Kính chào quý vị. Trước hết tôi cảm ơn ban tổ chức đã cho tôi chút thời gian nói chuyện trong buổi tưởng nhớ chiều nay. Nguyễn Tiến Đức ra đi, để lại một mất mát không chỉ riêng cho gia đình, bằng hữu, mà còn cho cả nền văn học hải ngoại.
Đối với tôi, Nguyễn Tiến Đức là một người anh trong cõi văn chương mà tôi có duyên được gặp trong kiếp sống này, được cùng ông làm việc khi soạn in tập thơ Tiết Lộ Của Im Lặng (2016) và tuyển tập truyện ngắn Những Sinh Vật Trong Bộ Nhớ (2023) của ông.
Nguyễn Tiến Đức sở trường cà Thơ và Văn. Hôm nay tôi xin nói vài cảm nghĩ của một người đọc đối với thơ của Nguyễn Tiến Đức, dĩ nhiên là chủ quan, và tôi mong có được sự đồng cảm của quý vị.
Nếu ai đã từng yêu mến thơ Nguyễn Tiến Đức, và nhất là có dịp nói chuyện với ông, đều cùng nhận thấy ở nơi ông có một niềm đam mê theo đuổi văn chương rất mãnh liệt. Điều này đã khiến nên một Nguyễn Tiến Đức vô cùng mơ mộng, vô cùng yêu đời, và cũng rất vô cùng, giấc mộng văn chương.
Đối với ông, Thơ là độc tôn, là tín ngưỡng, mà ông đã nói ở đoạn thơ sau, như một tuyên ngôn về Thi ca:
chốn duy nhất con chim thi ca
cất tiếng hót cấm kỵ
tiếng hót phóng vút vượt đỉnh trời sấm sét
tiếng hót thiêu rụi những giáo điều vĩ đại…
(Điệu Nhẩy Của Chim Lửa)
Thật là một tuyên ngôn cực kỳ trữ tình. Và chúng ta không khỏi hỏi, Chốn Duy Nhất nào để thi ca Nguyễn Tiến Đức cất tiếng hót? Hãy nghe ông thố lộ, trong tập Tiết Lộ Của Im Lặng,
… anh tựa vào bóng tối của tuyệt lộ
quay về phương em…
… anh tìm thấy
mắt em nâu thẳm mở trận thơ hỗn mang…
… anh tìm thấy
chiếc võng đan bằng những sợi tóc em buông thả
anh nằm chênh vênh chơi trò chơi ngôn ngữ…
… ngay cả sự im lặng của môi em
sự im lặng của giải ngân hà
cũng đủ thôi thúc ngôn ngữ thi ca…
(Điệu Nhẩy Của Chim Lửa – Nụ Hoa Vả)
Nơi anh tìm thấy này dẫn đến một kết luận thơ mộng: đó là Điều Đẹp Đẽ nhất, đó là chốn duy nhất gây cảm hứng và nuôi dưỡng thi ca Nguyễn Tiến Đức. Bàng bạc suốt thơ của ông, cái chốn duy nhất lãng mạn trữ tình ấy.
Nếu phải nói một đặc điểm thơ Nguyễn Tiến Đức, tôi xin nói ngay đến tính Sáng Tạo, qua ánh nhìn của ông, thực thể luôn được kèm theo nó, một ảo-thể mới, từ đó đẩy ông khai phá ngôn ngữ tân kỳ để chuyên chở. Sự sáng tạo đẩy liên tưởng vô bờ bến bật ra dưới những hình ảnh tỷ dụ độc đáo, điều đó làm cho thơ Nguyễn Tiến Đức mang vẻ huyễn ảo của siêu thực. Đây cũng là một trong những đặc điểm để nhận biết thi phong của ông:
… phía bên kia ngón chân em đọng cát biển / … anh thấy hồn biển lưu vong… (Phía Bên Kia)
… anh thấy vòm tóc em cúi xuống thân anh / thành am cỏ thiền huyễn hoặc… (Đam Mê Chưa Tiết Lộ)
… anh có dấu son môi em / để lại trên miệng ly làm vệt bình minh lạ… (New York New York)
Chỉ hạt cát đọng chân em mà anh thấy cả một hồn biển lưu vong. Và cái ảo thể của vệt son môi trên miệng ly là bình minh lạ. Thật là những liên tưởng vô cùng độc đáo, quyến rũ.
Cái cảm hứng mãnh liệt say đắm như thế chế ngự toàn bộ không khí tập thơ Tiết Lộ Của Im Lặng, nhất là ở những bài xưng tụng nhân vật Em:
… anh tìm thấy
bờ cát nhớ. trên lưng em lặng bóng tối…
… anh tìm thấy
sóng thân em biển ngầm…
… vẫn còn đó chấm sẹo trắng trên lưng em làm nơi đến cho những đêm tha phương…
… nơi có chiếc hôn em
như một dâng hiến tối hậu
cho nghi lễ hoa của đời sống
… anh tìm thấy
niềm hoan lạc. không biên cương
trong những độc thoại từ môi em…
… anh biết sự bắt đầu của một cái hôn
là manh mối dẫn tới niềm bí ẩn
là nỗi đam mê liều lĩnh
là cuộc phiêu lưu không cùng
là giấc mơ buột tung xiềng xích
là mầu hoan lạc của đoá dâm bụt hoang đảo
nó là bông hoa tôn vinh các thi sĩ…
(Điệu Nhảy Của Chim Lửa – Vẫn Còn Đó – Lối Thoát Cuối – Nụ Hoa Vả)
Lắng nghe xưng tụng nhân vật Em của Nguyễn Tiến Đức, cảm giác của riêng tôi, như đang xem bức tranh Sự Khai Sinh Vệ Nữ của Botticelli, danh họa Ý thời Phục Hưng,1840. Cả hai gặp nhau ở điểm rực rỡ nhất trong sự sáng tạo cái đẹp phụ nữ mang màu sắc dục tính, mà tôi gọi là dục tính thơ mộng, bởi trong thơ Nguyễn Tiến Đức cũng như tranh Botticelli, sự diễn tả thụ hưởng cảm xúc được đặt trên bệ chữ thi ca, hội họa với nghi lễ của nghệ sĩ – nghệ sĩ chân chính – đánh thức mọi giác quan người thưởng lãm bằng một cảm xúc tinh tuyền, chữ tinh tuyền tôi mượn của nhà văn Trịnh Y Thư, vâng, cảm xúc tinh tuyền đánh thức giác quan. Theo tôi, đây là một thách thức cho người sáng tạo, bởi không dễ để nói về dục tính mà khơi gợi được cảm xúc tinh tuyền – chứ không phải là bản năng. Nghệ Thuật đích thực, phải chăng là như vậy?
Về thi pháp Nguyễn Tiến Đức hầu hết theo thể tự do. Theo ý tôi, khi đọc thơ ông, tôi cảm thấy thể tự do không phải là tiền đề mà là hệ quả của cảm xúc, ông để ý thơ, chữ thơ, trôi chảy theo cảm xúc, từ đó ấn định nên cấu trúc bài thơ đang viết. Ông khẳng định trong bài thơ Mùa Xuân:
… anh không cần một bản đồ lộ trình
để tới những đất miền xuân lạ
anh lên đường với hành trang đam mê …
Với hành trang đó, với nội lực của sáng tạo ấy, ông đã viết những dòng thơ cực kỳ yêu đời, khẳng định quyền của thi sĩ:
… ca ngợi thi ca ca ngợi thiên nhiên
ca ngợi đàn bà trẻ thơ
ca ngợi đời sống và con người
ca ngợi quê hương ca ngợi thế giới
ca ngợi Tự Do.
(Tụng Ca Tự Do)
Vâng, NguyễnTiến Đức là nhà thơ của sáng tạo, của đam mê và của tự do.
Thưa quý vị, thưa nhà thơ Nguyễn Tiến Đức, nếu ông có đâu đó trong căn phòng này, thì tôi xin thưa với ông, cái hành trang đam mê ông đem theo trên dặm trường thi ca ấy là một cái nghiệp, nên nếu có kiếp sau, thì tôi tin ông sẽ tiếp tục làm thơ.
Nguyễn Tiến Đức của chúng ta cũng sẽ mãi là Thi Sĩ.
Nguyễn thị Khánh Minh
(Bài đọc trong buổi tưởng niệm Nguyễn Tiến Đức do Da Màu tổ chức
chiều Dec 28.2024 tại E-Patisserie, đường Main, thành phố Garden Grove)