên khắp cố đô
    Từng đôi chân run bước vang tiếng chim u ù u ú…
    Mờ mờ trong nắng ven đường
    Quên bao cay đắng
    Như chim ca u ù u ú…
    Lệ nhòa xanh má ngày thơ
    Về đâu hoàng hôn gió mưa tơi bời
    Rời bến xe lam tìm nơi trú
    Tới đây anh thấy lòng ngập ngừng
    Nhớ ai mơ tháng ngày êm ái
    Từ nước non xa bao kiếp đời mịt mùng
    Ngoài bến xuân

    Thời gian trôi qua sáng sang trưa
    Mà anh còn nghe lòng anh xót lúc xa
    Anh tha hương nghe héo hắt oanh ca
    Bóng nhạn vào mây thiết tha
    Lưu luyến một trời xa

    2.

    Về đâu khi nắng chiều thoi thóp
    Ơi lũ em bụi đời
    Tung gót chân mòn lạnh lùng qua khắp các nơi
    Từng đôi chân run bước theo tiếng ca ơ ờ ơ ớ…
    Mờ mờ trong phố hoa đèn
    Chưa quen âu yếm
    Nghe ai ca ơ ờ ơ ớ…
    Lệ hờn thêm nóng ngày thơ
    Về đâu bờ sông vắng hay chân cầu
    Về mái hiên ai tìm nơi trú
    Tới đây anh thấy lòng thẹn thùng
    Muốn quên bao kiếp đời đen tối
    Từ nước non xa mưa nắng còn mịt mùng
    Ngoài bến xuân

    Thời gian trôi qua nhớ sang quên
    Mà anh còn nghe lòng anh xót lúc xa
    Anh tha hương ôm bóng dáng ngây thơ
    Bước nặng vào đêm gió mưa
    Thương nhớ một trời xa…

    Thân ái.

  • Nguyễn Đăng Thường says:

    Sáng tạo từ cái cũ.

    Xin phép cho tôi được nόi thêm đôi lời: Với “Diễm nay”, “Một ngục tù không da vàng”, thậm chí “Trở về cái chuồng xưa?”, tôi không nhại/diễu nhại ca từ của Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, mà chỉ… đặt lời mới. Ca sĩ, hay bất cứ ai đều cό thể hát các lời này mà không cảm thấy ngượng miệng. Mong rằng tôi không chỉ xây ảo mộng… hope against hope/hy vọng trong tuyệt vọng?

    Nếu Diễm Xưa là một ca khúc trữ tình về một cuộc tình buồn thì Diễm Nay là một bài ca hiện thực về một hiện tượng não lòng, trẻ mồ côi bụi đời trên quê hương chúng ta hôm nay. Một Ngục Tù Không Da vàng và Trở Về Cái Chuồng Xưa? cũng tương tợ.

    Phạm Duy đã viết hai lời ca, “Bến xuân” và “Đàn chim Việt”, cho cùng một bản nhạc. Bến Xuân là một chuyện tình thơ mộng tưởng tượng. Đàn Chim Việt là một chuyện nước nhiều nghẹn ngào của một đàn/lũ chim giang hồ trong cách mạng… “lưu luyến một trời xa” khi đã quá muộn. Phạm Duy cũng viết lời mới cho các ca khúc Tây phương.

    Oscar Hammerstein II (Mỹ, 1895-1960) viết lời ca và lời thoại mới cho vở đại ca kịch Carmen (1875). Carmen cô gái Tây-ban-nha của Georges Bizet (Pháp, 1838-1875) đã hόa thành nàng Carmen Jones một gái Mỹ da đen trong vở ca kịch (musical) cùng tên (1943).

    Văn chương thì Nguyễn Du (1766-1820) viết lại tiểu thuyết Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân (thế kỷ 17). James Joyce (1882-1941) viết lại thiên hùng ca Odyssey của Homer. Mới đây nhà văn Ý-đại-lợi Alessandro Baricco (sinh 1958) cũng cό viết lại thiên hùng ca Iliad của Homer bằng cách rút ngắn, bỏ hết những đoạn miêu tả, chỉ giữ lại các nhân vật chánh và để cho họ độc thoại như những chứng nhân mắt thấy tai nghe kể lại cuộc vây thành Troy trong mười năm. Một thành công rực rỡ.

    Chẳng hạn và chẳng hạn.

    Tόm lại, kẻ hèn này chỉ xin mượn các tên tuổi vĩ đại thượng kể để mong các quan tòa trên Da Màu gia ân giảm tội bay đầu xuống thành… chặt tay. Nếu được vậy thì kẻ hèn này xin cám ơn vô cùng và cũng xin “thề độc” trước vành mόng ngựa Da Màu rằng: chút lòng nho nhại từ nay xin… hổng chừa!

    Thân ái.

  • Đặng Hữu Phúc says:

    Một bài hát của Trịnh Công Sơn sau hiệp định Ba lê có câu– Hôm nay hoà bình sao mắt mẹ không vui?
    Trịnh Công Sơn và nhiều người khác không chịu nhìn thấy 20/7/54 hôm nay hoà bình mà mắt mẹ không vui . Hà Nội có 80 ngày để dân chúng tự do chọn ở lại hoặc ra đi và Hải phòng có 300 ngày .Để thu xếp máy bay , mãi 2 tuần sau , máy bay Pháp mới bắt đầu chở dân di cư.
    Dân miền Bắc di cư , máy bay Pháp chở 230 ngàn trong 66 ngàycác máy bay , đều tháo hết ghế ngồi để chở nhiều hơn. Tàu thủy Pháp chở 300 ngàn , tàu thủy Mĩ chở 350 ngàn . Dân chúng đi thuyền nhỏ tự túc 100 ngàn . Dân đi đường bộ qua Lào gần 100 ngàn.Hà nội giao lại cho bộ đội Cộng sản 10/10/54.( Đọc Việt Nam . Giáo Sư Lê Xuân Khoa)
    Kết quả, Bác Hồ vào Hà nội âm thầm trong bóng đêm, này nào sách vở CS không nói đế.
    Chỉ còn 6 ngày là tết đầu tiên tại Hà nội sau khi đất nước chia hai, Trần Dần 10 giờ đêm bỏ dở xem phim , từ rạp xi nê bước ra mà đường phố Hà nội vắng tanh không một bóng người.
    Hôm nay hoà bình sao mắt mệ không vui? Tại sao? Hỡi Hà Nội?
    Khi chiến tranh bắt đầu trở lại ở miền Nam , các giáo viên tiểu học ở miền quê là những người bị giết đầu tiên , để CS dễ bắtlính dễ tuyên truyền học sinh theo CS.
    Bà mẹ quê sau khi đóng thuế cho Cs , khi muốn khóc, đã phải chùm chăn qua đầu , rồi nằm khóc trong chăn.
    Trịnh Công Sơn muốn mẹ Việt Nam vui với hiệp định Ba lê , hay TCS muốn nối vòng tay lớn– miền Nam nhận họ , miền Bắc nhận hàng, là quyền tự do của TCS.
    Ở đây , tôi chỉ nói , 50 sĩ quan Thủ Đức mới ra trường tháng 10/1974, về Tỉnh Vĩnh Long , tron vòng 6 tháng , tính đến 30/4/ 75 đã bị giết 15 người. Đó là lí do sao hoà bình hiệp định Ba lê mắt mẹ không vui .
    Tóm lại muốn ca ngợi TCS kiểu gì thì tùy qúy vị. Nhưng ca ngợi TCS là tâm hồn nhân bản , trong sáng , mát mẻ , nghệ sĩ của tình yêu thương thì là ca ngợi tầm bậy , tầm bạ.
    Về việc VN sẽ đặt tên đường cho TCS , tôi thấy các bạn nên mở quán nhậu , hoặc quán bia ôm và đặt tên quán là SAO MẮt MẸ KHÔNG VUi.

  • NGUYỄN T. ĐÀN says:

    Anh Từ Thức : Bài viết của tôi đưa ra nhạc phẩm Tàu đi thống nhất con đường , đưa
    ra để dẫn chứng ngược lại lời anh vìết là : lời nhạc của TCS sau 1975 không hùa

    theo chếđộ. Chỉ đơn giản ! Tách tác giả ra khỏi tác phẩm , thì các tác phẩm :

    Tàu Đi ….., Em ở nông trường …., và Em còn nhớ hay em …. thì sẽ là tác phẩm

    đẹp ?

    ————————————————————————————–

    Mới đây tôi có đọc bản tin :

    http://mautam.net/forum/viewtopic.php?t=72439&sid=1d957d5d58beb2c23384f4113814708d

    Hội đồng n/d thành phố Huế đặt tên đường TCS !

    Nay mai, tại Sài Gòn sẽ có tên đường Huỳnh Tấn Mẫm, Trần long Ẩn, Tôn thất Lập…

    Tôi không ngạc nhiên !

  • Nguyễn Gia Thức says:

    Ông Trần Yên Bình đã dùng những lời rất nặng nề để chê trách bài
    parody của nhà thơ Nguyễn Đăng Thường giễu nhại lời nhạc Trịnh Công
    Sơn. Lời lẽ cũa ông Trần Yên Bình quá trớn khi dùng những từ như “thô
    bỉ”, “hạ cấp” để chê trách. Ông còn nói là “tội nghiệp cho cả văn
    chương chữ nghĩa của nhà văn/thơ Nguyễn Đăng Thường nữa”.

    Nhưng có lẽ ông Trần Yên Bình vì yêu Trịnh Công Sơn quá nên mất khôn,
    đâm ra cộc cằn vô lối, thiếu hiểu biết. Thật tội nghiệp cho ông Trần
    Yên Bình.

    Bút pháp parody không hề “hạ cấp” hay “thô bỉ” chút nào cả. Đây là một
    bút pháp có từ thời cổ đại trong văn học Hy Lạp. Nhà hài kịch
    Aristophanes đã dùng bút pháp này để giễu nhại Aeschylus và Euripides
    trong vở “Những Con Nhái”. Văn hào Tây Ban Nha Cervantes cũng dùng bút
    pháp này trong cuốn “Don Quixote” để giễu nhại những cuốn truyện hiệp
    sĩ huê tình đương thời. Nhà thơ Lewis Carroll cũng dùng bút pháp này
    để giễu nhại thơ của Robert Southey. Trong văn học cận đại và hiện đại
    còn có vô số ví dụ xuất sắc, kể ra không hết.

    Đề nghị trước khi góp ý, ông Trần Yên Bình nên suy nghĩ về trách nhiệm
    chữ nghĩa của mình. Nên học hỏi hay tìm hiểu cẩn thận rồi mới phát
    biểu. Khi sử dụng ngôn ngữ cũng nên tương kính. Những từ “hạ cấp” và
    “thô bỉ” là những từ không còn chút tương kính nào cả.

    Cũng đề nghị quý bạn Da Màu nghiêm khắc giữ đúng tiêu chuẩn mà Da Màu
    đã đề ra cho việc góp ý: “Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương
    kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành
    quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc.”

  • TỪ THỨC says:

    Cám ơn quý vị đã có nhã ý góp ý kiến. Tôi thấy có bổn phận phải phân bua đôi điều :
    ;
    1. NGUYỄN T. ĐÀN ( xin phép viết X,Y thay vì ông X, bà Y. Như khi nhắc đến một tác giả : Phạm Duy thay vì ông Phạm Duy )trách người viết ” cố quên đi, bỏ qua cái thật” không nhắc đến nhạc phẩm ” Tầu đi thống nhất con đường” do TCS sáng tác sau 75.Cái thiếu sót ấy đáng trách, nhưng thực sự là không cố tình.Bài viết không phải là một bài nghiên cứu, một tiểu sử ( hay đại sử ), cần chính xác, đầy đủ và khách quan. Tôi nghĩ việc ấy sẽ phải làm, vì dù thích hay không thích, có cảm tình hay ác cảm, khó phủ nhận điều TCS là một khuôn mặt văn hoá của VN hiện đại. Tôi không có khả năng, dữ kiện, và cái khách quan cần thiết để làm điều đó. Bài tôi viết là nửa hồi ký, nửa tuỳ bút. Hồi ký, tôi chỉ viết về những cái tôi đã sống, và ngay cả cái kỷ niệm ấy nó cũng rất chủ quan. Nó không phải là sự thực, nó chỉ là một cái nhìn rất riêng tư. Tuỳ bút, nó không tuân theo những luật định của khảo cứu. Nó tự do, lung tung, nó ngừng lâu ở một chi tiết vô bổ và bỏ quên cái chính yếu. Viết tuỳ bút khó, vì nếu kỹ thuật không vững và kiến thức nông cạn, như trường hợp bài này, rất dễ làm người đọc bực mình.

    2.VƯƠNG NGỌC MINH phẫn nộ khi nghe nhắc đến TCS,nghĩ đến ngày ông, ” hạ sĩ nhất, đánh trận đến ngày cuối cùng ” với đồng đội, nghe TCS ” nối vòng tay lớn ” trên đài phát thanh ”giải phóng’.Và đặt câu hỏi TCS cứu ai ? Tôi thông cảm và kính trọng sự phẫn nộ chính đáng của ông.Một người bạn thân của tôi cũng có thái độ tương tự . Nếu bài viết vô tình khiến ông và đồng đội, những người đáng phục và đáng kính, phật lòng, tôi thành thực cáo lỗi. Nhưng nếu đọc lại bài viết, ông sẽ thấy tôi không hề viết TCS cứu ai. Không có anh nghệ sĩ nào cứu ai. Họ cứu mình chưa xong, vì nói chung, nghệ sĩ là những anh trói gà không chặt. Cái câu ” cái đẹp sẽ cứu vãn nhân loại” của Dostoievski chỉ có ý nghĩa trừu tượng. Đại khái, như tôi ráng trình bày trong bài báo,nếu người ta yêu cái đẹp, người ta sẽ yêu đời hơn, muốn làm đời sống tốt đẹp hơn, xã hội chung quanh tốt đẹp hơn. Nếu chỉ biết căm hờn, chỉ biết cái đểu cáng, xã hội sẽ đồi bại. Còn cái đẹp là gì, mặt mũi nó ra sao, là chuyện riêng của mỗi người. Có người cho câu thơ Nguyễn Đức Sơn ” em chưa đái mà tôi đã ướt” tuyệt vời, có người chịu không nổi cái tục tĩu. Tôi có thể say mê một người đàn bà mà anh chịu không nổi ba phút rưỡi.Văn hoá, nghệ thuật không phải là một khoa học chính xác. Nó dòi hỏi sự khoan dung. Và sự khoan dung ,như cái đẹp,sẽ cứu vãn nhân loại.

    3.Tôigần như đồng ý với lối giải thích về thái độ của TCS của PHAN ĐỨC, một cái nhìn thưc tế về đời, về người

    4.Tôi cũng nghĩ như HỒ TẤN MINH, khi ông trả lời BÙI THỊ LÀI : thưởng thức một tác phẩm, chỉ nên nghĩ đến cái hay, cái dở của tác phẩm, không nên ” nghĩ xa” đến nguồn gốc đến đằng sau tác phẩm, nhất là những dư luận chưa chắc đáng tin cậy.

    5.NGUYỄN ĐĂNG THƯỜNG kết án TCS có trách nhiệm xa gần cả đến việc đàn bà Việt nam bị mang bán ra ngoại quốc, đàn ông Việt nam ế vợ, và đặt câu hỏi : hãy thử mang nhạc Trịnh công Sơn sang hát ở Trung Đông xem có cứu đươc…Lybia không. Trước lý luận đó, tôi ngọng, không biết phải trả lời thế nào. Chào thua.Di tản chiến thuật. Đầu hàng vô điều kiện.

    6.TRẦN ĐĂNG KHOA đặt câu hỏi chí lý : chúng ta chờ đợi gì ở nghệ sĩ ? Câu trả lời hiển nhiên : những tác phẩm đẹp.Chỉ những tác phẩm đẹp. Và nên tách tác giả khỏi tác phẩm. Ở Đức, WAGNER là một trong những cha đẻ cũa chủ nghĩa nazi, nhưng nhạc WAGNER vẫn được trình tấu, hâm mô.Ở Pháp, mặc dầu đã bị xử án và kết tội hợp tác với Đức Quốc xã, CÉLINE vẩn được ngưỡng mộ như một trong ba nhà văn đáng kể nhất của văn chương Pháp hiện đại . Và cuốn tiểu thuyết ‘Voyage au bout de la nuit’của CÉLINE được nhìn nhận là một tuyệt tác.
    Chúng ta không nên đòi hỏi ở nghệ sĩ cái gì khác hơn là những tác phẩm. Về TCS, lý tưởng nhất là TCS, sau 75, thất vọng không thấy ‘trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường’, đứng lên tố cáo những chà đạp nhân quyền, những trại cải tạo phi nhân, rồi vào nằm trong khám, hay chết trong khám. Nhưng không phải ai cũng là SAKHAROV hay SOLJENITSYNE hay LÊ THỊ CÔNG NHÂN
    Nếu chúng ta, tôi ,ông, bà, anh ,chị , mỗi người trong chúng ta có được một phầm trăm cái gan, cái đảm lược-không nói đến khả năng-của SAKHAROV hay SOLJENITSYNE, nước Việt đã không đến nỗi thảm thương như hôm nay.

    6.NGHIÊM DUNG nói đến thái độ dè bỉu của một vài vị. Có lẽ đó là dân tộc tính. Ngày xưa đi học, nhiều người đã thuộc lòng bài ” cái gì cũng cười ” của Nguyễn văn Vĩnh trong đó cụ Vĩnh mổ xẻ cái dân tộc tính ấy của người An nam ta

    7.Một lần nữa xin cám ơn các bạn khác đã góp ý kiến. Cám ơn ĐẶNG HOÀ BÌNH,TRẦN ĐĂNG KHOA, TRẦN YÊN BÌNH, NGUYỄN HỮU KHÁNH đã ” có lòng tốt ” khen ngợi. Sự thực, đó chỉ là một bài báo. Một bài báo viết lẹ, để đọc lướt qua rồi bỏ sọt rác.Viết trong một phút bốc đồng. May mà TRẦN DOÃN NHO đã bỏ công sửa, nếu không sẽ đầy lỗi chính tả, đầy những câu trích dẫn sai, râu ông nọ cắm cằm bà kia. Nếu biết bài báo được truyền đi, sao đi, gởi lại tùm lum trên Internet, chắc chắn người viết đã viết cẩn thận hơn, sáng sủa hơn, bớt luộm thuộm, quê kệch hơn. Nhưng quá trễ. Một lời buông ra, 4 NGÀN ngựa đuổi không kịp. Khổng tử nói 4 ngựa, nhưng hình như thời cụ Khổng chưa có Internet.

  • Nguyễn Đăng Thường says:

    Xin thành thật cám ơn ông Trần Yên Bình đã góp ý. Tôi, cũng như độc giả Da Màu, luôn luôn trân trọng mọi ý kiến, hay cũng như dở, đúng cũng như sai, để rộng đường dư luận. Góp ý của ông Trần Yên Bình tất nhiên là rất hay và rất đúng. Xin cám ơn ông Trần Yên Bình một lần nữa.

    Tuy nhiên cũng xin thưa, dù chắc rằng ông Trần Yên Bình cũng đã biết rồi: Nhại lại hay diễu nhại ngoài đời cũng như trong văn nghê,̣là một hành động đã có từ ngàn xưa trong mọi xã hội của loài người, chính thức hay không chính thức. Đó là một cách để sửa sai, sửa đổi, thường thường là từ phía của những kẻ yếu hay cô thế, trong gia đình, trong xã hội. Trên phương diện tâm lý hay phân tâm học thì là để giải tỏa những bực tức, dồn nén, v.v… Trong văn nghệ là để phảng kháng hay sáng tạo cái mới từ cái cũ, như Marcel Duchamp thêm râu cho nàng Mona Lisa của Leonardo Da Vinci, như Charlie Chaplin hóa thành Hitler trong phim The Dictator để chế diễu nhà độc tài, v.v… Picasso đã vẽ lại tác phẩm của các nhà danh họa Tây Ban Nha, v.v…

    Nếu ông Trần Yên Bình nhìn chung quanh, nhìn vào xã hội VN hôm nay thì sẽ thấy ngay sự nở rộ của diễu nhại, và tất nhiên ông sẽ biết, sẽ hiểu tại sao. Xin thưa: Không thiếu các câu thơ cổ điển, ca khúc “nhạc vàng” lãng mạn/lãng xẹt đã bị/được trẻ con hay người lớn sửa ca từ lại cho hợp với hoàn cảnh, với thực tế, khiến khi nghe mọi người đều cười xòa, hả hê, trừ ông Trần Yên Bình, dĩ nhiên.

    Ví dụ:

    Thúi nhiều là chị em là thúi lâu… (Kiều)
    Vân Tiên cõng mẹ trở ra… ̣(Lục Vân Tiên)

    Rung rinh rung rinh cái đít rung rinh…
    (Rung rinh rung rinh gánh lúa rung rinh… Phạm Duy)

    Ai đang đi trên bờ đê
    Té xuống sông ướt cái quần ni-lông
    Dô đây em chờ quần khô anh sẽ đưa em dìa
    (Ai đang đi trên bờ đê
    Tai lắng nghe muôn câu hò đê mê… Ngọc Cẩm-Nguyễn Hữu Thiết)

    Trịnh Công Sơn viết ca khúc Một Ngày Dài Trên Quê Hương để “phản ánh/tố cáo” xã hội miền Nam “Mỹ-Ngụy” đương thời, có câu: “Một ngục tù trên da vàng”. Nhận thấy ca từ của bài hát này không còn thích hợp với đất nước xã hôi VN hôm nay – và chắc đa số độc giả Da Màu cũng đồng ý với tôi – nên tôi “mạo muội” sửa lại cho hợp tình hợp cảnh, thế thôi. Bỡi lẽ trên quê hương chúng ta hôm nay vẫn không thiếu các ngục tù nhốt giam những người vô tội như Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy, Cù Huy Hà Vũ, Lê Công Định, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, v.v.. nên tôi mong ước “một ngục tù không da vàng”, thế thôi (bis).

    Nếu như ̣đọc các ca từ sau đây mà ông Trần Yên Bình thấy “bôi bác, thô bỉ, hạ cấp” thì đó là cái quyền bất khả xâm phạm của ông Trần Yên Bình:

    Nhìn lục bình trôi trên sông
    Nguời Việt Nam yêu nòi giống
    Nguời nhìn người quên uất hận
    Nhìn hình hài mới rất ngon…

    Một ngày nào trên quê cha
    Nguời Việt Nam như bừng sống
    Một ngục tù không da vàng
    Nguời Việt chào đón núi sông…

    Xin thưa với ông Trần Yên Bình rằng với tôi ông Trần Yên Bình đã được lòng trước ngay, và sẽ không bao giờ bị mất lòng sau.

    Lần thứ ba, đứa bôi bác, thô bỉ, hạ cấp này xin chân thành cám ơn và xin chúc ông Trần Yên Bình mãi mãi được yên vui.

    Thân ái.

  • Phan Đức says:

    Ô hay ông Trần Yên Bình này !
    Không biết ông lấy qưyền gì mà lên giọng dạy đời người
    khác nhỉ ? Nếu Damau chỉ cho phép nở 1 bông vạn thọ hay
    hoa “thúi địt”(xin lỗi nói cho có vẻ bản sắc…dân tộc)
    thì chán chết.Diển đàn này có phải cần người bảo vệ đạo
    đức không ? Hoàn toàn không.
    Tôi nhận thấy nhà thơ NĐT.không phải là nguỵ quân tử hay
    đạo đức giả kiểu Nhạc Bất Quần !

  • Xẩm Xoan says:

    Đọc mấy dòng chị lê thị thấm vân viết:

    Cụ rùa sống mãi trong quần chúng
    bác Hồ sống mãi trong quần chúng
    nhạc Trịnh sống mãi trong quần chúng

    khổ thân quần chúng

    tôi hoang mang quá, nên lại nghĩ đến câu chuyện xưa, Trang Chu đối đáp với Huệ Thi, mà ai cũng biết:

    Tử phi ngư, an tri ngư chi lạc?
    Bác không phải cá, sao biết niềm vui của cá?

    Trang Tử cùng Huệ Tử dạo chơi trên cầu sông Hào.
    Trang Tử nói: “Cá du ra chơi thong thả, đó là niềm vui của cá”
    Huệ Tử đáp: “Bác không phải cá, sao biết được niềm vui của cá?”
    Trang Tử nói: “Bác không phải tôi, sao biết tôi không biết niềm vui của cá?”
    Huệ Tử nói: “Tôi không phải bác, không biết bác đã đành. Nhưng bác vốn không phải cá, thì hẳn là bác không biết được niềm vui của cá”.
    Trang Tử nói: “Xin nói lại từ gốc. Bác hỏi tôi sao biết được niềm vui của cá, thế là bác đã biết tôi biết mà hỏi tôi. Tôi thì biết điều đó ở trên sông Hào nầy”.
    Trần Văn Chánh dịch

    Xin phép thưa trước là tôi không có ý định “phản biện” gì, chỉ nhân tiện là chị lê thị thấm vân đã “bình” thì mình cũng “loạn” thêm một chút cho vui, cũng chỉ là tát nước theo mưa mà thôi.
    Nếu lê thị thấm vân không phải là “quần chúng” thì làm sao lại biết là quần chúng “khổ thân”?
    Có chắc là quần chúng “khổ thân” không, biết đâu lại sướng thì sao?
    Thử đào sâu thêm một chút, con rùa thì có đầu, có cổ (như người ta nói “rụt đầu rụt cổ như con rùa”), rồi có mai/mu. Vậy mà quần chúng có cả ba thứ, tức là có Cụ rùa, bác Hồ, nhạc Trịnh sống mãi trong quần… chúng, tùy hứng/nứng mà muốn xài thứ nào thì lấy ra xài. Vậy thì có gì là “khổ thân” đâu?

  • Trần Yên Bình says:

    Tôi nhận thấy ông Nguyễn Đăng Thường cũng có văn tài, thi tứ hùng hậu. Ước chi ông dùng “tài năng” ấy mà sáng tác thì tôi tin sẽ thành công hơn là ngồi chọn chữ để nhại lời bài hát a, b, c, d… Nhại lời như vầy làm thấp hẳn đi giá trị câu chữ ông nặn ra; dù ý nghĩa ông gửi gấm trong đó có cao thấp, sáng tối thế nào đi chăng nữa.

    Thú thật, đọc lời hát bôi bác của ông Thường sáng chế tạo, cảm nhận đầu tiên là tôi thấy (xin lỗi trước là tôi nói có khi thô thiển) là nó thô bỉ, hạ cấp sao sao ấy. Quý mến văn tài thi phú của ông, tôi xin ông dành công sức mà tự sáng tác để người đọc mười phương được thưởng lãm cái mới, cái hay nguyên thủy văn tài ông. Còn như ngồi gò câu chữ như bài “Ngục tù không da vàng”, đọc nó, tôi tội nghiệp tôi, và (xin lỗi trước nếu không đúng) là tội ngiệp cho cả văn chương chữ nghĩa của nhà văn/thơ Nguyễn Đăng Thường nữa. Lời thật mất lòng, nhưng thôi thì cứ nói, mất lòng trước được lòng sau!

  • Nguyễn Đăng Thường says:

    Một ngục tù không da vàng
    Nhạc: Trịnh Công Sơn
    Lời: Nguyễn Đăng Thường

    1.
    Một người già đi ăn xin
    Một đại gia xây lầu mới
    Một người ngồi xơi tô phở
    Một người nhìn thêm đau khổ.

    Một thằng nằm khoe thân khô
    Chờ lửa thiêu da thịt nó
    Môṭ thằng cười trông nham nhở
    Một thằng về chơi phố cổ.

    Mẹ liệt nằm hai ba năm
    Không ai gần
    Đợi giờ sông nước dâng
    Một màu chì trên da nhăn
    Trôi cả rồi đồng lúa chín quê hương.

    Một ngày nào trên quê ta
    Ngày cộng ma thôi tàn phá
    Một ngọn cờ không máu đỏ
    Một đàn bò tươi luống cỏ.

    Một ngày nào trên quê cha
    Người Việt Nam như bừng sống
    Một ngục tù không da vàng
    Người Việt chào đón núi sông.

    2.
    Đời muộn phiền như trôi xa
    Rồi từng đêm vui nhộn quá
    Người Việt nhìn không xa lạ
    Người Việt nhìn nhau vui mừng.

    Nhìn lục bình trôi trên sông
    Người Việt Nam yêu nòi giống
    Người nhìn người quên uất hận
    Nhìn hình hài mới rất ngon.

    Mẹ Việt về thăm trăm con
    Nghe êm đềm
    Gọi hồn sông núi thiêng
    Một màu hồng trên da con
    Thơm mãi màu màu áo gấm quê hương.

    Một ngày nào trên quê hương
    Bầy trẻ thơ nay đã lớn
    Một nguời già rưng rưng nhìn
    Nguời già nhìn non nước lặng.

    Một nguời ngồi quên thương đau
    Cuộc buồn vui nâng ruợu cúc
    Nhìn nụ cười trên mai vàng
    Mẹ Việt về với các con…

  • hoàng-xuân sơn says:

    Tôi cũng hi vọng như bạn Sung đó chỉ là 1 cái tin của Cá Tháng Tư ?! Nhưng người cung cấp tin là nhạc sĩ du ca Phan Ni Tấn, một đồng hành của Nguyễn Đức Quang : không biết hư thực thế nào ?

    HXS

  • vương ngọc minh says:

    Thưa ông/ bà Nghiêm Dung, sau khi đọc xong bài viết của ông Từ Thức, cách đây vài ba hôm, tôi có viết phản hồi, thuần chỉ muốn hỏi ông/ bà Từ Thức có chắc đồng bào bỏ hết công ăn việc làm đi đưa đám ông Trịnh công Sơn là do bởi cái đẹp! thúc đẩy không? nhưng! vì lí do này khác/ nọ kia cái phản hồi ấy đã không được post lên (!)
    Thực, vạn bất đắc dĩ, chuyện khen/ chê, thích/ không thích ở đây thì đã hẳn, thưa ông/ bà Nghiêm Dung, ông/ bà đã nêu tên thì tôi cũng xin thưa rằng- tôi không hề thích nhạc ông Trịnh công Sơn, trước giờ và sẽ mãi mãi; lí do rất giản dị, thưa ông/ bà Nghiêm Dung, vâng! cái đẹp(nếu có!) trong nhạc của ông Trịnh công Sơn, nó cứu vớt ai chứ không hề cứu vớt gì được tôi cả, trong khi tôi đi lính, hạ sĩ nhất, thuộc sư đoàn 18, từ năm 70, tôi đi đánh trận, miệt mài ở Bình Long/ Phước Long, An Lộc, Bình Dương, Bến Cát, An Điền cho đến trận cuối cùng, mặt giáp mặt với cộng quân ở Xuân Lộc dưới sự chỉ huy của tướng Lê Minh Đảo, thì bấy giờ, ông Trịnh Công Sơn và bè bạn ông rục rịch sau đó chạy tới chiếm đài phát thanh Sài Gòn, ngay cái ngày tôi bị bắt tại mặt trận 30 tháng tư, để cùng hát nối vòng tay lớn, với ai? chắc ông bà Nghiêm Dung cũng tỏ.

  • Nguyễn Đăng Thường says:

    Những người “yêu” / “mê” nhạc Trịnh Công Sơn cό bao giờ nghĩ mình cũng là một thứ dân “ghiền” không nhỉ? Ghiền như nghiện cà phê, thuốc lá, phở, thịt chό, mắm tôm, rượu, bài, gái, á phiện, ma túy… vân vân. Kẻ ngồi đáy giếng nhạc Trịnh tất nhiên chỉ thấy “vùng trời nào đό” – trong trường hợp này thì là… vùng trời nhạc Trịnh. Lũy tre, con đê làng, ao sen, thậm chí hoa/đόa sen cό thể là “cái đẹp” là “quốc hoa” của/trong cái nhìn chủ quan mà thôi. Nόi cách khác, Truyện Kiều, Diễm Xưa không hẳn là/phải là cái hay, cái đẹp cho cả thế giới.

    Xin thưa: Không chấp nhận ý kiến của người khác rồi chụp cho họ cái mũ “ghen tức” là “suy bụng ta ra bụng người” đό ạ, nόi vậy là để tránh nόi hoạch toẹt là “độc tài” như… cái đảng ma quỷ nào đό. Với một số người, thịt chό mắm tôm rất tuyệt vời, nhưng nό không hợp khẩu vị của đại đa số dân chúng Tây Âu-Bắc Mỹ chẳng hạn. Thịt heo cũng cό thể rất tuyệt vời với dân chúng Âu-Á nhưng nό lại là mόn cấm kỵ đối với người Hồi Giáo. Một người bạn VN của tôi thì không ngửi nổi mùi thịt cừu (kebab), vân vân.

    Ngoài ra, thiển nghĩ cái đẹp không “cứu” thế giới mà cό thể ngược lại, là thế giới hay con người “cứu” cái đẹp, bằng cách bảo vệ/giữ gìn – hay hủy diệt tàn phá. Trên bình diện/gόc cạnh nhỏ hơn, cái đẹp của văn chương nghệ thuật cό thể cứu vãn một hay nhiều cá nhân riêng lẻ, như một tù nhân chẳng hạn, khi đọc tác phẩm của Nguyễn Du hay nghe một bản nhạc của Trịnh Công Sơn trong xà lim hay ở trại cải tạo. Yves Bonnefoy đã tuyên bố “thơ cό thể cứu vãn thế giới”.

    Anh/nhà thơ Diễm Châu (đã khuất bόng) bạn chơi thân với tôi, đã dịch bài tiểu luận mang cùng tên cho đăng trên Tiền Vệ để phổ biến. Vì không đồng ý với nhà thơ người Pháp tôi không đọc bài tiểu luận nên không biết Bonnefoy cό chứng minh (“thơ cứu vãn thế giới”) hay không. Bức Guernica “phản chiến” lừng danh của Picasso đã không ngăn chặn được chiến tranh trên thế giới thì nόi chi cứu vãn. Khẩu hiệu “cái đẹp cứu thế giới” cό thể là một biến thái xuất phát từ khẩu hiệu của Bonnefoy? Nếu muốn “chiết tự” cho dzui thì Yves Bonnefoy cό nghĩa là: Yves-anh-chàng-cό-Đức Tin.

    Tôi không muốn dài dòng hơn vì đây chỉ là phản hồi, gόp ý, không phải là tiểu luận. Cό thể nόi tôi thuộc số người đã được “diễm phúc” nghe nhạc Trịnh Công Sơn trước tiên, trước khi chàng thực sự nổi tiếng, và chính tôi đã mách cho một phόng viên truyền hình ngoại quốc tìm gặp/phỏng vấn Khánh Ly. Lúc ấy nếu tôi nhớ không lầm thì cô đòi 500 đồng cho mỗi bản nhạc hát để thu thanh. Tôi đã mua băng nhạc cassette “chui” Trịnh Công Sơn/Khánh Ly đầu tiên, giá 500 đồng (số tiền khá to lúc ấy). Tên các bản nhạc trong danh sách đánh máy chữ, trước khi cό các băng cassette thương mại thẩm mỹ hơn.

    Tôi không “thù ghét” hay “ganh tỵ/ganh tức” nhà nhạc sĩ tài hoa của chúng ta được đám đông yêu mến. Một, hai bài nhạc Trịnh nghe lại tôi vẫn thấy bùi tai. Nhưng với tôi hôm nay nhạc Trịnh Công Sơn đã thuộc về quá khứ vì ở hải ngoại tôi cό quá nhiều thứ để nghe, từ cổ điển, opera, nhạc nhẹ, nhạc thời trang đến hip hop, country, soul, rock… Tόm lại, thiển nghĩ của tôi là một kẻ sáng suốt luôn luôn biết phân biệt giữa ưa/yêu thích và sùng bái. Sùng bái cό thể biến ta thành bom người dễ như chơi, hay trong trường hợp này… dễ như nghe nhạc Trịnh vậy.

    Thân ái.

  • Nguyễn Hữu Khánh says:

    Phạm Duy một nghệ sĩ lớn ba mươi năm sống riêng tây với nổi cô đơn của mình, Trịnh Công Sơn một nghệ sĩ lớn ba mươi năm sống riêng tây cùng với nổi cô đơn của mình. Bài viết của ông Từ Thức đối với tôi thật sự là một bài viết lớn.

  • TỪ THỨC says:

    Ông bạn Hoàng Xuân Sơn, trong mail trước, cho hay Nguyễn Đức Quang đã ra đi. Có lẽ Sơn, hay người cho tin, lầm với một ông Quang khác. Nguyễn Đức Quang ”Du Ca”, cho tới chiều hôm qua, Chủ nhật, 14/03, vẫn nằm trong nhà thương, khu đặc biệt, nửa mê nửa tỉnh. Cầu mong và hy vọng Quang qua khỏi và trở lại với anh em.

  • Trần Tâm says:

    Là một thi sĩ, tôi tưởng Nguyễn Đăng Thường “sâu” hơn trong mấy vụ “Diễm” (Đẹp) này!
    Nghệ sĩ cảm nhận cái đẹp khác nhau, theo mỗi cách riêng. Có người thích hiện thực, có người thích trừu tượng, có người thích máu me, có kẻ thích thơ mộng.
    Tôi đọc thơ tù Thanh Tâm Tuyền, thấy cái đẹp của “mưa bay lất phất” chứ không thấy cái tối tăm xiềng xích.

    Có kẻ ca ngợi cái đẹp của tuyệt vọng (rực rỡ ).
    Có nghệ sĩ chọn ca ngợi cái đẹp của tia nắng, hạt mưa … khi đứng trong đổ nát.

    Đó là một chọn lựa bất khả xâm phạm.

    Có rất nhiều người nói với tôi, hay trong các bài viết (trên tienve) chẳng hạn, rằng Hà Nội bây giờ chẳng còn đẹp, khi người dân rất lỗ mãng, quang cảnh nhếch nhác. Tôi đứng trước sự nhếch nhác ấy, vẫn thấy Hà Nội đẹp trong những mảng tường loang lổ, tạo ra những matiere như tranh. Trong đổ nát ấy, tôi thấy Hà Nội đẹp trên ‘mái ngói thâm nâu,’ mặc cho chó … ỉa vỉa hè. Ai cấm tôi cảm nhận và viết ra cái đẹp đó.

    Nhà văn Kawabata có một cuốn truyện nhan đề “Đẹp và Buồn.” Biết đâu trong cái ĐẸP, người đọc có thể nhìn ra cái BUỒN chẳng hạn Nỗi buồn cũng đẹp. Gạch đá cũng đẹp. Tùy tâm thế, tâm thức kẻ diễn đạt nó. Đâu ai bắt nghệ sĩ phải tả thực bãi cứt chó trên đường bao giờ?

  • Nghiem Dung says:

    Kính nhà văn / thi sĩ Nguyễn Đăng Thường :

    Hình như những ý kiến kiểu này (có lẽ ,của cả tôi) cũng đã đi xa với bài viết về TCS , vốn từ một hồi ức nào đó .

    Trân trọng
    (một độc giả damau.org)

  • Nguyễn Đăng Thường says:

    Ông Trần Đăng Khoa viết: “Cám ơn Từ Thức, tôi cũng tin là cái đẹp sẽ cứu thế giới.”
    Vì vậy tôi đã đặt ra câu hỏi: “Cái đẹp của ca khúc Trịnh Công Sơn để cho ai, đã cứu vãn được cái gì?” Và vì tôi đã đặt ra câu hỏi ngu si như thế và không hoan hô nhạc Trịnh cả bốn tay nên được ông/bà Nghiem Dung khen là “vớ vẫn và tầm thường”, “thiếu sự sâu sắc”, “ghen tức nào đó chăng, đối với một cá nhân nghệ sĩ”. Xin thưa: Cá nhân tôi không cần “ghen tức” ai cả vì tôi rất hài lòng (không cό nghĩa là “tự hào”) với con người tầm thường của mình. Tôi không bao giờ “mơ thành người Quang Trung”, hay thành Bác Hồ, hay Tướng Giáp, hay Trịnh Công Sơn, hay Nguyễn Du, hay bất cứ ai… Những cái vinh quang sáng ngời đό cá nhân nhỏ bé, nhỏ nhoi, nhỏ mọn của tôi không kham nổi. Xin nόi thêm rằng đây không phải là lần đầu tiên trên phản hồi tôi được tặng cho cái đức tính “ghen tức”.

    Riêng về lời tuyên bố “cái đẹp sẽ cứu thế giới” thì tôi chưa rõ đό là cái đẹp nào. Thế giới không thiếu những cái đẹp nhưng chúng đã cứu vãn được những gì, những ai? Nếu đό là cái đẹp của nhạc Trịnh – nhạc Trịnh để cứu thế giới – thì tôi rất hoan nghinh và xin chúc lành cả hai miệng, xin hãy mau mau đưa các ca sĩ của ta qua các nước Trung Đông hát nhạc Trịnh để cứu… Lybia chẳng hạn, thay vì gởi súng đạn rất cần thiết cho dân chúng đang nổi dậy đòi tự do, dân chủ. Thiển nghĩ của kẻ tầm thường, vớ vẫn, thiếu sự sâu sắc, hay ghen tức này là ở VN hiện nay rất dư thừa những “cái đẹp”: thắng cảnh Chùa Hương, vịnh Hạ Long, sân gôn cỏ non xanh rợn chân trời, khách sạn năm mười sao, chợ hoa, pháo hoa, hoa hậu, siêu mẫu, siêu sao, gái chân dài, mông to, vú bự, vân vân và vân vân, nhưng sao cái quê hương xinh đẹp của ông nhạc sĩ họ Trịnh ngày nay trông xa cũng như nhìn gần vẫn “thê thảm” quá dzậy cà? Hay là kẻ hèn này mắt lé mà hổng hay?

    May thay Truyện Kiều, Diễm Xưa mỗi cái chỉ cό một không hai. Nếu không thì sẽ hạnh phúc cho sinh viên học sinh, khán thính giả của ta và của thế giới biết là nhường nào!

    Trân trọng.

  • Nghiem Dung says:

    Tôi cảm thấy thất vọng bởi những “responses” của các vị Lê Thị Thấm Vân, Nguyễn Đăng Thường và Vương Ngọc Minh . Có một cái gì đó rất vớ vẫn và tầm thường trong sự diễu nhại đó . Tôi thích những sự trả lời mang tính bổ túc , dẫu “bênh” hay “chống” , nên có một cái gì đó để người đọc ghi nhận hơn là “diễu” và bỏ lửng , đùa cợt , thiếu sự sâu sắc . Đành rằng, văn chương thời thế cần tính khôi hài đen hay trắng . Nhưng lý luận cần sự trầm tĩnh trong ghi nhận . Nghệ thuật đến với “quần chúng” và “quần chúng” đến (lại) với nó một cách tự nguyện . Tôi nghĩ không ai làm khổ ai . Nếu có sự đồng cảm thì điều đó rất tuyệt vời . Nếu không, thì chẳng chết ai . Chẳng ai có thể nhân danh ai , nhất là nhân danh “quần chúng” (!) để nói về nghệ thuật hay một cá nhân nào đó . Đời Nhất Linh để lịch sử xử thì TCS cũng có một ..cục Lịch Sử bự tổ chảng để vác lên núi như Sisyphus của Camus . Ban Đăng Thường hoàn toàn có lý với cá nhân nếu cho rằng nhạc TCS rất dở , dở hơn nhạc Vũ Quốc Việt chẳng hạn , nhưng nếu cứ rỉ rả kiểu Cộng – Quốc Gia như Hoàng Hải Thuỷ thì xin thưa , xưa còn hơn Diễm . Hãy trả lại cho cái đẹp đúng với thời đại , cảm quan Mỹ Học của thời đại nó sinh ra đời , và tôi nghĩ điều đó là đủ .

    Cái đẹp đó không có một nhiệm vụ cứu vãn ai . Nếu có sự đồng cảm , thì nó đã mang thông điệp (cảm tính) đến với người đó . Đầy đủ . Nếu có sự ghen tức nào đó chăng , đối với một cá nhân nghệ sĩ, thì điều đó càng hoàn toàn không cần thiết . Nó chỉ nói lên sự vượt thời gian của những sáng tác đó mà thôi .

  • Nguyễn Đăng Thường says:

    Xin hỏi:

    Cái đẹp của ca khúc Trịnh Công Sơn để cho ai, đã cứu vãn được cái gì?

    Cánh bướm TCS vỗ trong thập niên 60 cό thể đã gόp phần không nhỏ vào sự xáo trộn, đảo ngược lịch sử xã hội đất nước quê hương VN, với hệ quả là vài thập kỷ sau gái Việt bị xua bay sang các nước láng giềng làm máy quét, máy nấu, máy rửa, máy giặt, máy đẻ với cái giá rẻ mạt vài ngàn đô la, rẻ hơn giá bán một xe máy, một cái xế nhập khẩu. Trai làng, trai Việt bị ế vợ, không còn đối tượng để lập gia đình, làm mất sự quân bình, nòi giống tiên rồng cό thể sẽ bị diệt chủng hay đồng hόa.

    Dù muốn hay không nhạc Trịnh đã cό mặt, không ai cό thể phủ nhận điều đό.

    Vấn đề là cό nên viết bài để ca tụng chàng mãi mãi hay không?

  • Trần Yên Bình says:

    Xin chân thành cám ơn tác giả. Bài viết thật thú vị, giá trị cao, nhắc nhớ cho tôi “ngày xưa hoàng thị. Ông Trịnh Công Sơn là người nghệ sĩ chân chính sống theo vận nước nổi trôi. Bên cạnh thiên tài về nhạc, thơ văn, họa… ông còn là một người Việt nhân cách cao sang, đáng kính trọng. Những người được may mắn quen biết gần gũi với ông, thấy tận mặt, bắt tận tay cung cách sống ứng xử của ông, đều tâm phục khẩu phục khi nhắc đến nhân cách ông. Tôi tin những chê bai, ghen ghét nào đó nếu có đến tai ông bây giờ; cũng như trong quá khứ; ông chỉ cười nhẹ nhàng nhìn mông lung “để gió cuốn đi”. Cách phê phán xa gần không đúng con người thật của ông, sẽ “phôi pha” thôi, cái đẹp làm thăng hoa cuộc sống mà ông Sơn để lại cho hậu thế đang/và sẽ tồn tại lâu dài. Một “Diễm xưa” không bao giờ xưa; và chỉ có một “Diễm xưa” của Trinh Công Sơn mà thôi. Bất cứ bôi bác nào về ông thì xưa rất nhanh.

  • Trần Đăng Khoa says:

    Tôi thật không thoãi mái khi đọc bài của Hoàng hải Thủy. Một kiểu ngôn ngữ như vậy nghe rất quen tai sau 1975 tại miền nam. Hóa ra những người gọi là đối lập với cái ngôn ngữ ấy cũng chẳng khá gì hơn. Nội dung tương tự cũng tìm thấy trên T2T, ngôn ngữ mạt sát, ý tưởng kèm theo 1 loại chủ nghĩa âm mưu giật gân câu khách…Buồn thật.

    Về TCS thì bản thân tôi ngày trước cũng không thích, với những tin đồn xung quanh cá nhân ông ấy trong thập niên 80-90 ở Sài Gòn. Trải nghiệm cuộc đời hơn thì tôi tự hỏi và nay hỏi cả những người ghét bỏ và mắng chửi ông ấy: Chúng ta đòi hỏi gì nữa nào ở 1 nghệ sĩ.

    Cám ơn Từ Thức, tôi cũng tin là cái đẹp sẽ cứu thế giới. Sẽ không còn nước Việt buồn của người nghệ sĩ đã ra đi.

  • Nguyễn Đăng Thường says:

    Diễm nay

    Nhạc: Trịnh Công Sơn
    Lời: Nguyễn Đăng Thường

    Mưa vẫn mưa bay, trên đời đόi khổ,
    Bàn tay em bé thuở mắt xanh xao.
    Nghe đόi nghe đau đeo mòn gót nhỏ,
    Ðường dài hun hút cho bước thêm đau.

    Mưa vẫn hay mưa, trên hàng mái nhỏ,
    Buổi chiều ngồi ngó những bước chân đi.
    Trên buớc chân em, âm thầm đόi khổ,
    Một đời đau buốt ai người xót xa?

    Điệp khúc:

    Chiều nay còn mưa trên em thơ dại,
    Đόi mãi trong cơn đau vùi.
    Làm sao có ăn, hằn lên nỗi đau,
    Đόi đau ơi xin rời nhau!

    Mưa vẫn hay mưa, cho đời khổ cực,
    Nào ai cό nhớ những đứa con côi.
    Xin hãy xua mưa qua miền đất mộng,
    Ðể nguời đau khổ quên mình khổ đau.

    Mưa vẫn hay mưa, cho đời khốn nạn,
    Làm sao anh biết chân bé không đau?
    Xin hãy xua mưa qua miền đất mộng,
    Ngày nao sỏi đá sẽ thành chén cơm?

  • TỪ THỨC says:

    gởi Hoàng Xuân Sơn
    Rất mừng được tin bạn. Bài viết ra là của chùa, các bạn muốn xài cứ tự tiện.Nếu trả tiền bản quyền thì trả DA MẦU, 7,8 chục ngàn dollars gì đó.Cám ơn bạn khen hay,nhưng đọc lại, tôi thấy những đoạn hay là những chỗ trích thơ và nhạc của…Trịnh Công Sơn.Ngoài ra là kể lể tào lao,dông dài cho vui thôi, cũng là một cách gợi lại những ngày đã mất.Xin cho tôi e-mail để liên lạc ( nhờ các anh Da Mầu chuyển dùm ).
    Xin cám ơn những bạn và quý vị khác đã cho ý kiến, sẽ xin được trả lời sau.

  • hoàng-xuân sơn says:

    Chào bạn Trần Công Sung !

    Bài viết của Từ Thức hay. Và cảm động. Tôi là Hoàng Xuân Sơn, cựu văn khoa, cựu quán văn; bạn của Ngô Vương Toại,Trịnh Công Sơn,Hoàng Ngọc Tuấn, BBTrúc, PQBảo v.v.Hồi xưa cũng thường hay gặp bạn ở văn khoa hoặc quán Văn, hoặc cái tổ kén Sử Địa của Phạm Quân Khanh. Mới nghe Phan Ni Tấn cho hay Nguyễn Đức Quang đã ra đi ( buồn thật), cũng như các “cụ” CPS đã lần lượt ra đi : Điểu, Lộc . . .
    Tôi có viết 1 cái phóng bút về thời kỳ thơ mộng của bọn trẻ mình thời đó dưới tựa đề Cũng Cần Có Nhau (có đăng vài kỳ trên Da Màu). Mai mốt có in sách, xin phép được in bài này của Từ Thức trong phần Ngoại tập về bằng hữu được không ?
    Cám ơn bạn trước . Mong tin .
    Thân mến,
    HXS

  • vương ngọc minh says:

    – thực ra, cái đẹp không hề tồn tại tại việt nam kể từ sau 1975.
    Xin chư vị vào http://www.nguoi-viet.com đọc bài: Lỗi là “lỗi hệ thống.” của Song Chi.
    Vậy, tôi nói- ngày nay nhạc trịnh còn việt cộng còn.

  • lê thị thấm vân says:

    Cụ rùa sống mãi trong quần chúng
    bác Hồ sống mãi trong quần chúng
    nhạc Trịnh sống mãi trong quần chúng

    khổ thân quần chúng

  • Nguyễn Đăng Thường says:

    Tương lai
    (Bản mới)

    Truyện Kiều còn
    Tiếng nước ta còn
    Cần thêm nhiều từ ngoại quốc

    Bác Đảng còn
    Dân tộc ta còn
    Cần thêm tự do bác ái công bằng

    Diễm Xưa còn
    Nhạc tình ta còn
    Cần thêm ca khúc rap phảng kháng

    Nhân đây xin cám ơn anh tranbuiphat cho link Hoàng Hải Thủy-Trịnh Công Sơn rất thú vị. Thân ái.

  • Nguyễn Đăng Thường says:

    Tương lai

    Truyện Kiều còn
    Tiếng nước ta còn
    Cần thêm nhiều từ ngoại quốc

    Đảng Cộng sản còn
    Dân ta còn
    Cần thêm tự do bác ái công bằng

    Diễm Xưa còn
    Nhạc ta còn
    Cần thêm ca khúc rap phảng kháng

    Nguyễn Đăng Thường

  • tranbuiphat says:

    Để có mot cái nhìn chính xác xin mời đoc bài mới nhất của Hoàng hải Thủy qua link sau http://hoanghaithuy.wordpress.com/2011/03/09/linh-tan-hang/

  • Ho Tan Minh says:

    Đúng rồi , Lài ơi . Chuyện nào ra chuyện đó .

    Nếu phán xét con người của TCS thì không nói đến vậy . Con người “celebrity” thì chẳng nói sao cho vừa , không chỉ riêng mình ên …TCS. Riêng chúng ta còn bao nhiêu ông Nguyễn, ông Phạm, ong Văn, ông Du …

    Còn nếu nói về âm nhạc , một bài hát … thì yêu cứ yêu, hẳn chi phải “quê” !

    Nếu đúng, thì hẳn đã sao nhỉ . Thời bạn Lài , ông Đỗ , đi thanh niên xung phong, khối bài thơ ca tụng, bây giờ làm thơ ..”phản động”, thì cũng “chuyện …thường tình thế thôi”!

    NẾU Ông TCS có làm theo đơn đặt hàng đi nữa, thì cứ như bao nhiêu ông Văn , ông Nguyễn … thời miền Bắc . Sống với CS, Đôi khi không thỏa hiệp (lẫn thơ ngây) , thì cũng chưa chắc được. Hay Lài muốn TCS làm anh hùng chiến sĩ thay vì nhạc sĩ , không làm bài …SG rỉ rả cho Lài buồn chiều mưa biên giới . Cái ĐẸP trong tác phẩm , trong câu hát , nếu có với riêng Lài, thì bây giờ , nếu trong một phạm trù mỹ cảm xưa cũ, thì nó có chuyển thành DỞ và XẤU không nhỉ ?

  • Chu Hà says:

    Thiệt là thương cho cái “kẹt và buồn gì đâu!” của Ms. Bùi ở phản hồi trên. Thôi thì hãy để cho lệ rơi lả chả hay đầm đìa máu lệ gì đó đi Ms. Bùi ơi, chứ biết sao giờ… Trời bên ngoài đang mưa mà đọc phải Ms. Bùi như trên thì không khỏi chạnh lòng, muốn vô 6 câu hết sức… Tui nói thiệt đó nhen…

  • Bùi Thị Lài says:

    @ Ho Tan Minh

    “Lài ơi,

    Nếu Lài cứ thưởng thức nghệ thuật , không chỉ trên văn bản, mà đi tìm tông tích ra đời thì cũng kẹt cho …nghệ thuật lắm .”

    Thật tình thì Lài không cố công đi tìm tông tích ca khúc này, công đâu mà làm chuyện đó chứ?

    Vụ phát hiện ra chuyện này chỉ là tình cờ; số là Lài được tặng quyển sách “Võ Văn Kiệt, người thắp lửa” nên đọc cho qua ba ngày xuân, chẳng may đọc được đoạn này nên nhớ, và nghĩ rằng nên nói ra cho mọi chuyện minh bạch rõ ràng, chuyện nào ra chuyện đó; nói ra thì hơi kẹt, như ông Ho Tan Minh có ý trách, không nói ra thì ngậm mà nghe một mình cũng khó chịu, nên đành nói vậy!

    Lài nghĩ, lúc này chúng ta nên nói thật, không bịa đặt, không dối trá và thỏa hiệp, thì dù có đau lòng cũng ráng chịu vậy, cho quen!

    Bùi Thị Lài

  • Ho Tan Minh says:

    Lài ơi,

    Nếu Lài cứ thưởng thức nghệ thuật , không chỉ trên văn bản, mà đi tìm tông tích ra đời thì cũng kẹt cho …nghệ thuật lắm . Lỡ mai này, phát hiện ra (từ một nguồn tin nào đó ), bức tranh Guernica của Picasso là …đơn đặt hàng của một vị cao cấp Cộng Sản nào đó , mà thấy “quê một cục” thì …kẹt thật .
    Dẫu sao, cũng “cám ơn” Lài …lại góp công “thắp lửa”, chắc lần thứ …100 cho kỷ niệm 10 năm ngày mất TCS . Không hoành tráng như cách bạn Lài năm nào, Trịnh ….Tui rất thích cách viết rất typical của Lài , khen trước , dập sau. Vui !

  • Phan Đức says:

    Theo những gì tôi biết thì nhạc sĩ họ Trịnh sau 1975 trở về sinh sống ở
    Huế,tuy nhiên ông với thân xác mảnh khảnh không thể chịu đựng nổi việc đi
    lao động mà bất cứ cơ quan,trường học nào thời đó ở Huế cũng phải làm như
    trồng khoai sắn,đi thủy lợi v.v.Ngay cả có lần ông phải tham gia đi gỡ mìn
    ở những vùng giao tranh trước đây để dọn đất cho việc sản xuất !
    Thế là ông thoát khỏi Huế và trở lại Sài Gòn.Và chính nơi nhà ông tạm trú ở
    đường Duy Tân thì ông Võ Văn Kiệt lúc đó còn là chủ tịch Uỷ ban ND.Thành phố
    thường đến nghe nhạc ông hầu như mỗi cuối tuần.Có thể ông VVK.tìm đến nhà họ
    Trịnh như một cán bộ làm công tác “trí thức vận” vì biết rõ ông là nhạc sĩ nổi
    tiếng và được giới có học ở miền Nam yêu mến.Vậy thì có thể có sự “đền ơn đáp
    nghĩa” ở đây vì TCS.được ông VVK.cho nhập hộ khẩu ở SG.từ Huế (rất cách mạng,
    bảo hoàng hơn vua!) mà thời đó việc này rất khó,chứ không phải như hiện nay.
    Thật ra,họ Trịnh có làm những bản “xu thời” như Huyền thoại mẹ,Em ra đi v.v.thì
    cũng có thể hiểu được.Theo thiển ý tôi,ông không đến nỗi qúa xu nịnh như nhiều
    người khác,lộ liễu và trơ tráo hơn nhiều !

  • NLT says:

    “Cô Thắm về làng” của nS Giao Tiên?

  • Bùi Thị Lài says:

    Đến bây giờ, Lài vẫn yêu thích ca khúc “Em còn nhớ hay em đã quên” của Trịnh Công Sơn. Yêu mà buồn vì nỗi yêu đó!

    Lài nhớ mình đã xúc động như thế nào khi nghe nó trong những buổi chiều ở xa SG, nhớ SG quay quắt, khi ngồi trên một cái đồi hoang ở vùng kinh tế mới Bà Rịa, hay trong một cái chòi rách nát bên con kênh An Hạ.

    Ông đã tả một Sài Gòn thật đẹp và buồn. Lúc đó Lài thấy như ông viết cho mình, hay cho những người phải xa SG; bất kể người trong nước hay hải ngoại gì ông cũng mang lại cho họ một nỗi niềm hoài niệm tuyệt đẹp như nhau.

    Ai mà không yêu những lời đẹp buồn và tha thiết như thế này http://vietnamesesong.phanvien.com/song8251/em-con-nho-hay-em-da-quen.html
    qua giọng hát Khánh Ly cơ chứ?

    Và riêng mình, Lài cũng có ý nghĩ có khi đó là lời ông nhắn gởi cho Khánh Ly, người hát nhạc của ông.

    Hôm nay, cầm trên tay cuốn sách “Võ Văn Kiệt, người thắp lửa” của nhà xuất bản Trẻ, Lài đọc trang 37, xin trích nguyên văn như sau:

    “…ca khúc ‘Em còn nhớ hay em đã quên’ nhiều người vẫn lầm tưởng Trịnh Công Sơn viết để tặng Khánh Ly. Sơn tâm sự: ‘Khi ấy mình mới từ Huế vào Sài Gòn. Anh Sáu Dân gợi ý mình đi thực tế nông trường Thái Mỹ cùng nhiều văn nghệ sĩ Sài Gòn. Khi thấy có quá nhiều trí thức bỏ TP ra đi, anh Sáu Dân bảo: ‘Này, Sơn viết cái gì đó kêu gọi trí thức ở lại. Tôi nghĩ cậu có thể làm tốt việc này’. Thế là mình viết ca khúc ‘Em còn nhớ hay em đã quên’.”
    (Lê Văn Duy)

    Lài không biết Lê Văn Duy là ai và độ chính xác về tính trung thực của đoạn văn trên. Tuy nhiên, nếu nó đúng thì sao?

    Ừ, nếu nó đúng thì sao? Nếu nó đúng, Lài thấy mình, và chắc cũng nhiều người nữa, đã bé cái nhầm về hoàn cảnh ra đời và đối tượng mà ca khúc này nhắm vào.

    Thấy tội nghiệp và bẽ bàng cho sự hồn nhiên của mình, thấy mình quê một cục bự chảng, và khâm phục cái tài hoa, sự thức thời, và tính nhạy bén của nhạc sĩ.

    Nhưng mà lỡ thương rồi thì biết mần răng đây?

    Thiệt là kẹt và buồn gì đâu!

    BÙI THỊ LÀI

  • Nguyễn T. Đàn says:

    Trong phần nghệ sĩ và cuộc chiến, ông Từ Thức chắc quên nhạc phẩm : Tàu đi thống nhất
    con đường, được đăng trong giai phẩm Xuân 1976 cuả tờ Đối Diện , xuất bản sau 1975, do
    linh mục Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan chủ trương. Được Cộng Sản cho phép tái bản, tiếp
    nối từ tờ Đứng Dậy ( chỉ trong một thời gian đầu như tờ Tin Sáng ). Hầu như ít ai, h
    hoặc người ta cố tình quên đi đứa con này của TCS. Cũng như nhạc phẩm Em ở Nông Trường,
    Em ra biên giới được giải nhì cuộc thi âm nhạc thành phố HCM năm 1980 hay 1981 gì đó

    ( không nhớ rõ năm) … Thành ra, bảo rằng lời nhạc của TCS sau 1975 không hùa theo
    chế độ là tôi thấy hơi lạ.

    Đồng ý bài viết này là về kỷ niệm của những người bạn cùng thời với TCS, tôi cũng không
    phủ nhận tài năng âm nhạc của TCS, nhưng vì bài viết này trên tờ Da Màu, cho nên tôi
    cũng muốn nói lên những sự thật đã xảy ra, và những tiếng nói đã không nói được ở
    trong nước cũng như những cái xác còn vất vưỡng đâu đó ở biển đông, không siêu thoát
    được.

    Bài viết cảm động nhưng nó bị bỏ quên cái sự thật, tôi thấy it nhiều mất đi cái đẹp
    cái hay của nó.

  • Nhạc Trịnh Công Sơn và tôi .

    @ Nhìn toàn cảnh âm nhạc xã hội miền Nam trước 75 ,nhiều nhạc sĩ,nhiều đề tài nhiều thể loại. Nếu đại đa số dân chúng trong Nam thích hát vọng cổ , nghe cải lương , ca tân nhạc ” Lòng mẹ” của Y Vân , “Khúc ca ngày mùa” của Lam Phương, “Cô Thắm về làng” Hoàng Thi Thơ, “Gặp nhau làm ngơ”, “Anh về với em” Trần Thiện Thanh …, thì một phần giới sinh viên học sinh , quân nhân công chức ở thành phố, họ ưa chuộng nhạc TCS. Tui cho là chỉ một phần. Vì ngoài TCS, còn khối nhạc sĩ tài danh khác .

    @ Sau 75, tui đi tù ttct vì có dính dáng tới quân đội VNCH. Một ngày nắng chói, giữa rừng sâu vùng Bù Gia Mập Phước Long . Bọn tui đang đốn cây phát hoang . Tui cất tiếng hát : ” Gọi nắng ….. trên vai em gầy đường xa …” Thì bạn bè xung quanh phản đối : ” Nắng nóng thấy mẹ , mầy còn gọi nắng , gọi cái gì mát mát dùm tao cái coi ! “. Ở giữa rừng tù, dường như chả mấy ai hát nhạc TCS. Có cái gì đó không hợp lắm.

    @ Định cư ở Mỹ . Trong các dịp tổ chức vui chơi lễ lộc tại nhà hàng, mọi người hay hát nhạc karaoke hoặc live giúp vui. Một lần, tui đã “đăng ký” lên hát bản ” Như cánh vạc bay ” của TCS . Phải nói , lần đó : ai hát hát , ai ăn ăn, ai la la. Hồn ai nấy giữ , đường ai nấy đi. Quê thiệt. Thằng cha lên sau tui, chả chơi ” Xin anh giữ trọn tình quê ” của Nhật Ngân . Nhà hàng nổ lớn . Bà con yeah! yeah ! vổ tay bắt nhịp rùm trời. Đố ai hát nổi nhạc TCS trong không khí tưng bừng của đám cưới, đám ăn mừng, tân niên, tất niên , tết v.v…

    @ Lời nhạc TCS có nét đẹp riêng. Theo tui , cái đẹp cũng nhiều dạng. Người hợp cái này , người hợp cái khác. Hoặc thích một lúc cả nhiều thứ. Cái đẹp trong nhạc TCS có lẽ gần gụi với nét thanh tú mong manh mênh mang trong tranh, trường phái Ấn Tượng Impressionism của Claude Monet. Người con gái với dáng dấp mờ nhạt hư hao xanh gầy. Nhìn từ sau lưng. Nhìn ngang dáng ngồi. Hơi buồn buồn, chìm lắng. Hiếm thấy nụ cười, khuôn mặt rạng rỡ.

    Hình như, trong cảnh cực khổ vất vã lao tác mệt nhọc, không hát nhạc Trịnh. Ấy, trong cả không gian vui mừng tưng bừng, cũng khó hát nhạc TCS.
    Nhạc TCS hát cùng với không khí thích hợp. Vài ba đứa bạn con trai con gái, trong căn phòng căn gác văn nghệ. Có cà phê , có thuốc lá . Có chút suy tư . Cây đàn thùng guitar. Nhạc Trịnh sẽ rất hay.
    Sau này, TCS có một vài bài thật hay .Nằm nghe hoặc nhẩm hát một mình thì tuyệt . Một trong các bản đó là ” Đêm thấy ta là thác đổ “. Như Mai Hát. Như Mai hát TCS không nhiều . Cô có giọng hát tràn đầy nữ tính. Theo tui, chưa ai hát hay hơn NM bản Đttltđ. Có thể là tui chưa nghe hết các ca sĩ khác trình bày bản này.

    http://en.wikipedia.org/wiki/File:Claude_Monet_022.jpg
    http://mp3.zing.vn/bai-hat/Dem-thay-ta-la-thac-do-Nhu-Mai/IW6AFODI.html

  • Đặng Hòa Bình says:

    Cảm ơn Từ Thức. Bài hay. Rất cảm động.

5 Pingbacks »

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)