Julio Ramón Ribeyro Zúñiga (1929-1994) là nhà văn người Peru nổi tiếng về truyện ngắn. Các đoạn chuyển ngữ dưới đây được trích rải rác từ tuyển tập “Prosas apátriadas” (1975), một tác phẩm văn xuôi chia thành từng đoạn được đánh số thứ tự từ 1 đến 200. Tuyển tập mang tính châm ngôn, khai phá những chủ đề về sự cô đơn, ký ức và sự tha hoá hiện đại. Đây là tác phẩm được xem là những mảnh văn chương không theo một thể loại truyền thống hay có “quê hương”, phản ảnh những kinh nghiệm của tác giả về những thực tế rời của con người, được viết bằng một ngòi bút châm biếm, sắc sảo và chính xác.
Ribeyro sống ở Pháp trong nhiều năm tháng. Ông theo học ngành văn chương Pháp tại Sorbonne, sau đó làm phóng viên cho Agence France-Presse, cuối cùng là chức vụ đại sứ của Peru tại UNESCO. Paris đã trở thành nơi ông cho ra đời phần lớn các tác phẩm trong sự nghiệp văn chương của ông.
____________________________________________________
Gởi Lê Sông Văn & Paulina Đàm
90
Như những người máy, chúng tôi đi qua nhiều thành phố tẻ ngắt. Chúng tôi đi từ cuộc làm tình này đến cuộc làm tình kia, để rồi lúc nào cũng về lại căn nhà cũ. Chúng tôi nói những điều khá tương tự nhau, có khác chăng chỉ là đôi chút. Chúng tôi ăn rau hay thịt, nhưng chẳng bao giờ ngoài những món dễ kiếm, không nơi nào có Ave del Paraíso[1] hay Rosa de los Vientos[2]. Chúng tôi khoe khoang về những chuyến phiêu lưu mà một cái máy điện toán có thể rút ngắn thành những tình huống tầm thường. Vậy ra cuộc sống chỉ là, trái ngược lại những gì thiên hạ vẫn nói, do cái đơn điệu của chính nó, dài đăng đẳng? Con người sống một năm hay một trăm năm thì có nghĩa lý gì? Như đứa bé mới chào đời, chúng ta chẳng buông bỏ thứ gì cả. Như một ông già trăm tuổi, chúng ta sẽ chẳng mang theo thứ gì, không áo quần dơ bẩn, mà cũng không của cải đáng giá. Cũng có vài kẻ để lại một tác phẩm, điều đó thì đúng. Tác phẩm đó sẽ được trân trọng xuất bản. Rồi trở thành món lạ cho một tay sưu tập. Rồi sau nữa sẽ được một người uyên bác trích dẫn. Cuối cùng, là thứ tệ hơn cả một cái tên: một điều xuẩn ngốc.
95
Gương mặt của chúng ta chồng chất những gương mặt của tổ tiên mình. Trong suốt cuộc đời, gương mặt của một số người đó dần dần trở nên rõ nét hơn gương mặt của những người khác. Do vậy, khi mới chào đời, chúng ta nhìn giống như ông bà; thuở niên thiếu, chúng ta giống mẹ; vào tuổi mới lớn, chúng ta giống chú hay cậu; đến độ thanh niên, chúng ta giống cha; khi trưởng thành, chúng ta nhìn giống đức Giáo Hoàng Bonifacio; lớn hơn nữa, chúng ta giống như một món đồ cổ của dân Chimú[3]; về già, chúng ta giống như bất cứ một con vượn người nào đó. Gần như không bao giờ chúng ta giống chính mình.
96
Thế Giới Bên Kia thường mang những người đã khuất đến với chúng ta. Chẳng hạn như hôm qua, tôi băng qua đại lộ Vaugirard cùng tổng thống George Pompidou. Cách đây mấy ngày, bà ngoại tôi, Josefina, đến gần tôi ở ngoài phố và hỏi tôi mấy giờ rồi. Vài tuần trước, chuyện này mới thật đáng nói, tôi cùng Pablo Neruda uống cà-phê và chuyện trò trên sân thượng chỗ Công Trường Contrescarpe[4]. Không cần phải nói rằng cả ba người đều cải trang, ngài tổng thống ăn mặc như một anh thợ nề, bà ngoại tôi mặc áo nữ tu và nhà thơ là một tay phó nhòm lưu động. Ở cõi bên kia, họ rất muốn không bị nhận ra. Nhưng tôi đã biết họ, không thể nào nhầm lẫn được. Họ về đây để làm gì? Tôi tự hỏi. Tôi không nghĩ rằng họ về đây để hoài niệm, không phải để lấy một vật gì họ đã để quên, càng không phải để kết thúc một việc gì mà họ chưa giải quyết được trong lúc vội vàng ra đi. Có lẽ họ về đây như những sứ giả bí mật của một nơi chốn xa xăm nào đó, để mang đến trước cửa nhà lời thông báo về một điều mà chúng ta chưa từng mong đợi.
97
Chúng ta là một thứ nhạc khí có nhiều dây, nhưng thường khi chúng ta chết đi mà các dây đàn chưa được gảy hết. Vì thế, chúng ta sẽ không thể biết mình đã cất giữ loại âm nhạc nào. Chúng ta thiếu tình yêu, tình bạn, cuộc lữ hành, quyển sách, và thành phố có thể làm rung lên những âm thanh ẩn kín trong lòng mình. Lúc nào chúng ta cũng phát ra một nốt nhạc giống nhau.
138
Trong suốt mười năm trời, khi đang làm ở Pháp Tấn Xã[5], hầu như ngày nào tôi cũng đến công viên gần Palais Royal để đi dạo trong chốc lát dưới những vòm cổng, trước và sau bữa ăn trưa, và, khi hết tiền, tôi đi dạo để thay bữa trưa. Và, cao xanh ạ, điều gì còn lại trong tôi về những lần đi dạo ấy? Tôi đã bỏ ra hàng trăm tiếng đồng hồ như thế để được gì? Chẳng được gì cả, ngoài việc để lại trong ký ức tôi một hình ảnh vụng về nổi bật trên một tấm bưu thiếp. Chúng ta mang một quan niệm rốt ráo về cuộc đời của mình và tin rằng tất cả những hành động của chúng ta, nhất là những hành động lặp đi lặp lại, đều có một ý nghĩa tiềm tàng và sẽ đem lại một hậu quả nào đó. Nhưng không phải vậy. Phần lớn những hành động của chúng ta đều vô ích và vô hiệu quả. Cuộc đời của chúng ta được dệt bằng một kịch bản màu xám, phẳng lì, và chỉ đây đó mới thốt nhiên bừng lên một bông hoa hay một khuôn mặt. Có lẽ những hành động độc đáo, đáng giá và ý nghĩa của chúng ta là những lời lẽ dịu êm mà đôi lần chúng ta mới thốt ra, một cử chỉ can đảm nào đó mà chúng ta từng có, một cái vuốt ve lơ đãng, những giờ phút trải qua để đọc hay viết một cuốn sách. Và chẳng có gì khác nữa.
140
Cuộc sống của chúng ta đôi khi tuỳ thuộc vào những điều nhỏ nhặt và vô nghĩa. Vì tính không hoàn hảo nhất thời của cái điện thoại, chúng ta đã không nhận được cú gọi mình đang chờ đợi, và vì vậy, chúng ta đã mãi mãi mất đi mối liên lạc với một người mà chúng ta để tâm đến, và vì vậy, chúng ta đã bị lấy mất đi một mối quan hệ có thể biến đổi cuộc đời của mình, và vì vậy, đã tan biến đi một nguồn vui mới, tinh tươm, và vì vậy, chúng ta đã khép lại cơ hội duy nhất thật sự có ý nghĩa mà thế giới đã đem đến cho mình, và vì vậy, chúng ta trở lại nơi đã bắt đầu: nơi mà cú điện thoại mong chờ từ một người đã không bao giờ xảy ra.
Julio Ramón Ribeyro
Trần C. Trí
Chuyển ngữ từ nguyên tác Prosas apátriadas
31. XII. 2025
[1] Tên tiếng Tây Ban Nha của loài hoa Bird-of-Paradise (hoa thiên điểu), cũng là tên của món cocktail đặc sản Peru, gồm rượu rum pha Campari, có mùi palo santo (một loại gỗ thơm) và mùi các loại quả thơm, dừa và chanh.
[2] “Hoa Hồng Của Gió Bốn Phương”, loại rượu gin màu hồng, gồm ba nguyên liệu chính là mùi của các loại quả dâu, mâm xôi (raspberry) và bách xù (juniper berry).
[3] Sắc dân của một đế quốc có nền văn minh riêng ở phía bắc Peru (900-1470).
[4] Ở Quận 5, Paris.
[5] L’Agence de France-Presse