Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn, Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975 Email bài này

Ảo Tượng

0 bình luận ♦ 3.11.2009

 

Lời giới thiệu của nhà văn Trần Hoài Thư:

Truyện ngắn sau đây được trích từ tạp chí Văn Nghệ số 15 tháng 2 năm 1962. Chúng tôi không nắm vững được tiểu sử nên không thể ghi phần tiểu sử ra đây. Tuy nhiên, theo một số thân hữu cho biết, Yên Chi là một bút hiệu của thiền sư Nhất Hạnh. Chúng tôi cũng nghĩ vậy. Vì truyện được viết vào năm 1962 tại đại học Princeton, nơi mà ông đã du học. Chúng tôi thành thật cám ơn nhà thơ Thành Tôn đã gởi đến chúng tôi truyện ngắn này. (THT)

skull illusion

Sáng nào cũng vậy, tôi dậy trước anh Hưng nửa giờ, đủ để rửa mặt chải đầu, trang điểm và lo điểm tâm cho hai anh em và cháu Yên Chi. Anh Hưng sáng nào cũng đi sớm vì anh phải có mặt tại nhà báo trước tám giờ. Cháu Yên-Chi thì mãi đến chín giờ, xe của trường mẫu giáo mới lại đón. Cháu ăn trưa tại trường và bốn giờ rưỡi chiều xe trả cháu lại trước ngõ. Anh Hưng có khi không về ăn cơm trưa bởi vì anh bận công việc sở. Những hôm như thế buồn làm sao. Mỗi khi anh gọi điện thoại về cho biết anh phải ăn cơm trưa tại chỗ làm việc, tôi cũng chẳng buồn nấu nướng gì nữa. Nấu cho ai ăn. Cháu Yên-Chi chẳng ăn cơm trưa tại nhà trừ thứ năm và chủ nhật. Một mình mình đi nấu cơm, dọn ra bàn, tôi ngồi, ăn, nuốt không trôi. Tôi dạy ở nữ trung học Giao Tiên có tám giờ một tuần, nên chẳng có gì gọi là bận bịu. Anh Hưng anh ấy chỉ cho tôi dạy từng ấy giờ, vì anh lo cho sức khỏe tôi. Nhưng anh chẳng biết rằng tôi cũng mạnh khỏe như mọi người. Anh bảo “Em chẳng cần làm lụng nhiều. Ở nhà coi sóc nhà cửa, lo lắng cho cháu Yên-Chi. Chừng nào chúng mình thực hiện được ước vọng có một nhà xuất bản riêng, anh sẽ cho em cộng tác, và em sẽ làm quản lý. Có tiền nhiều ta sẽ làm được nhiều việc”. Có những hôm anh đem từng đống việc về nhà, và thức suốt đêm trên chồng bản thảo. Những lúc ấy tôi chẳng có thể khuyên anh đi nghỉ được đâu; thượng sách là chen vào và giúp anh đọc, chữa các bản thảo ấy cho mau xong để anh còn có chút ít thì giờ đi ngủ. Mẹ chúng tôi đã mất từ bảy năm nay và mới năm ngoái ba chúng tôi lại qua đời. Chúng tôi không chịu nổi cái cảm giác thiếu thốn trống trải nên chúng tôi phải dời nhà về đây, một ngôi nhà có vườn cây, có điện nước, có vẻ thanh tịnh, ở miền Gia Định. Tuy có hơi xa chỗ làm việc, nhưng anh Hưng đã có xe. Còn tôi thì tôi có thể đi bộ đến trường; trường không xa lắm, nếu có hơi trễ, thì tôi đến trường bằng xích lô đạp, bốn đồng. Cháu Yên-Chi là con gái của Thúy, bạn học ngày xưa của tôi. Thúy đã qua đời rồi, từ khi Yên-Chi còn bốn tuổi. Tôi nuôi Yên-Chi từ lúc ấy, đến nay Chi đã lên sáu. Ba của Chi ở ngoài Bắc không biết có còn sống hay không. Yên-Chi thông minh lắm; cháu thương tôi và gọi tôi bằng mẹ, mấy hôm nay, cháu được gửi đi Cấp nghỉ mát với gia đình chị Ánh.

Sáng nay khi anh tôi đi làm rồi, tôi dọn dẹp nhà cửa cẩn thận hơn mọi hôm. Tôi không có giờ dạy hôm nay. Tôi lau sàn nhà, sửa soạn lại tủ và kệ sách của anh Hưng thay mấy chiếc màn để gửi thợ giặt và làm những việc vặt khác. Xong xuôi, tôi dọn dẹp chén bát để rửa. Vặn nước cho chảy vào chiếc chậu tráng men dùng để rửa chén bát, tôi tinh nghịch đùa với những chiếc bọt xà phòng trong chậu. Bỗng tôi nhớ ra tôi đã hứa với anh Hưng trong lúc chúng tôi đang ăn điểm tâm sáng nay là trưa nay tôi sẽ nấu cho anh một bữa bún Huế. Đã chín giờ rưỡi rồi, tôi phải sửa soạn trước cho kịp. Có lẽ tôi phải sửa soạn những đồ gia vị sẵn sàng trước để làm nước xúp và sau đó sẽ đi qua chợ mua bún sau. Tôi khóa nước lại, bước đến đầu tủ. Cái tủ đựng thức ăn của chúng tôi xưa quá, tầng cao nhất chúng tôi không với tới dễ dàng. Mà hộp cà tô-mát, cũng như những thứ ít dùng, tôi lại để lên tầng ấy. Tôi nhón gót đưa tay sờ soạn và đụng nhầm hộp cà ấy, tôi vói tới tí nữa và cố chụp lấy hộp cà. Nhưng tôi mất thăng bằng và buông rơi nó. Hộp cà rơi xuống và trúng vào giữa đỉnh đầu tôi. Đau quá, tôi ngã xuống sàn ván. Trời ơi, đầu tôi choáng váng và mắt thấy hoa đóm giữa không trung.

hand illusion

Tôi lồm cồm bò dậy, tay vịn vào góc bàn để đứng lên. Tay trái tôi đưa lên sờ đầu. Không chảy máu. Cũng may, nếu anh Hưng ở nhà thế nào ảnh cũng mắng tôi sao không cẩn thận. Anh em chúng tôi thương nhau lắm thế nhưng tôi vẫn cứ sợ anh như hồi anh đọc cho tôi viết chính tả, hồi chúng tôi còn nhỏ. Soạn xong các thứ gia vị và chắc không còn thiếu gì, tôi mới trở lại chậu sành để rửa chén bát. Bỗng tôi nghe một tiếng gọi ngoài sân “Me! Me! Ra xem me. Con làm được một chiếc bánh xe”. Cháu Yên-Chi đang đứng ngoài sân đưa tay vẫy tôi, chiếc áo màu đỏ của cháu tung bay trước gió.

Tôi nói “Ô, con giỏi lắm!”

“Con đem qua cho Suzanne coi me nhé!” Suzanne là bạn học của Yên-Chi, ở nhà bên cạnh.

“Được. Nhưng đừng đi đâu ngoài nhà Suzanne con nhé, và nhớ về trước giờ ăn cơm nghe con”. Tôi dặn cháu như thế và nhìn cháu tung tăng chạy qua nhà Suzanne. Rồi, tôi trở lại rửa chén bát. Bỗng tôi có cảm tưởng rằng có một cái gì sai lầm mà tôi không thể nhớ ra được. Tôi lặng đi một lát, rồi hình ảnh chiếc áo đỏ của cháu Chi hiện ra trong óc tôi. Chiếc áo ấy, tôi định xuống một lai nữa cho dài hơn để cháu mặc vào mùa thu tới. Cháu lớn mau quá, nhất là một năm nay. Nhưng mà lạ, chiếc áo ấy tôi để trên ngăn tủ cao làm sao cháu tự lấy ra mà mặc được?

Rồi bỗng nhiên tôi nhớ ra rằng cháu Yên-Chi đang nghỉ mát ở Vũng-Tàu với gia đình chị Ánh. Vợ chồng chị Ánh đi Vũng-Tàu đã xin đem cháu Yên-Chi đi theo. Vậy cháu Yên-Chi không thể ở đây, tôi đã trông lầm.

Hoảng kinh, như bị một lưỡi dao cắm sâu vào người, tôi chạy tới máy điện thoại, gọi về khách sạn Long Khánh Vũng Tàu. May quá, chị Ánh đang ở nhà. Khi nghe tiếng nói của chị trả lời trong máy, tôi biết Yên-Chi vẫn bình an không có chuyện gì. “Chị Ánh, cháu có ngoan không? Em sợ cháu quấy rầy hai anh chị quá” Tôi cố gắng lấy giọng bình tĩnh.

“Không, không! Cháu ngoan lắm. Cháu vừa tắm nước ngọt với tôi xong. Chúng tôi mới vừa ở Bãi Trước về. Cháu đang đứng bên cạnh tôi đây. Chị Hương có chuyện gì không? Giọng chị hơi lạ”.

“Không, không có chuyện gì cả. Em vẫn thường” Tôi nói dối.

Khi tôi buông máy xuống, tôi tự nghĩ rằng có lẽ mọi việc đều do ở cái hộp cà chua giáng lên đầu tôi quá mạnh. Tôi trông lầm, cũng giống như nằm mơ, khi không được tỉnh táo hẳn. Rồi tôi trở lại rửa chén bát. Nhưng một cái đĩa trượt khỏi hai bàn tay tôi – nước xà phòng trơn quá – và rơi xuống sàn, vỡ làm ba mảnh. Đó là một chiếc đĩa cổ của bà ngoại để lại cho Mẹ và Mẹ cho lại tôi; nó mang nhiều kỷ niệm giữa Mẹ và tôi. Chiếc đĩa cổ Trung Hoa ấy nghe nói quý lắm. Tiếc của quá, tôi cúi xuống nhặt ba mảnh vỡ, lau khô và cẩn thận để vào trong tủ chén bát. Có lẽ anh Hưng sẽ hàn nó lại được, nhưng hôm nay là ngày gì mà tôi gặp nhiều rủi ro thế này? Có lẽ tôi nên đi nghỉ một lát rồi lại trở lại công việc thì hơn. Ngay lúc đó, tôi nghe tiếng gõ cửa và tiếng gọi “Chị Hương, có nhà không?” đó là tiếng chị Thuần.

Mỗi thứ năm, chị Thuần – chị bạn láng giềng cách nhà tôi chừng trăm thước – thường qua tôi chơi, vì thứ năm nào tôi cũng có ở nhà. Anh ấy làm công chức. Chúng tôi chẳng nói chuyện dằng dai suốt buổi như thiên hạ đâu; nhưng mươi mười lăm phút ngồi uống với nhau một tách cà phê cũng là thích thú. Sau đó chị lại đi chợ và tôi lại nấu ăn. Chị sắp sửa được làm mẹ, và trông chị có vẻ lo lắng lắm. A, hay là tôi gửi chị mua bún giúp vậy. “Có em ở nhà đây, mời chị vào”, tôi trả lời.

Trông thấy chị Thuần không hiểu tại sao tôi biết ngay rằng chị sẽ sinh cháu vào đúng ngày mồng sáu tháng bảy sắp tới. Hai mẹ con sẽ được yên lành. Đứa bé sẽ là con trai. Thấy dáng lo sợ của chị, tôi nói: “chị Thuần, chị chẳng cần lo gì cả. Chị và em bé sẽ được bình yên”. Chị Thuần nhìn tôi với một diáng vẻ ngạc nhiên “Chị Hương, em trông có vẻ lo lắng lắm hay sao thế chị?” tôi gật đầu, nhưng vẫn để ý đến những cảm giác kỳ lạ của tôi hơn là để ý đến câu hỏi của chị. Những điều tôi thấy về chị hiện rõ ra như phấn trắng viết trên bảng đen. Tôi nói “Không, đó không phải em nói để trấn tĩnh chị. Em biết rõ là chị và cháu bé sẽ là con trai, và sinh đúng vào ngày mồng sáu tháng bảy sắp tới. Sẽ được hòa toàn bình yên”.Tôi nói tiếp: “Để em nói hết cho chị nghe. Cháu bé sẽ …”

Lúc đó, chị Thuần ngó tôi với đôi mắt ngạc nhiên đến cực điểm. “Trời ơi, Chị Hương, chị điên hả? Chị có sao không chị?”

Tức thời tôi kể cho chị nghe đầu đuôi câu chuyện, từ việc hộp cà tô mách rơi đầu tôi, đến vệc cái bánh xe của cháu Yên-Chi, chiếc áo đỏ, và cuộc nói chuyện ra Cấp. “Đầu đuôi như vậy đó, chị”, tôi kết luận, “nhưng chưa hết đâu. Em đánh vỡ chiếc đĩa cổ của bà ngoại. Chị biết chiếc đĩa cổ ấy chứ? Nhưng đó không phải là một việc khó hiểu như mấy chuyện kia”.

“Uổng quá nhỉ, chiếc đĩa cổ quý như thế mà lại vỡ. Nhưng dẫu sao em vẫn mong rằng chị nói đúng về việc đứa con của em. Em thì không để ý lắm đến việc con trai hay con gái nhưng mà em thì lại thích con trai hơn. Còn về việc mồng sáu tháng bảy thì thật là sớm hơn ngày dự tính đến ba tuần. Nhưng không sao, miễn mẹ tròn con vuông là tốt rồi”. Chị nhếch mép cười, và tiếp Ccòn gì nữa không chị? Nói luôn đi, như tên của em bé chẳng hạn?”

Trong một giây, óc tôi lại loãng đi. Rồi lại như viết trên bảng đen, chữ Hùng hiện ra rõ rệt trong óc. Tôi sắp sửa mở miệng để nói nhưng tôi kềm lại được. Cũng may, nếu nói ra thì kỳ biết mấy. Chị ấy đã nói với tôi nhiều lần nếu sinh con trai chị ấy sẽ đặt tên là Hậu, cho nó có liên lạc với Thuần, tên của ba nó. Chữ Hùng có lẽ không bao giờ được chị thích đâu. Tôi nói “Thôi, chẳng tiết lộ thiên cơ nữa đâu”.

Chị Thuần ngồi xuống bên tôi: “Sao không uống một chén trà cho tỉnh người? Nhưng chị cứ ngồi đó, nghỉ cho khỏe. Em sẽ đi pha trà cho. Chúng mình đều có vẻ ‘bất thường’ cả, nhưng dù sao em vẫn còn tỉnh táo hơn chị.” Chị súc chiếc ấm con, bỏ trà và pha nước sôi. Rồi chị vào lục soạn lấy ra hai chiếc tách, hộp bánh bích-quy. Khi trở ra, mặt chị có vẻ ngẩn ngơ. “Hồi nãy chị nói chiếc đĩa cổ của bà ngoại như thế nào?”

“Em nói rằng em làm vỡ mất rồi, sáng nay”.

“Có phải chiếc đĩa cổ có hai chữ nho xanh xanh ở hai bên phải không?”.

“Phải, gì thế chị?”

Thay vì trả lời tôi, chị trở vào bếp, mở tủ chén bát, rồi trở ra, lẳng lặng cầm chiếc đĩa cổ của bà ngoại trong tay. Chiếc đĩa cổ còn nguyên vẹn, không vỡ.

Trống ngực của tôi đánh thình thịch; vô lý quá, tôi nhìn kỹ để tìm đường nứt chứng tỏ rằng nó mới được gắn lại. Nhưng không hoàn toàn không có đường nứt nào cả. Chiếc đĩa hoàn toàn nguyên vẹn. Sao lại có thể thế được? Mới năm mười phút trước đây, tôi xếp vào tủ ba mảnh vỡ kia mà.

Bỗng nhiên, kỳ cục quá, tôi ôm mặt khóc, làm chị Thuần hoảng kinh. “Đừng khóc, chị. Không sao đâu, chị”. Chị đưa vòng tay ôm choàng lấy tôi, như một bà mẹ an ủi con “Chắc vì hộp cà chua rơi trúng đầu nặng quá đó chị. Vào đây, chị nằm nghỉ một lát rồi sẽ thấy khỏe khoắn trở lại. Để em gọi điện cho bác sĩ Lê Ngọc Lương nhé”.

“Không, đừng gọi chị”. Nghe nói đến bác sĩ Lương tôi ngại quá.

Câu chuyện có vẻ trẻ con và kỳ cục, ai lại có thể kể cho bác sĩ Lương nghe được bao giờ. Nhưng tôi vẫn để cho chị dịu tôi vào phòng khách và đặt tôi nằm trên đi-văng. “Em hẹn lên thăm chị ba em trưa nay. Nhưng em có thể gọi điện thoại để xin lỗi.” Tôi vội vã trả lời “Ô không, chị Thuần! Không! Chị cứ đi đi. Nếu có chuyện gì em sẽ gọi bác sĩ Lương, hoặc bất cứ ai. Chị cứ đi đi, đừng lo. Không sao đâu chị”.

Chị đứng suy nghĩ giây lát. “Được. Nhưng chị cũng đừng lo lắng gì cả nhé. Em sẽ ghé vào khi em trở về qua đây. Chị nằm yên đây và cố gắng ngủ đi một chút, nhé”.

Tôi nằm yên nghe lời chị, nhưng tôi nghĩ rằng tôi không thể nào ngủ được. Bao nhiêu câu hỏi kỳ cục cứ chờn vờn trong óc. Nhưng may quá, tôi lại thiếp đi sau đó không lâu.

Khi thức dây, tôi thấy khỏe hơn. Tôi đi rửa mặt bằng nước mát và thay áo, một chiếc áo màu tím lam anh Hưng đã một lần khen là trang nhã. Rồi tôi chải đầu, đứng trước gương để sửa lại mái tóc. Bỗng nhiên, một tiếng nổ dòn lách tách kéo dài: tấm kiếng lớn trước bàn rửa mặt đã nứt rạn nhiều đường từ trên xuống dưới. Tấm kiếng mà tôi đã chọn mua được ở Chợ lớn với một giá rất phải chăng, và đã rất bằng lòng vì khéo chọn. Tôi la lên một tiếng tỏ sự kinh ngạc và chúi tới phía trước để nhìn cho rõ. Rồi, như một lằn chớp xẹt, sự kinh hoàng xâm nhập vào người tôi. Phía sau tôi, trong kiếng, tôi có thể thấy cả phòng ngủ phản chiếu vào trong kiếng như thường lệ; chiếc giường của tôi, tấm ảnh bán thân của chị Thúy, và cả chiếc áo tôi mới thay ra để trên giường vẫn được phản chiếu rõ ràng. Mọi vật đều có thể nhìn thấy trong kiếng. Chỉ trừ có khuôn mặt của tôi. Chỗ mà thay vì tôi phải thấy khuôn mặt của chính tôi, tôi chỉ thấy hư vô. Không có gì cả. Không mặt, không người, không tay, không có tôi trong kiếng. Tôi nghiêng qua nghiêng lại nhiều cách để nhìn vào kiếng, nhưng vô hiệu. Tôi không thấy tôi. Tôi cúi sát mặt vào kiếng cũng chỉ thấy hơi thở của tôi đọng lại như sương mờ mờ trong kiếng. Hình tôi không được phản chiếu trong kính. Tôi không có mặt tại đây.

Chỉ sau khi cố gắng quay được lưng lại với tấm kính rồi, tôi mới thấy hoàn hồn. Phải có cách giải thích hiện tượng lạ kỳ này chứ, tôi suy nghĩ. Có lẽ tấm kiếng hư sao đó thì phải. Nhất định mà! Phải như vậy mới được. Đó là cách giải thích của tôi, dù tôi biết rõ ràng mới đây vài phút, tấm kính vẫn còn nguyên vẹn khi tôi thay áo, và từ sáng, chẳng có ai trong phòng này cả. Ô có lẽ vì vậy nên tấm kiếng hơi rẻ hơn giá thường chăng? Có lẽ nó hư sao đó, nên đến bây giờ nó mới hư hẳn và không dùng được nữa. thật chẳng có gì là lạ lùng kỳ quái cả. Tôi chẳng nên nghĩ vẩn vơ mà thêm lo sợ. Đây là một sự rủi ro khác thêm vào những sự rủi ro xẩy ra cho tôi từ sáng đến giờ. Chỉ có vậy thôi. Tôi không thấy hình tôi trong kiếng, vì kiếng vỡ rồi, chứ có sao đâu mà lo sợ.

Tự cười mình đã quan trọng hóa một chuyện tầm thường như thế, tôi cương quyết quay lại để khám phá chỗ hư của tấm kiếng đã khiến cho tôi không nhìn thấy được tôi. Tấm kiếng vẫn nguyên vẹn, trời ơi! không có đường nứt nào cả! Tôi thấy khuôn mặt trắng trẻo của tôi nổi bật trong kiếng. Tôi nhìn lại rất kỹ trong một lát lâu, rồi tự nhiên hoảng kinh tràn ngập kéo tới. Rồi, chỉ biết rằng tôi chạy như ma đuổi ra phòng khách, cầm ống điện thoại lên và gọi về tòa báo, chỗ anh tôi làm việc. Anh ấy bận việc gấp; nhưng với giọng rên siết, tôi năn nỉ cô thư ký và cuối cùng tôi nghe được giọng anh qua giây nói: “Anh Hưng ơi, em đây. Anh có thể về với em không? Ngay bây giờ, được không anh?”. Tôi năn nỉ. “ Để xem … được, anh sẽ về ngay. Hương, em có sao không? Có chuyện gì không em? Có…” “Em bị thương. Không nặng đâu anh – chỉ một vết nhẹ trên đầu thôi. Nhưng – trời ơi, anh ơi – em sợ lắm. Em cần anh lắm, anh Hưng ơi, mau lên”.

“Anh đang về đây”. Anh ấy vội vã đáp; tôi nghe tiếng ống nói của anh bỏ xuống gấp gáp, rồi tiếng u u phát ra từ ống nói của tôi. Tôi vẫn đứng yên, tay nâng ống nói, như còn muốn được nghe thêm. Rồi tôi buông ống nói xuống nhẹ nhàng. Hôm nay tôi rủi ro quá. Phải cẩn thận mới được. Biết đâu lại không có chuyện xảy ra nữa. Tốt hơn là ngồi yên đừng làm gì nữa hết. Có thể là nguy hiểm. Thế rồi tôi thấy đói bụng. Dễ cười quá, những lúc như thế này mà lại còn thấy đói bụng, nhưng đúng là thế. Có lẽ tôi sẽ lấy hộp bánh bích quy và ấm trà nhưng cầm hộp bánh và bưng ấm trà biết đâu lại không nguy hiểm. Cái gì cũng có thể là cạm bẫy, nguy hiểm cho tôi cả. Tôi quyết định ngồi yên không động đậy cho tới khi anh tôi về. Tôi ngồi yên lặng nhìn về phía cửa. rồi khi anh tôi về, tôi sẽ… trời ơi, tôi sẽ kể như thế nào cho anh ấy nghe những câu chuyện kỳ quái vừa rồi? Mà tại sao căn phòng tôi ngồi thay đổi cả như thế này? Chiếc ghế dựa của anh Hưng tôi bọc vải xanh, sao bây giờ lại thấy bọc vải tím sọc trắng? Bàn ghế vẫn như cũ, nhưng tất cả đều được sắp đặt trang trí một cách khác: có tay một người đàn bà nào đó bày biện. Ngoài bàn tay của tôi. Màu sắc trang trí đẹp thật, nhưng không phải là lối tôi ưa thích. Chiếc màn cửa sổ màu xanh nhạt nay lại trở thành tím nhạt. Tất cả đều thay đổi. Tôi biết anh tôi thích màu tím nhạt, nhưng vì chiều ý tôi anh đã bảo anh thích màu xanh. Nhưng sáng hôm nay vẫn tôi là người nội trợ của nhà này, vẫn tôi là người trang trí sắp đặt căn phòng khách này, tại sao bây giờ mọi sự lại thay đổi như thế được? Mọi sự thay đổi như không có mặt tôi trong ngôi nhà này, và hiện có mặt một người nào khác. Cái tủ sách, kỳ chưa, cũng được sắp đặt môt cách khác hẳn. Tại sao? Mới đây, mới hồi sáng đây…

Tôi đứng ngẩn ngơ cố nhớ ra mọi việc, nhưng không thể nào hiểu được. Bỗng tôi nghe tiếng xe hơi quen thuộc của anh tôi trở về. Rồi tiếng máy tắt, tiếng cửa xe hơi đóng sầm lại. Anh đã về. Trong một lát thôi, tôi biết anh sẽ gọi “Có ai ở nhà không?”như mọi lần và sẽ bước vào nhà. Nghĩ đến anh, và biết rằng chỉ trong chốc lát nữa thôi tôi sẽ được yên ổn trong tay anh, tôi thấy đầu tôi tỉnh táo hơn lên. Mọi chuyện rồi sẽ qua. Tôi nhắm mắt lại một lát và nghĩ rằng khi mở ra mọi sự vật trong phòng đều trở về y nguyên như hồi sáng, như tự bao giờ. Chiếc ghế xanh của tôi sẽ lại trở về chỗ cũ, với vải bọc màu xanh. Cái màn cửa sẽ cũng trở về xanh nhạt … và anh tôi với nét mặt hiền hậu và nụ cười cương quyết mỗi khi sẽ hiện ra trước cửa, hỏi tôi “Sao đó em” … Rồi mọi sự sẽ trở lại tốt đẹp như thường.

Tôi nhắm mắt lại. khi tôi mở mắt ra, mọi vật vẫn không thay đổi. Phòng khách vẫn là phòng khách tím nhạt. Tủ sách vẫn là tủ sách sắp đặt theo kiểu. Nhưng – ôi sung sướng – tôi nghe tiếng của anh tôi từ ngoài sân vọng vào “Có ai ở nhà không?”

Tôi chưa kịp trả lời thì cửa phòng ngủ mở ra – phòng của tôi – một thiếu phụ đi ra. Thiếu phụ cao hơn tôi một chút nhưng dạng người thanh nhã, và nét mặt rất đẹp. Tôi chưa từng thấy nàng bao giờ trong đời tôi; nhưng sao nàng lại từ trong phòng tôi bước ra, quen thuộc như là cái nhà này của chính nàng. Sau nàng, tôi thấy có một cô bé vào khoảng mười tuổi, xinh đẹp hao hao giống Yên-Chi. Tôi đã gặp nó lần nào chưa nhỉ, sao trông có vẻ giống Chi quá. Không, tôi chưa gặp lần nào.

Đúng lúc đó, anh tôi bước vào. “Em”, anh kêu lên, nhưng anh bước thẳng đến người thiếu phụ, và hôn nàng trên mái tóc, rồi hôn em bé phía sau. Anh không trông thấy tôi.

Có tiếng ai thét lên. Một lát thấy cổ họng khô cháy, tôi biết là chính tôi đã la thét. Tôi ngất đi không biết gì nữa.

Sáng hôm sau tôi thức dậy, tôi thấy tôi đang nằm ở bệnh viện . Hai khuôn mặt đầy lo âu dang chăm chú nhìn tôi, khuôn mặt của anh Hưng tôi và của bác sĩ Lương. Thấy tôi đã tỉnh, bác sĩ Lương kêu lên “Cô ấy đã tỉnh dậy rồi”; và khoan khoái thở dài như vừa giải xong một bài toán khó. “Cô cứ nằm yên”, bác sĩ tiếp “mọi sự đều tốt đẹp, không sao cả. Anh Hưng có lẽ đã lo lắng suốt một ngày một đêm vừa qua nên bây giờ cũng lộ vẻ mừng rỡ. Anh bước đến gần và nắm chặt lấy bàn tay tôi.

“Việc xảy ra như thế nào, anh?” tôi hỏi. Anh tôi đưa mắt nhìn bác sĩ Lương, nhận một cái gật đầu đồng ý, rồi cúi xuống tôi “ Anh cũng không biết rõ nữa, Hương. Em gọi giây nói đến tòa báo, giọng em có vẻ hoảng hốt, vì vậy anh hấp tấp trở về ngay. Khi anh vào, em đang đứng trong phòng khách và la hét như người mất hồn. Khi anh đến gần thì em ngất đi”

Bác sĩ Lương tiếp “Cô bị chấn động thần kinh. Triệu chứng rất rõ ràng. Cô có một dấu sưng trên đỉnh đầu, và suốt thời gian nằm mê man trong bệnh viện, cô ở trong một trạng thái kinh hoàng, kèm theo những cơn nhức đầu dữ dội và nôn mửa, những triệu chứng thường hay đi đôi với bệnh thần kinh chấn động. Anh cô nói là cô gọi điện thoại về tòa báo. Vậy tôi chắc có tai nạn gì đã xẩy ra cho cô sáng hôm qua. Cô có nhớ gì không?” Tôi ngần ngại; bác sĩ nhìn tôi rất lâu và rất chăm chú. “Tai nạn gì tôi chưa biết, nhưng hình như nó còn làm cho cô kinh hoảng. Cô nên nói cho nghe” bác sĩ tiếp.

Tôi bèn kể lại cho bác sĩ và anh tôi nghe đầu đuôi câu chuyện, từ lúc hộp cà chua rơi xuống đỉnh đầu cho đến khi tôi bắt đầu hét lên. Mọi chi tiết vẫn còn rõ ràng trong óc tôi – Cháu Yên-Chi với chiếc bánh xe, chiếc đĩa cổ của bà ngoại đã vỡ rồi lại lành lặn trở lại, Những chữ viết trên bảng đen hiện ra trong đầu nói về đứa con của anh chị Thuần, tấm kiếng soi mặt vỡ rồi lại lành, người thiếu phụ trong phòng khách mà anh tôi đã hôn trên tóc. Khi tôi kể xong câu chuyện, anh tôi cười: “Cô còn quên chuyện cô gọi điện thoại về tòa báo. Hương, em kể chuyện hay lắm; em phải bắt đầu viết những chuyện thần kỳ như của Edgar Poe để đăng báo mới được”. Nghe anh khôi hài tôi cảm thấy đau đớn. Tôi thoáng cảm lại cái dư hưởng của sự hoảng sợ đã khiến tôi hét lên như ngày hôm qua. Tôi nói “Đừng cười, anh. Câu chuyện không vui đâu anh. Câu chuyện không đáng cười một chút nào hết anh”.

Anh tôi nắm bàn tay tôi chặt hơn và cúi xuống hôn trán tôi “Anh biết. Xin lỗi em. Anh vui vì thấy em đã được bình phục. Có phải vậy không, Bác sĩ?”

“Nhất định rồi. Cô ấy đã bình phục như thường. Ồ, không có gì phải lo lắng cả. Những chấn động thần kinh thường hay gây ra những chuyện lạ lùng. Nhưng sau đó, thì tất cả đều trở thành một câu chuyện vui cho gia đình. Có lẽ sau này, mỗi khi cô dùng chiếc đĩa lớn của bà ngoại, anh cô lại trào phúng bảo cô hãy cẩn thận “đừng đánh vỡ nó lần nữa”. Bác sĩ cười và nói tiếp “Và nếu không bà Thuần quả thật là sinh con trai, thì cô đừng vì thế mà mở cửa hàng tướng số nhé. Nên nhớ là chỉ có hai trường hợp: một là trai, hai là gái. Vậy thế nào cô cũng có ít nhất năm chục phần trăm may mắn”.

Câu nói pha trò của bác sĩ Lương làm cho tôi yên tâm và nhẹ nhõm, hơn bất cứ lời hứa nào về sức khỏe tôi mà bác sĩ trang trọng nói. Ngày mai khi anh tôi đến nhà thương để đưa tôi về, thì tôi đã cười nói như thường và quyết định sẽ quên hết mọi chuyện kỳ cục đã xảy ra.

Nhưng sau đó mấy hôm, tôi đánh vỡ chiếc đĩa cổ của bà ngoại. Tôi đang rửa và nó trượt khỏi tay tôi và rơi xuống sàn nhà, vỡ làm ba mảnh.

Tôi cúi xuống nhặt cả ba mảnh, vừa nghỉ rằng anh Hưng khéo tay có thể gắn lại đẹp hơn tôi, thì bỗng nhiên sự kinh hoảng trở về, xâm nhập tôi mau chống như luồng điện giật.

Run rẩy, tôi bước lui và gieo mình trong một chiếc ghế. Điều trước tiên mà tôi có thể nghỉ đến là “tôi đánh vỡ chiếc đĩa cổ của bà ngoại!” cũng giống hệt như lần trước, khi chiếc đĩa không vỡ. Rồi tôi tự nhủ đừng có điên. Chiếc đĩa lớn quá, và khó xử dụng. Mình cứ hay sợ là sẽ làm vỡ nó nên đã có ảo tưởng là đã làm vỡ nó trong lần trước nhưng lần này thì vỡ thật rồi. Quả quyết, tôi đứng dậy cầm ba mảnh vở của chiếc đĩa, đi tới tủ chén và cất chúng vào đấy chờ anh tôi. Một lát sau, chị Thuần ghé chơi. Nhìn vào mặt tôi, chị la lên :”Ô hay, chi Hương, sao chị như mất hồn thế?”

“Em đánh vỡ chiếc đĩa cổ của bà ngoại” tôi la lên như muốn khóc. Chị Thuần và tôi hai người đứng yên lặng nhìn nhau.

“Lại nữa!”, chị nói. Nhưng vẻ mặt cũng hoảng hốt không bình tỉnh như giọng nói cố trấn tĩnh của chị. Đưa ngón tay chỉ vào mặt tôi, chị cố gắng lấy vẻ tự nhiên: “Chị đứng yên đấy nhe, đừng động đậy. Để tôi xem”. Chị ra lệnh, và đi lại tủ chén. Rồi chị thở ra, thở dài khoan khoái. “Đúng nó vỡ rồi thật”. Rồi chị cười và ôm lấy tôi, trách móc “Thôi nhé, chị đừng có dọa em sợ mất hồn như thế nữa nhé. Chị nên nhớ rằng em cũng ở trong điều kiện mong manh lắm, đừng làm cho em sợ. Bác sĩ bảo em chỉ nên nghĩ những điều tốt đẹp và sự lành mà thôi”.

Chúng tôi cùng cười vui vẻ. Khi chị Thuần đi rồi, tôi tự nhủ rằng từ đây phải quên hết mọi chuyện điên khùng ấy đi. Nhưng buổi trưa đó, khi tắm xong, đang mặc áo, tôi bắt gặp tôi đang thầm lén nhìn vào tấm gương để xem nó có nứt rạn chăng. Khi anh tôi về, vào giờ cơm trưa, tôi kể lại câu chuyện chiếc đĩa, và có thể cười tự hào về câu chuyện. Anh ấy đem ba mảnh vỡ ra và gắn lại khéo đến nổi mà trông thấy đường nứt trên chiếc đĩa cổ.

Tuần sau chúng tôi đi Cấp, anh Hưng, tôi và cháu Yên-Chi. Một tuần lễ ở lại bãi biển khiến chúng tôi mạnh khỏe hơn lên. Khi ở Cấp trở về, tôi hầu như đã quên hết mọi việc đã xảy ra. Mọi việc điều bình thường trở lại như cũ. Thứ sáu đó, tôi đến thăm chị Thuần. Em thấy trong người kỳ lạ lắm chị Hương, hỏi như thế nào, chị trả lời “Em không. Chỉ thấy kỳ lạ trong người, thế thôi”. Nhưng hai giờ trưa hôm ấy, khi chị gọi điện thoại cho tôi, thì tôi biết là chị sắp sinh. Tôi vội chạy đến và dìu chị nằm yên trên giường và cấp tốc gọi bác sĩ Lương ở bệnh viện. Đồng thời tôi cũng gọi anh Thuần ở sở. Nhìn chị Thuần quằn quại tôi không có gan ruột nào mà suy nghĩ gì cả. Mãi đến khi anh ấy và bác sĩ Lương trở về, chở chị cấp tốc vào nhà thương, tôi mới kịp nghỉ ra rằng hôm nay không những là thứ sáu, mà lại còn là ngày mồng sáu tháng bảy nữa. Đúng hệt là ngày mà tôi tiên đoán. Em bé ra chào đời vào bảy giờ tối hôm ấy. Khi tôi gọi điện thoại cho anh Thuần, anh ấy vui vẻ bảo “Bình yên, cảm ơn cô. Dễ dàng như trở bàn tay. Nhà tôi vẫn khỏe”.

“Còn cháu?”

“Cháu khá”

“Cháu trai hay gái?” tôi lật đật hỏi; giọng run run.

“Trai, gì thế cô?”

Tôi không trả lời, buông ống nói xuống . Chỉ muốn hỏi cho biết là trai hay gái, thế thôi. Chỉ muốn biết coi có đúng không, thế thôi. Tuy nhiên tôi không rối loạn lắm. Tôi tự lý luận với mình như một nhà triết học. Ngẫu nhiên, toàn là ngẫu nhiên cả. Chỉ là ngẫu nhiên, tình cờ như cái đĩa cổ của bà ngoại. Một mớ ngẫu nhiên nữa, nhưng cùng một kiểu ngẫu nhiên như thế cả. Chẳng có gì lạ.

Tôi bám chặt vào ý tưởng ấy, cố tin vào đó. Sáng chủ nhật khi hai anh em tôi vào nhà thương thăm, chị Thuần cười “Ô! Chị Hương! Đúng là mồng sáu tháng bảy! Đúng là con trai! Sao chị không ra ngồi ở lăng ông Bà Chiểu mà làm thầy tướng số cho rồi đi chị”! Tôi vẫn không nao núng, và vẫn tin vào ý tưởng ngẫu nhiên, tình cờ.

Chiều thứ hai, tôi trở lại nhà trường. Chị Thuần nói “Chúng em đã quyết định về tên cho cháu bé rồi. Hôm qua, khi chị Kim Anh đến thăm và ra về, thì chúng em bàn đặt tên cho cháu ngay”.

Tim tôi bắt đầu đập mau, và tôi tự nhủ đừng có làm đồ điên lần nữa. Tôi hỏi “Tên gì? Anh chị đặt tên gì?”

“Chị không tưởng tượng được đâu nhé, đáng lẽ là tên Hậu, hay tên Kính, hay là tên Lương. Nhưng không biết nghĩ sao, tôi nghĩ đến chị Kim Anh, người đã thi ân cho chúng tôi nhiều trong những năm chúng tôi còn lận đận, và muốn nhớ tới chị, chúng tôi đặt tên cháu là Hùng. Nhưng trời ơi, sao thế chị Hương? Mặt chị trắng như một tờ giấy”. Tôi lẩy bẩy tìm một chiếc ghế và ngồi xuống. “Đừng có làm cho chị ấy hoảng kinh”, tôi tự nhủ. Và tôi trả lời “Không sao cả chị, em hơi mệt”.

Tôi không biết làm sao mà tôi sống qua được ngày hôm ấy để đợi anh tôi về. Khi anh tôi về, vào lúc bảy giờ chiều, tôi ngã trong tay anh và khóc như một đứa trẻ con. Chừng mười phút sau, anh mới dỗ tôi nín được và bảo tôi kể chuyện cho anh nghe. Cuối cùng anh hỏi “Vậy thì anh chị đã đặt tên cho cháu bé là Hùng?” Tôi gật đầu, rồi bỗng nhiên nhìn anh mà nói với một giáng vẻ giận dữ: “Em cấm anh không được cười, nghe không? Đừng có cười đàn bà con gái điên khùng lắm chuyện”.

Tôi ngạc nhiên nghe anh trả lời chậm rãi: “Không, anh không cười nữa đâu. Trái lại, anh lấy làm lo lắng. Hương, em hứa với anh đi. Em đến thăm bác sĩ Lương và kể hết mọi chuyện. Nhé?”

Tôi hứa, nhưng tôi vẫn dần dà không gọi điện thoại để định trước giờ gặp. Tôi ngần ngại. Tôi có thể tượng tượng bác sĩ Lương ngồi sau bàn giấy lắng nghe câu chuyên vô lý của tôi kể và cố gắng che giấu nụ cười thương hại, thương hại cho cái thứ đàn bà con gái suy nhược thần kinh. Tôi chắc rằng ông ta nhiều lắm là cho một toa thuốc gồm các thứ an thần và bổ dưỡng, rồi nói vài câu an ủi và trấn tĩnh. Một tuần trôi qua; tối nào anh tôi cũng hỏi “Cô đã gọi bác sĩ Lương chưa?” cuối cùng tôi hứa với anh là sẽ gọi bác sĩ sáng thứ hai tới. Nhưng sáng thứ hai, cháu Yên-Chi đau bụng, tôi không cho cháu đi học. Khi xe nhà trường đã đi rồi, chứng đau bụng của cháu biến mất một cách mau chóng và đáng nghi. Cháu xin ra ngoài sân chơi. Tôi đang ở trong bếp rửa những chén bát của buổi ăn sáng, thì bỗng nghe cháu gọi “Me ơi, Me! Ra mà xem”.

Tôi vừa bước tới cửa sổ thì bỗng lo lắng ở đâu tràn ngập tâm hồn. Vì sao? Tôi không biết. Bỗng cháu Yên-Chi chạy tới trước cửa sổ, la lên “Me, con làm được một chiếc bánh xe – một chiếc bánh xe!”

Run rẩy, tôi bám chặt thành cửa cho khỏi ngã. Tôi thấy tà áo đỏ của cháu bay phất phơ trong gió. Nhưng áo của cháu không ngắn quá như lần trước; tôi dã xuống một lai cho dài hơn. Ô, vậy thì không đúng với lần trước rồi. Không đúng rồi, vì lần trước áo cháu ngắn hơn.

Tôi có thể trông thấy cháu Yên-Chi đang nóng nảy đợi tôi khen. Tôi biết nói làm sao đây? Hay phải nói những tiếng tiền định? “Ô, con giỏi lắm”, tôi buột miệng không giữ kịp. “Con đem cho Suzanne coi Me nhé? Suzanne cũng nghỉ học, nó trặc chân” Cái việc trặc chân cũng là một việc mới, không đúng với lần trước, tôi nghĩ. Hoặc giả lần này cũng là giả như lần trước? Tôi rùng mình, lạnh xương sống.

“Được không me? Được không?” cháu giục.

“Đừng”, nhưng tôi vội chữa lại, không biết vì sao: “Được; nhưng đừng đi đâu quá nhà Suzanne, và nhớ về trước giờ cơm trưa, nghe con”, tôi nói nốt những tiếng tiền định.

Tôi đứng yên như vậy một lát nhìn theo cháu nhảy nhót chạy ra cửa ngõ. Rồi tôi trở vào, đi thong thả. Thong thả như một người già cả. Trời ơi, tôi chẳng bao giờ được già đâu. Trước khi già, tôi đã phải chết. tôi sẽ không còn sống nữa. Không còn hiện hữu nữa. Không còn hiện hữu trong cái nhà này nữa. Tôi sẽ xa anh tôi, sẽ xa cháu Chi. Người thiếu phụ kia là ai nữa, nếu không phải là vợ của anh tôi, sau khi tôi đã chết. Em bé gái xinh đẹp kia là ai nữa, nếu không phải là cháu Yên-Chi lớn lên. Lần đầu tiên tôi hiểu tại sao phòng khách lại trang hoàng màu tím nhat và máu trắng. Tôi để rơi mình trên một chiếc ghế. “Trời ơi”, tôi khóc như mưa.

Tôi ngồi đó thật lâu, Rồi tâm hồn tôi dịu lại. Tôi không còn sợ hãi nữa. Tôi không cảm thấy gì hết. Hoàn toàn không cảm thấy gì hết. Tôi thấy tôi nghĩ đến điều đó như môt điều định mệnh, hiển nhiên. Tại sao tôi lại quyết chắc rằng tôi sẽ chết. Tôi tự hỏi. Anh tôi có thể cưới vợ, lập gia đình, nhưng việc gì mà tôi phải chết? Giả sử tôi đi dạy nơi khác? Nhưng nếu tôi đi dạy nơi khác tại sao tôi không đem cháu Yên-Chi đi? Tại sao cháu Yên Chi lại ở đây với người thiếu phụ? Thôi quyết rồi, quyết là tôi chết rồi.

Vậy thì cái chết của tôi mới là lời giải hợp lý cho mọi việc. Tôi cố nhớ lại những gì tôi thấy trong phòng khách của tôi – hay là phòng khách của cô ta?

– Nhớ lại ngày đầu tiện câu chuyện quái đản xảy ra. Cháu Yên-Chi lúc ấy có vẻ lớn hơn bây giờ nhiều, vào khoảng trên mười tuổi. Vậy là bốn năm sau. Có lẽ tôi chưa chết ngay bây giờ đâu. Nhưng có thể trước cái ngày ấy một năm, hai năm, hay ba năm…

Tôi vùng đứng dậy và thấy toàn thân run lên. Trời ơi tôi điên rồi hay sao. Tại sao một cô gái mạnh khỏe như tôi mà lại đi nghĩ đến cái chết của mình một cái bình tĩnh như thế? Tôi đưa tay lên sờ mặt và thấy đôi má tôi ướt đẫm. Tôi đã khóc mà tôi không biết. Rồi cẩn thận, tôi nhón gót đi từng bước một đến máy điện thoại và gọi bác sĩ Lê Ngọc Lương.

Chiều hôm ấy, khi giáp mặt bác sĩ ngồi sau bàn giấy, tôi cảm thấy những lo lắng sợ hãi của tôi trở thành kỳ cục. Tuy nhiên bác sĩ vẫn ân cần nhủ tôi phải khám lại toàn cơ thể, kể cả chiếu quang tuyến X, để biết chắc rằng không có bộ phận bị hư hại vì thần kinh chấn động. Không có bộ phận nào hư hại thật. Về thân thể, tôi cũng mạnh khỏe bình thường như bất cứ một người bàn bà con gái nào. Bác sĩ Lương còn gửi tôi tới một Psychiatre, bạn của ông ta nữa. Bác sĩ này lắng nghe tôi kể mọi chuyện một cách hết sức chăm chú và trấn tĩnh tôi.Tôi không có bệnh gì cả, tâm lý vẫn bình thường. Ông bảo rằng những ý tưởng về cái chết và sự xa cách những người thương yêu là những ý tưởng rất phổ thông và thường gây ảo tượng. Phần lớn phụ nữ đều có trải qua hiện tượng ấy, dầu ít dầu nhiều. Vì thần kinh chấn động, những hiện tượng kia có thể trở thành rất thực, nhất là trong những lúc lo lắng quá độ. Bác sĩ chỉ cho tôi xem những hiện tượng ảo sợ cỏn con của tiềm thức đã nổi lên trên mặt phẳng ý thức và tác động như thế nào, dưới ảnh hưởng của vết thương trên đỉnh đầu. Khi tôi cất chiếc áo đỏ của cháu Yên-Chi trên tầng tủ, tôi đã chẳng thầm nhủ trong tiềm thức rằng sẽ đem xuống một lần nữa cho cháu mặc vào mùa hè hay sao? Chiếc kiếng soi mặt nứt rạn rồi lành lại chẳng qua chỉ là do mắt quáng trông nhầm, vì ảnh hưởng của vết thương quá mạnh trên đầu. Chiếc đĩa cổ của bà ngoại cũng vậy, do mắt quáng mà thấy lầm đó thôi. Còn ngày sinh của bé Hùng, thì, ba tuần sớm hơn cũng là một chuyện thường xảy ra; tôi lại há chẳng biết rằng cái tên Hùng là một cái tên rất phổ thông thường đặt cho con trai cho nó có vẻ mạnh mẽ hay sao?

Khi cuộc nói chuyện chấm dứt, tôi gần như đã bị bác sĩ chinh phục hoàn toàn. Gần như. Từ đó trở đi, chẳng có gì hiển hiện thêm nữa, nên những nghi ngờ còn sót lại cũng yếu dần, yếu dần. Thỉnh thoảng, chỉ thỉnh thoảng thôi, cái cảm giác sợ hãi mới len lén trở về. Song tôi không để ý rằng anh tôi vẫn theo dõi tôi từng giọng nói đến từng cử động. Mãi đến tối thứ bảy vừa qua, cách ngày tôi gặp bác sĩ Lương hơn hai tháng, trong khi cháu Yên-Chi đang học bài trên lầu, tôi lụi cụi trong bếp để nấu chè đậu xanh, tôi mới để ý. Anh ấy cầm đèn soi cho tôi bắc soong chè xuống nói chuyện cho tôi vui, cho có bạn. Tôi đang chìm đắm trong sự lo âu vô cớ, bỗng anh dằn mạnh chiếc đèn xuống bàn nói lớn: “Đừng, em”.

“Đừng có nghĩ tới … cái việc ấy nữa”.

Tôi đặt soong chè xuống bàn, và nhìn anh, đau khổ: “Anh Hưng ơi, làm sao em có thể tránh cho được? Ai nói gì thì nói, ai lý luận gì thì lý luận, không biết tại sao em vẫn cứ nghĩ rằng em biết, em biết tất cả những gì còn lại sẽ xảy ra cho em, anh ơi”.

Anh tôi bước lại gần, quàng tay ôm lấy tôi và nói rất nhẹ: “Em Hương, anh cũng biết một điều rất rõ, điều mà anh sẽ nói cho em nghe. Đó là anh thương em”. Anh ấy nâng cả cẳm tôi lên, bắt tôi phải nhìn thẳng vào mắt anh, và nói tiếp “Em là người anh thương yêu nhất trên đời này. Ba, Mẹ đã mất rồi. Anh chỉ còn có một mình em. Còn anh đây, làm sao anh lại để cho mất em, hả Hương? Em không biết rằng mất em anh sẽ cảm thấy thiếu tận xương tận tủy anh sao? Nhưng anh biết rằng điều đó sẽ chẳng bao giờ xảy đến cho chúng ta cả”.

Tôi dường như thấy tình thương của anh tôi tỏa hào quang và bao bọc che trở cho tôi, là cho tôi cảm thấy êm ái và hết cả lo âu. Trong lúc ấy, nhìn vào mắt anh, tôi biết là tôi có thể tin lời anh. Tôi sẽ không bao giờ chết. Và anh tôi dường cũng biết tôi nghĩ như vậy. Anh hôn trên trán tôi và đánh tôi một cái nhẹ trên má. Tôi múc chè ra chén và nói chuyện với anh một cách tự nhiên, sung sướng; trong mấy tháng nay tôi chẳng khi nào tôi được sung sướng như thế.

Khi chè đã múc xong, tôi đi rửa mặt, tay và thay áo mát buổi tối. anh tôi ra phòng khách. Tôi đang đứng trước tấm kiếng để thay áo, bổng tôi thấy nó hiển hiện. Tấm kiếng. Một tiếng lách cách kéo dài, tấm kiếng nứt rạn theo những đường ngoằn ngoèo kỳ dị, từ trên xuống dưới.

Tôi biết là nó đã xảy đến, cái việc mà tôi đã đợi chờ từ lâu, lo lắng từ lâu. Tôi đã biết trước rằng một ngày kia tôi sẽ phải nhìn vào tấm kiếng vỡ để thấy những visions trở thành sự thực. Tôi đã nghĩ rằng nó chưa xảy đến. Chưa. Có lẽ không bao giờ. Tôi sẽ tin vào lời anh tôi, tin lời bác sĩ, tin một cách hoàn toàn, tin để mà sống, khi mà tấm kiếng chưa vỡ.

Nhưng nay nó đã vỡ. Lặng lẽ và chậm rãi, tôi tiến lại gần nó, để nhìn tận mặt và để khám phá rằng tôi không hiện hữu trong kiếng.Nhưng không, hình tôi vẫn phản chiếu trong kiếng như mọi khi. Mà có cả cái gì là lạ cũng phản chiếu trong kiếng nữa. Tôi chúi tới trước để nhìn cho rõ. Sau bối cảnh tôi thấy … những hàng dài thánh giá, và chữ vạn chạy dài tới vô biên, nổ bật trên những nấm mồ cỏ xanh. Cây cối um tùm như trong nghĩa địa. À mà đúng là nghĩa địa thật rồi, đang trải đến chân trời. Nơi yên tĩnh ngàn đời…

“Hưng, anh Hưng! Trời đất ơi! Anh Hưng! Mau lên anh” tôi hét lên, khi anh tôi chạy đến, thì hình ảnh đã biến mất rồi. Anh chạy vào, hoảng hốt và hình như không thấy tôi cho nên ngơ ngác nhìn quanh. Anh ở ngoài sáng chạy vào nên không kịp trông thấy tôi, hoặc giả anh đã không trông thấy tôi hiện hữu trong lúc đó. Có lẽ nghe tiếng hét anh mới tìm tới được chỗ tôi đứng. Và khi mắt chúng tôi gặp nhau trong tấm kiếng vỡ thì tôi biết rằng, cuối cùng anh cũng phải tin. Nhưng anh không công nhận, và nếu anh có trông thấy gì trong kiếng anh cũng dấu, không bao giờ nói cho tôi nghe đâu.

“Anh Hưng ơi”, tôi khóc “hãy bảo cho em biết rằng anh có trông thấy em không, hở anh?” Anh tôi dìu tôi ngồi xuống và nói: “Sao anh lại không trông thấy em? Em vẫn còn đây, em vẫn hiện đây, em là em của anh. Chẳng có ảo tượng nào cướp mất em của anh đi được. Em nằm xuống nghỉ cho khỏe. Đây là đoạn cuối của những ảo tượng. Em sẽ bình phục hoàn toàn sau một thời gian nghỉ ngơi.”

Ngồi bên giường tôi, anh an ủi và vỗ về tôi như an ủi vỗ về một đứa trẻ. Cháu Yên-Chi đã vào tự bao giờ, và đang nắm tay tôi mà khóc, “Me ơi me, làm sao thế me?” Tôi nhìn lại cháu và lắc đầu “Không, me không sao cả”, rồi ôm cháu vào lòng, an ủi.

Tối hôm ấy, chúng tôi thức suốt sáng. Cháu Yên-Chi nhất định không đi ngủ và cùng thức với tôi.

Câu chuyện của tôi chấm dứt ngang đây. Đã sáu tháng qua tôi chẳng thấy có gì lạ. Tôi vẫn sống với anh tôi, và với cháu. Nhưng không buổi tối nào trước khi đi ngủ mà tôi lại không tự hỏi rằng ngày mai tôi có còn sống không, còn được nấu cho anh tôi ăn không, nếu ngày mai có chuyện gì xảy ra, thì người viết tiếp câu chuyện này cố nhiên không phải là tôi. Tôi không còn hiện hữu, thì làm sao mà viết tiếp được. Có lẽ là anh tôi, và có lẽ là cháu Yên-Chi, hoặc có lẽ là nàng, người thiếu phụ tôi trông thấy lần trước. Anh ơi? Ngày mai em có còn được trông thấy anh nữa không? Con ơi, ngày mai mẹ có còn được mặc áo cho con nữa không? Hay mai tôi sẽ không có ở đây nữa. Tình thương của anh tôi và con tôi có đủ sức bảo bọc tôi, giữ gìn tôi, chống lại cùng hư vô chăng?

Những vòng hoa trắng, những lời tiếc thương… Không, tôi không muốn được tiếc thương, tôi không muốn được tưởng nhớ. Tôi muốn, trời ơi, tôi muốn hiện hữu, tôi muốn có mặt ở đây, hôm nay, và mãi mãi. Tôi muốn được có mặt, dù là có mặt để mà khổ đau. Tôi sợ hư vô… Chấp tay tôi lạy, tôi nguyện cầu rằng dù có chịu bao nhiêu khổ đau, tôi vẫn ước ao được hiện hữu. Ngày mai, ôi ngày mai, tôi có còn được có mặt ở đây chăng? Trả lời cho em, anh ơi! Trả lời cho mẹ, con ơi!

Princeton, 1962,

Yên Chi

drinking_ghost

(Văn Nghệ số 15 tháng 5 năm 1962)

Nguồn: Văn Miền Nam, tập III. Thư Ấn Quán xuất bản mùa thu năm 2009.

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)