Trang chính » Đọc và Đọc lại, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Nguyệt san Tình Thương, Tiểu thuyết Email bài này

nuôi sẹo

0 bình luận ♦ 20.01.2010

LTS: Ngay từ số báo đầu tiên, Tình Thương đã cho khởi đăng cuốn tiểu thuyết xã hội của nhà văn Triều Sơn. Triều Sơn là bút hiệu của Bùi Văn Sinh (sinh năm 1921; mất năm 1954 lúc chỉ mới 33 tuổi).  Khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ 1946, mọi người phân tán, Triều Sơn thì dấn thân đi làm thợ mỏ than Hòn Gai một thời gian trước khi vào Sài Gòn làm báo và viết sách. Con Đường Văn Nghệ Mới là một cuốn biên khảo do nhà xuất bản Minh Tân (Paris) phát hành vào đầu thập niên 1950. Riêng tiểu thuyết Nuôi Sẹo vào thời điểm Tình Thương xuất hiện vẫn còn ở dạng bản thảo, báo Tình Thương đăng chưa hết thì bị đình bản và bản thảo duy nhất viết tay ấy thì nay đã bị thất lạc. Hiện giờ, chúng tôi chỉ mới sưu tập được một chương VIII duy nhất từ Tình Thương số 9.  Hy vọng qua Da Màu, với những số báo Tình Thương còn tìm thấy, từng trang sách tiểu thuyết Nuôi Sẹo sẽ được nối kết lại – cho dù chỉ còn là một tác phẩm dở dang nhưng đó vẫn là một mảng văn học độc nhất vô nhị của một thời kỳ biến động nhất của đất nước.

Da Mau_ Nuoi Seo 1

Công việc của Nuôi Sẹo chẳng còn bao nhiêu nữa: chỉ còn hai cái sân đình phải quét dọn cho sạch sẽ. Bên trong đình mờ mờ, tôi tối như một buổi chiều hè sắp lúc có cơn mưa lớn. Tất cả mọi đồ vật ở đây, Nuôi Sẹo đều quen thuộc như bạn thân: cái hương án sơn son thiếp vàng đặt ở giữa đình, bên trên nào đỉnh đồng, nào bát hương, nào độc bình, song bình, nào mâm bồng lủng củng, những cột lim cao lớn sừng sững lên tận mái nhà, cái trống cái lớn nằm ngang trên giá gỗ, cái lọng trước hương án vàng khè và lỗ chỗ rách từ bao nhiêu năm nay… Cũng quen thuộc cái lớp ánh sáng phơn phớt tự bên trên tỏa xuống ở phía sau lưng hương án, đằng trước hậu cung, giữa khe hở của hai mái ngói, cái mùi âm ẩm mốc meo lẫn mùi bụi, mùi của những đồ vật cũ thiếu bàn tay người sờ mó, săn sóc. Gió lạnh ở bên ngoài theo lớp ánh sáng tuôn vào trong đình. Nuôi Sẹo vừa quét sân vừa run run. Gã muốn chui vào phía sau hậu cung để làm một giấc. Nhưng gã sợ Lý Phát hay Trương Nghê ra đình, bắt chợt gã bỏ việc.

Hôm kia, cụ Tuần Đan ra thăm đình, thấy đình nhơ nhớp quá có bảo cho Lý Phát biết. Lý Phát sai tuần đi tìm Nuôi Sẹo về quét dọn đình. Tuần sục sạo khắp nơi trong làng, ngoài phố không thấy mặt gã đâu. Đến chiều, người ta mới thấy gã về, Lý Phát hỏi gã đi đâu. Gã nói đẩy xe cho anh Bủng đi tới một làng ở cuối huyện, từ hai hôm nay vừa mới về. Bị hỏi dồn mãi, gã lắp bắp nói cho Lý Phát biết rằng khi tới nơi, gặp nhà người ta có đám, gã ở lại mổ lợn làm giúp nhà đám cùng với anh Bủng cho tới giã đám. Lý Phát giận quá đánh cho gã cái bạt tai. Gã cúi đầu co cẳng chạy. Ngay chiều hôm ấy, Lý Phát bàn với chức dịch trong làng hoặc đuổi cổ gã đi hoặc không cho gã đi đâu ra ngoài làng hết. Nhưng phần lớn các chức dịch đều nhận thấy rằng Nuôi Sẹo làm mõ làng không có lương thì phải làm phu bên ngoài mới có ăn những khi trong làng không có đám xã. Vả lại, ông Bá Tĩnh hỏi : “đuổi thằng Nuôi Sẹo đi rồi kiếm sao được một người như nó”. Các cụ không ai trả lời được. Đến khi Lý Phát ngỏ ý với cụ tuần, cụ gạt phắt đi thì không ai dám nghĩ đến chuyện đuổi Nuôi Sẹo nữa. Và từ hôm ấy đến nay, Lý Phát cùng Trương Nghê đã giao cho gã việc quét dọn đình. Thỉnh thoảng họ lại nhào ra đình để xem Nuôi Sẹo còn có mặt ở đình và còn làm việc không.

Khi Nuôi Sẹo quét cả hai chiếc sân đình, gã chờ một lúc vẫn không thấy Trương Nghê và Lý Phát ra. Gã để chổi vào một góc đình rồi mở hé cửa đình lững thững đi ra ngoài. Gió bấc thổi ù ù, vèo vèo vào đầu đình, thổi xuống mặt sông. Sông hơi cạn để trơ mảnh sò, mảnh hến ở hai bên bờ. Nuôi Sẹo đứng ở hè đình, nhìn hai cái nhà thuyền chài nằm in trên mặt nước. Trên bè tre đằng trước nhà nhưng gọng vó chổng lên trời như chân một con nhện khổng lồ bị chết khô. Nuôi Sẹo biết các nhà thuyền chài ở đây đều đi đạo. Vào những buổi sâm sẩm tối, đứng trên bờ sông, gã vẫn nghe thấy tiếng họ rì rào đọc kinh. Có lần vào trong căn nhà nhỏ, thấp lè tè của họ nằm trên mặt nước , Nuôi Sẹo thấy họ thờ một bức tượng nhỏ cởi trần, râu đen quai nón hai tay bị đóng vào chữ thập. Nhiều lần gã tự hỏi sao mấy người đi đạo lại thờ một ông thần cởi trần như thế. Gã định đem chuyện này ra hỏi Ba Đèn. Nhưng sau gã tự khám phá ra: những người đi đạo này làm nghề đánh cá nên thờ ông thần đánh rậm và ông lão đánh rậm râu đen quai nón này chắc ngày xưa đi đánh cá trộm nên đã bị người ta đóng đinh vào hai tay. Bọn này thờ thần đánh rậm thì cũng chẳng khác gì nhiều làng thờ thần gắp cứt, thần ăn trộm, thần ăn mày. Nuôi Sẹo tin chắc thế nên gã chẳng phải hỏi ai nữa. Gã còn nhớ nhiều lúc gã thấy những đứa trẻ tinh nghịch hay chạy theo mấy đứa con nhà thuyền chài mà hát giễu : “Đi đạo lấy gạo mà ăn” hoặc “ đi đạo ăn gạo té re, ăn chè tháo lỏng , ăn bỏng thì lành, anh canh thì độc”. Bây giờ thì gã hiểu rồi : chả là bọn thuyền chài thờ ông thần đánh rậm ăn trộm nên trẻ con mới chế giễu họ như vậy, người lớn trong làng không mắng gì chúng mà những người thuyền chài kia lại không dám chửi lại chúng. Đã đi thờ đến cái anh đánh rậm ăn trộm thì còn nói vào đâu được nữa. Nuôi Sẹo nghĩ.

Lúc này, Nuôi Sẹo đang nghĩ vẩn vơ về bọn thuyền chài thì gã thấy một đứa con gái lớn cùng hai đứa trẻ nhỏ không quần ở trong một cái nhà thuyền chài bước ra. Ba đứa bước vào chiếc thuyền mủng rồi đứa con gái cầm bơi chèo thoăn thoắt đẩy thuyền lướt sóng gợn vào phía bờ ngay cửa đình. Khi thuyền tới bờ, đứa con gái buộc thuyền vào một rễ đa ở bờ sông rồi cả ba đứa cùng đi lên. Lúc đứa con gái tới gần Nuôi Sẹo theo sau là hai đứa trẻ ôm lấy nhau vừa đi vừa run, gã buồn miệng nói: “Đi đa đa đạo là là lâấy gạo ma mà mà ăn”. Đứa con gái trừng mắt túm ngay lấy ngực áo Nuôi Sẹo và vừa chửi “cha tiên nhân đồ mõ”, vừa đấm gã đùm đụp. Hai đứa trẻ như quên lạnh thụi vào mông đít, cạnh sườn gã. Nuôi Sẹo vung tay đấm trả lại vào lưng đứa con gái, môi lập bập, xám xịt và giãi chảy xuống nền ngực. Nhưng nó vẫn không bỏ gã ra, cứ cào cấu gã vào cổ vào ngực vào gáy mà kêu ầm ĩ. Nuôi Sẹo thoáng nhìn thấy một người đàn ông ở trong một thuyền gỗ đang vào gần bờ. Gã cố sức giằng tuột được ra, chạy về phía đầu đình thẳng về lối giếng xây rồi rẽ vào phía xóm nhà bà Đồng Mi. Chạy được quãng dài trong ngõ hẹp, gã dừng chân, thở, thở. Gã quay lại không thấy ai đuổi theo, chỉ thấy một con chó đen chạy băng qua đường. Một người mua nước giải đang quay gánh đi ra đường cái làng và một người khác tóc quấn rối lòa xòa, gánh hai cái bồ nhỏ miệng rao: “ai tóc rối lông vịt bán không.” Nuôi Sẹo sờ cổ ngực thấy đã bị cào sứt sát ở mấy chỗ, gã cúi xuống nhìn thấy hai chân lấm đất be bét. Ngay lúc đó, gã nghe thấy tiếng chó sủa ran. Gã tự hỏi không biết bây giờ là mấy giờ. Gã nhớ lại từ lúc nãy giờ đều không nghe tiếng còi tầu. Gã lững thững bước ra phía đường cái làng. Tự nhiên gã thấy thèm thuốc lào, thèm đến khô cả miệng, khan cả cuống họng. Gã tưởng tới Bá Tĩnh nằm cạnh cái bàn đèn để trên sập gụ giữa căn nhà ngói năm gian. Bá Tĩnh vẫn bảo gã có thèm thuốc thì cứ việc đến “chơi”. Bà Bá lại gọi gã là “chú Nuôi”. Gã liền đi một mạch đến bá Tĩnh.

Thấy Nuôi Sẹo đến nhà, bà Bá nhanh nhảu miệng : “Ấy chú Nuôi vào chơi”. Bao giờ cũng vậy, cái sẹo giần giật nhấp nháy, Nuôi Sẹo ra vẻ cảm động với hai tiếng “Chú Nuôi” này lắm. Bà Bá lại gọi mình là “Chú Nuôi”, gã nghĩ. Nuôi Sẹo còn loanh quanh chưa biết làm gì thì ông Bá ngồi cạnh bàn gụ trước cái ghế ngựa có khay đèn thuốc phiện, đã vuốt râu cười và nói: “Nào chú Nuôi vào đây nào. Làm điếu thuốc lào hút chơi.” Nuôi Sẹo biết chắc là hôm nay ông Bá không sai gã đi đòi nợ. Gã cũng chắc mẩm được một bữa thuốc lào no “ỉa ra khói” theo lời của ba Đèn. Ông bà gọi cô An con gái thứ hai tầm người choai choai tóc mới vấn còn ngắn rơi xõa xuống trán và tai – bảo mang cái điếu sụ trên bàn xuống đặt dưới đất giữa nhà. Nuôi Sẹo biết ý đến ngồi xổm cạnh điếu cầm xe điếu. Ông Bá đã móc ra cái hộp thuốc lào tròn làm bằng vỏ bưởi khô, nắp có ghi chìm chữ “THỌ”. Ông vừa từ tốn mở hộp thuốc, vê một mồi thuốc lớn nhét chặt vào nõ điếu vừa nói: “Cho mày hút no hôm nay xem sao. Hút hết hộp này cũng được.” Nuôi Sẹo lặng im, cái sẹo buồn buồn, lâm nhâm. Tay cầm xe điếu rung rung, gã đợi cô An mang đóm lửa lên.

Thường ngày, Nuôi Sẹo luôn luôn thèm thuốc lào nhưng không bao giờ có hộp thuốc hay gói thuốc trong túi. Gặp người nào cũng hạng nghèo khổ như gã: anh Bủng ngoài ga, thằng Khiễng xóm chợ chẳng hạn, gã thường ngửa tay vê vê: “xi xi xin điê điếu thuôoốc”. Nhiều khi gặp họ đang hút, gã chờ hút xong, trong lúc thuốc chưa tàn hết lửa, gã ngậm miệng vào đầu xe điếu hút cái sái nhì. Nay đến nhà ông Bá, thuốc được hút thả cửa, làm gì gã chẳng hút cố. Cho nên khi cô An mang đóm lửa lên, cầm đóm dí vào nõ điếu, gã bập chặt hai cạnh môi thêu lểu vào đầu xe điếu rồi móp má đến gập đôi cái sẹo, nổi gân cổ, trợn mắt mà kéo một hơi dài làm gần biến tất cả tàn thuốc. Ông Bá lại tiếp cho gã mồi thuốc thứ hai và thứ ba. Rồi ông ngồi chờ kết quả. Cô An gọi chị dâu vợ anh cả Mịch bụng chửa phưỡn cũng lên xem. Lửa mồi thuốc thứ ba chưa tàn trong nõ điếu, Nuôi Sẹo đã lờ đờ đôi mắt. Gã bỏ vội xe điếu xuống, mắt trợn lòng trắng, tay run run nhóm chuồn chuồn. Rồi cái sẹo nhợt, gã ngã quật xuống nền đất thành một đống thịt thở khò khe rung chuyển hỗn độn, oằn oại từ đầu đến chân. Nước giãi té xùi ra bên mép, trên hai môi lập bập, xám xịt và chảy xuống nền đất. Trong khi ấy, ông Bá ngồi trên ghế ngựa theo rõi cuộc biến chuyển. Cô An và chị cả Mịch đã xem trò này không biết bao nhiêu lần, nhưng vẫn thấy thú, đứng cạnh bàn thờ, chăm chú nhìn. Bà Bá lẳng lặng đi xuống bếp rót một bát trà tươi đem lên để ở chân bàn thờ. Cái khối Nuôi Sẹo rung chuyển dưới đất lúc này chỉ còn là một giống gì kỳ dị phần thuộc loại thảo mộc, phần thuộc loại động vật.

Một lát sau, mặt đỡ tái, tay hết bắt chuồn chuồn, cái sẹo lốm đốm hồng, hai con ngươi đen đã trở về giữa mắt lờ đờ đưa đi đưa lại: cái khối Nuôi Sẹo trở dần về loại động vật. Mắt vẫn còn lừ đừ. Nuôi Sẹo cựa mình, đưa cánh tay quệt ngang miệng hãy còn nhầy nhợt nước giãi. Gã chậm chạp chống tay ngồi dậy, đầu hơi lắc lư. Bà Bá cầm bát nước trà tươi đưa cho gã. Bát nước trà hết thì cái sẹo xám săn lại.

Đợi cho mặt hết đần, bà Bá mới nói:

_ Bây giờ chú làm hộ chị cái này. Thật phi tay chú không xong.

Lần nào bà Bá cũng nói câu này để mở đầu bảo Nuôi Sẹo làm bất cứ việc gì: giã một cối gạo, sửa cái cầu ao, cuốc vài luống rau, thậm chí có khi giặt hộ bà ít quần áo bẩn. Hôm nay Nuôi Sẹo theo bà ra góc vườn bổ hộ bà một cái gốc mít khô, thành củi vụn để nhà ông bà có củi đun nấu vào dịp Tết sắp tới.

Nhiều lần trước kia, gặp khi Nuôi Sẹo đang làm, bà Bá thường giới thiệu với ông chồng:

_ Chú Nuôi tuy vậy mà hay làm lắm cơ. Nghỉ tay làm là không chịu được. Tiền đưa cho không bao giờ lấy.

Hôm nay, Nuôi Sẹo không thấy ông Bá ra, chỉ có khi Nuôi Sẹo nghe thấy tiếng còi và tiếng xe lửa chạy ình ình gã đoán là tàu mười giờ rưỡi sáng thì thấy đói đói. Lúc này, mặc dầu gió lạnh, Nuôi Sẹo đã toát mồ hôi trán, mồ hôi ở lưng chảy ra dính nhơm nhớp vào lưng áo. Nhìn Nuôi Sẹo hùng hục bổ củi, bà Bá nói:

_ Chịu khó rồi tao làm mối cho con vợ

Bà Bá nói làm mối cho Nuôi Sẹo đã nhiều lần lắm. Nhưng từ khi gã biết “đến chơi” nhà bà đến giờ, bà chưa hề giới thiệu với gã một người đàn bà nào, cũng như bà chưa hề đưa cho gã một xu tiền công. Toàn chỉ là những câu chuyện để nói. Nuôi Sẹo biết thế nhưng vẫn tin như gã tin hát tuồng ở ngoài đình gã thấy đó cũng là việc tự nhiên, tự nhiên như khi người ta gặp nhau thì phải chào hỏi nhau, Tết phải chúc nhau: “Bằng năm bằng mười năm ngoái”.

Đang làm có lúc Nuôi Sẹo quên đói vì thèm thuốc lào. Nhưng gã theo kinh nghiệm đã biết chắc chắn rằng ông Bá không bao giờ chịu bỏ hộp thuốc lào vỏ bưởi của ông ra và ông cũng đã dấu kỹ cái điếu của ông đi đâu rồi. Chỉ có lúc khát nước, gã đi vào bếp, nghiêng ấm đất rót uống một bát nước chè tươi, lò đờ vàng đục, đặc chát.

Vào khoảng một hai giờ trưa, bà Bá cho gã ăn cơm với dưa chua cà muối sổi, và ít tép lép kho. Gã ăn bốn năm bát cũng không ra vẻ no. Chị cả Mịch định lấy cơm nguội thêm cho gã ăn thì ông Bá gàn con dâu:

“Thôi cho nó ăn no thì biết thế nào. Nó có biết no là cái cóc khô gì đâu. Nhà nó chắc đói truyền kiếp từ đời cha đời ông gì nó dồn lại. Mà chẳng hiểu người nó thế, nó ăn thế thì nó đựng cơm vào đâu cho hết. Chắc nó đựng cả trên ngực trên đầu. Bổ đầu nó ra chém chết cũng hớt được cơm trong ấy.” Nuôi Sẹo chẳng để ý xem câu nói của ông bá có vẻ khinh bỉ, chế giễu hay có đúng với sinh lý học không. Ăn xong, gã lại làm, khát nước lại vào bếp giốc ấm nước trà tươi uống. Và cứ như thế gã ở bên nhà ông Bá cho đến chiều.

TRIỀU SƠN

[Nuôi Sẹo, Chương VIII, trích Tình Thương Số 9, tháng 9-1964]

bài đã đăng của Triều Sơn


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)