Trang chính » Biên Khảo, Phỏng vấn Email bài này

Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng – Viết là một ước nguyện

 

1- Thưa nhà văn Nguyễn Thị Hoàng, bà suy nghĩ gì khi tác phẩm của mình sau hàng chục năm vắng bóng nay được in lại một cách hết sức trang trọng?

Trong suốt mấy mươi năm chôn vùi tự ý, đã có lúc cảm thấy lạc loài khi thoáng qua những quầy sách ngập tràn sắc màu và tên tuổi mới. Những lúc khác, nhận ra phương vị mình bên lề đời có lẽ thích hợp hơn được xếp hàng vào tầng bậc một thời gian và nhịp điệu khác. Bởi tự nghĩ mỗi người chỉ có một thời thôi, dù thời ấy ra sao cũng chỉ một lần đến rồi đi và mất dấu hẳn. Và thời của tôi cũng đã qua. Tuy nhiên, đôi khi vì những tiếng gọi từ độc giả gần xa, từ những âm vang ngân nga không dứt trong cảm niệm riêng mình về từng khúc viết qua đời, mong muốn nao nức bầy con mình, những tác phẩm không quên lãng mà vùi chôn, được cách nào đó hồi sinh…

Nhưng, sau những ngỏ lời mơ hồ, những hứa hẹn buông trôi, những thực hiện dở dang để làm lại bầy sách cũ, tôi không còn muốn nghĩ, tin hay chờ bất cứ gì từ đâu nữa.

Thế rồi bỗng nhiên Nhã Nam gõ cửa. Ngày xưa tôi biết rõ những nhà xuất bản lớn ở miền Nam. Bây giờ thì không. Do không đọc không xem không liên lạc không tiếp xúc cùng ai cả. Nhưng chỉ thuần bằng cảm nhận, qua thể loại sách chọn lọc, qua trình bày in ấn, qua hoạt động điều hòa và quy mô của Nhã Nam, tôi mở cửa cho “mấy đứa con” theo về đúng chỗ mình. Từ đó, tôi có thể lại tiếp tục con đường tưởng chừng dứt nẻo từ lâu…

Con đường đôi khi chỉ bắt đầu ở đoạn cuối, nên tiếp tục nếu còn có thể không phải chỉ là viết, mà viết để làm gì. Nên ở trường hợp tôi, việc in lại sách sau mấy mươi năm vắng bóng hoặc làm sống lại tác giả tác phẩm không còn quan trọng bằng hệ quả ấy lay tỉnh được cơn ác mộng hoặc quay đều lại một thứ động cơ tắt ngấm từ lâu. Sự việc có vẻ như bình thường này của đôi bên xuất bản và tác giả lại trở nên khác thường đối với một trường hợp, vì đáp ứng đúng vào thời điểm, đúng hơn là giai đoạn của một hành trình biến chuyển, trở lại, thay đổi và bắt đầu. Thay đổi ấy khởi đầu với những khúc đoạn khác nhau trong Nhật ký của im lặng năm 1990, không còn là chuyện tình mà suy tưởng hoặc tư tưởng về con người, vấn đề, sự việc…, bắt đầu thì chưa, vì quá nhiều nguyên do nhưng chính yếu vẫn là không lực đẩy và sức hút cho một động cơ hoạt động, dù phần nội dung đã hình thành trong tâm tưởng. Nhiều ngỏ lời thăm hỏi về những loại viết mới, nhưng thiết nghĩ, sẽ không gì cả hoặc tất cả, nên phải cũ trước mới sau, phải đầu mới cuối để đầy đủ trọn vẹn một hồi sinh. Nên, chưa in lại dù chỉ vài ba cuốn cũ, thì không thể nào hiện hình một thứ mới bất cứ là gì, sẽ lạc lõng xa lạ, vô can đối với thế hệ đọc hoàn toàn cách trở tác giả và tác phẩm cũ. Nên in lại, không phải là hồi sinh tác phẩm cũ, mà cuộc mở đường cho tác phẩm mới nếu có. Cũ và mới xa cách nhau nửa thế kỷ rồi, dặm dài thời gian đủ để bản thân tác giả và tác phẩm cũng cách xa nhau. Vì, tôi không nhớ, đúng hơn là không muốn nhớ những gì đã viết, tâm trí và thì giờ nhường chỗ cho những chủ đề và nội dung mới dù có là hình thức tiểu thuyết nhưng dung lượng, phẩm chất và tầm cỡ khác xa bầy truyện cũ. Nên tôi vẫn chờ tôi. Và cũng như những điều kiện sống khác trong đời, vẫn luôn nghĩ có đúng hoặc không có, vậy thôi.

2. Bà có trên ba mươi tác phẩm đã in, những cuốn được chọn tái bản lần này là do bà gợi ý?

Việc in lại sách cũ, với những lý do khách quan và chủ quan trên, để lưu trữ chút vết tích xưa hay để giới thiệu với ngày nay, không cần phải tập hợp toàn bộ mấy mươi tác phẩm, dù rằng những người đọc chọn lựa và ưa chuộng nội dung khác nhau.

Những cuốn Nhã Nam xuất bản hay tái bản, trừ Vòng tay học trò là tuyển chọn, những cuốn khác tự ý kiến tôi, vì chủ đề hay nội dung là quan niệm hay thái độ, đúng hơn chỉ là xúc động và cảm nhận của tác giả về một giai đoạn… Riêng cuốn Một ngày rồi thôi là không gian thời gian những năm 1950 của Huế và trường Đồng Khánh, với chỉ một vài phần trăm những câu chuyện tình thơ dại hay thâm trầm, bóng dáng thời xa vắng khi tác giả học đệ ngũ, viết bài thơ Chi lạ, thiên hạ vẫn cho là thơ của ngày nay. Ba cuốn Tiếng chuông gọi người tình trở về, Tuần trang mật màu xanh và Cuộc tình trong ngục thất, cùng chung một chủ đề và không khí của những năm đầu 70, thời gió mưa và chiến trận tơi bời, tâm trạng tình thế và thái độ của những người trẻ khao khát sống một mùa xanh thái bình, phải ngã xuống trong đợi chờ vô vọng hay trở về trong ngục tối vừa vượt thoát.

Cuộc mở đường chỉ là như thế, không ít, nhưng chẳng nhiều. Hiệu quả không cần số lượng.

3- Bà đã từng là nhà văn được thế hệ thanh niên trước đây vô cùng yêu mến, vậy bà có ngần ngại về khả năng tiếp cận của người trẻ bây giờ đối với những tác phẩm của bà hay không?

Chỉ siêu phẩm của những thiên tài, như nhạc cổ điển Tây phương, những tác phẩm văn thơ triết lý từ nhiều thế kỷ lưu truyền và trường tồn vượt thời gian không gian trong lòng người thưởng ngoạn mới không phân biệt thể loại đẳng cấp và tuổi tác nào. Ngoài ra, tất cả mọi tác phẩm, dẫu cùng chung một thế kỷ, cũng phải chịu cách biệt thế hệ. Tác giả và tác phẩm, dầu được đón nhận yêu chuộng cũng chỉ trong vòng thế hệ mình, hoặc lâu xa hơn, những ai cùng thế hệ còn tiếp nối đời mình qua giai đoạn khác. Khó đạt tới đồng cảm, tương thông, qua cách biệt thế hệ sau. Vì do môi trường xã hội, do biến đổi điều kiện sống, lắm thứ tăng trưởng theo dòng tiến hóa, cách thế và quan niệm cảm thức nghệ thuật hay văn hóa nói chung thế hệ sau hoàn toàn khác, đôi khi còn đối nghịch với thế hệ trước. Quan niệm, thái độ, cung cách, ngôn ngữ, diễn tả đối với một vấn đề hay một sự kiện, đời sau đã khác hoàn toàn đời trước, thì làm thế nào xúc động và cảm nhận đúng đối với một câu chuyện đời trước để lại đời sau? Làm sao cái nhìn thời nay có thể xuyên qua những giả cảnh hỗn tạp, những vui chơi tấp nập của Dalat bây giờ để rung cảm và tiếc thương thiên nhiên huyền ảo mơ màng của Dalat ngày xưa không còn nữa? Cũng thế, những chuyện tình, đời thực hay tác phẩm cũng hoàn toàn khác nhau về đối tượng, sự kiện cách thế, diễn tả, khởi đầu và kết thúc … Cho nên giới trẻ ngày nay, vì không nhận được hay nhận ra những gì quá khác xa mình rất có thể khó cảm nhận mến yêu những tác phẩm của thời xưa trước.

Hơn nữa, giới trẻ ngày nay rất tài năng và thông tuệ, nhưng chỉ chuyên chú về khoa học kỹ thuật hoặc các ngành nghề chuyên môn, không còn hoặc ít có thời gian tâm trí cho những vấn đề liên quan văn học nghệ thuật. Tuy nhiên, nếu vì nhu cầu nghiên cứu cho chương trình học hoặc nhẹ nhàng hơn, một phương tiện tiêu khiển hay giải trí, thì văn học nghệ thuật vẫn là một bộ môn song hành với những khám phá và triển khai khác cho sinh hoạt tinh thần lẫn thực tế.

Tâm thức biến đổi qua từng thời đại, mức độ và cách thế cảm thức nghệ thuật hay văn hóa nói chung cũng khác nhau. Văn hóa giải trí đọc và xem có độ chênh và điểm khác biệt thuở ấy bây giờ. Mấy mươi năm trước đọc sách là một trong những giá trị yêu thích của giới trẻ. Ngày nay thì xã hội tràn ngập đến choáng ngợp bao nhiêu thú vui gọi mời… Cho nên văn hóa đọc nói chung đành xếp hàng sau lưng trừ những học sinh sinh viên chuyên ngành đọc chỉ để nghiên cứu, làm đề án, nhưng với tác phẩm giá trị thì chính là mũi tên xanh chỉ đường cho giới trẻ ngạc nhiên ưa thích bước dần vào cõi giới văn chương văn hóa nói chung.

Tuổi mới lớn mười mấy tuổi ngày nay thì “thông thái” rất nhiều vấn đề cũng nhờ vào công nghệ thông tin và một phần từ sinh hoạt xã hội. Nhưng những hiểu biết đó chỉ thuộc phần ngoại thân của con người và cuộc sống. Thế giới nội tâm, tâm hồn, cảm tính, tâm lý, bao nhiêu khúc chiết phức tạp của thế giới bên trong con người và nơi đời thì giới trẻ không hề biết đến, kết hợp rồi tan vỡ mau chóng như bước lên rồi bước xuống một đoạn đường xe.

Vì thế cách nào đó hướng dẫn và khích lệ để biết đọc một số sách không phải cho người già hay người trẻ, cho riêng một ai, nhưng trong đó người trẻ dần dần khám phá nhờ soi bóng được bản thân mình, và thế giới con người bên trong lẫn những vấn đề phức tạp lẫn bi hoan của cõi đời, để thấy trước biết trước, nhận ra được cái giá trị sống đích thực không chỉ là cân đo phần trị giá như thời nay.

Ngoài ra, văn hóa đọc hay tiểu thuyết là một trong những yếu tố tinh thần khác còn có thể giải tỏa những căng thẳng thần kinh, chống đỡ những áp lực bức bách mệt mỏi ngoài đời, người đọc tìm lại những xúc động hồn nhiên từ tự tự tính chôn vùi hay quên lãng. Từ đó cảm sống trọn vẹn hơn với tổng hợp ngoại giới nội tâm, thăng hoa giá trị sống nơi con người trong bất cứ tình thế và biến động nào từ xã hội. Nếu còn tìm thấy trong tác phẩm những ý nghĩa ẩn dụ, những ký hiệu bí mật qua ngôn từ diễn tả đối thoại… người đọc có thể giải mã những băn khoăn tâm lý, khám phá những cung cách đối đãi, những phản ứng tinh tế trong tương giao, vốn là những nguyên tắc tinh thần thời nào cũng còn tác dụng và hiệu lực đẹp.

Thế nên, tôi không nghĩ giới trẻ ngày nay phản ứng thế nào khi tiếp cận những tác phẩm đã già hơn tuổi họ quá nhiều. Nhưng những nhan đề, những thông tin và những gì khác nữa… nếu có thể là những tín hiệu phát sáng từ cõi tối, chỉ gợi chút chú ý hoặc lưu tâm và sau đó, mở dần từng trang tìm thấy phản chiếu tâm hồn mình trong đó. Phương tiện thời nay cũng thu hẹp giùm mọi khoảng cách giữa viết và đọc. Cuộc tiếp cận, không phải người đọc và tác phẩm, mà gần gũi và thân ái hơn, người đọc và người viết, khi ấy, không phải xưa nay gì, chút đồng cảm chan hòa đủ xóa bỏ biên cương thời gian không gian. Điều này chỉ xảy ra với những tâm hồn và tính cách nào đồng điệu nhưng bị lấp vùi che khuất, chờ đánh thức, mở cửa và soi đường. Bởi vì, phải nhìn nhận, vẫn là tiểu thuyết, nhưng nội dung viết của tôi khác hẳn những tác phẩm khác, là một thể loại thiên về nội tâm, tình cảm hay tư tưởng, ít sự kiện, thiếu hành động và những biến chuyển sôi nổi từ ngoại cảnh. Quen với những câu chuyện dữ dội, khác thường đầy dẫy hành động và sự kiện bất ngờ từ phim ảnh hoặc tác phẩm nước ngoài, giới trẻ sẽ cảm thấy loại tiểu thuyết gọi là trữ tình lãng mạn ngày xưa có thể đã lỗi thời, cách trở. Tuy nhiên, một dòng văn học đích thực sẽ không bao giờ chìu theo tâm thức quần chúng của mỗi thời. Và mỗi tác phẩm sẽ tự định vị để vùi lấp tồn tại trên dòng trôi chảy biến cố lẫn thời gian. Tác phẩm không đi tìm người đọc. Mà người đọc đi tìm tác phẩm. Khi đôi bên tìm thấy nhau, một hấp lực tương tác xảy ra. Hiệu ứng là xúc động tâm hồn hoặc cao hơn, tâm linh, sẽ đánh thức căn tính cội nguồn của mỗi con người. Một tác phẩm văn học nghệ thuật đích thực có thể khơi gợi tiềm năng suy tư và sáng tạo, nuôi dưỡng phẩm tính của tâm hồn, bảo toàn sự sống chan hòa của tinh thần tình cảm. Cuộc hòa hợp nội tâm và ngoại giới hình thành một phẩm chất và nhân cách người trọn vẹn.

4- Bà là một nhà văn có sự nghiệp sáng tác khá đồ sộ đáng ngưỡng mộ, làm sao để có thể nuôi dưỡng bút lực dồi dào như vậy?

Dứt khoát, những gì có và làm ở trường hợp tôi không thể gọi là sự nghiệp, bất cứ hiểu theo nghĩa đen hay nghĩa bóng. Sự nghiệp đích thực là những gầy dựng lớn lao, bằng cách nào tùy đẳng cấp và khả năng, cho xã hội, đất nước hay gì hơn thế nữa. Vì, viết không phải là sự nghiệp ở trường hợp tôi mà là một thứ khác. Khác ấy là một ước nguyện, tất nhiên vô hình trừu tượng, một hành trình tâm tưởng, không thể hiện vì thế chẳng biết đến bao giờ thành tựu. Mấy mươi năm, nếu viết là sự nghiệp, tôi đã đeo đuổi tới cùng những cơ hội, những phương tiện thường tình, với chút tên tuổi phù du, để một đạt tới một mục đích hay một vị trí nhỏ nhoi nào đó trên văn đàn. Ngược lại, tôi đứng mãi hay đi hoài cũng một mình bên lề đời, không phe nhóm không hội hè, không lễ lạc, không kết giao… Điều ấy hoàn toàn không do tình hình xã hội bên ngoài hay hoàn cảnh gia đình bên trong, mà tự tâm giữ mình như ốc đảo, với ảo cảm đôi khi là một lữ hành đơn độc nghêu ngao, lúc khác lại là một kiếm khách cuồng nộ tưởng mình đang vung vít chém… Có lẽ vì căn chất là một thứ gì đó gần như nghệ sĩ đạo sĩ, phần nào phảng phất trong những khúc thơ lãng đãng sau này. Nên trong suốt mấy mươi năm sau trước, tôi cũng không để ý theo dõi tìm kiếm, tệ hơn nữa là lưu trữ, những tư liệu liên quan trường hợp mình, về phê bình, tường thuật, sao chép, biên khảo. Những thứ ấy không qua một nghiên cứu hoặc tìm hiểu tổng hợp về bối cảnh, giai đoạn, tính cách nguyên do và cùng đích của tác giả tác phẩm. Nên thiếu sót, lệch lạc và rất nhiều khi chỉ căn cứ vào dư luận, kẻ viết bài đã sáng tác phóng tác hoặc biến thể những chi tiết sự thật đời riêng và phần viết chung của một tác giả đã trang trải sự thật đời mình trong sống và viết không ngăn che.

Chuyện ngưỡng mộ thì như một thiện cảm hay sắc phong thái quá, tôi tự hỏi mình có đúng và đáng được thế hay không. Vì quen sống rất yên và rất riêng trong góc đời mình, tôi rất xa lạ và ái ngại với những biểu lộ ân cần của những độc giả từ mấy mươi năm tìm gặp lại, và cả giới trẻ ngày nay, với tràng pháo tay, lời bày tỏ, những bông hoa, chồng sách cũ đi tìm chữ ký… Dù vô cùng cảm kích những người yêu mến nồng hậu ấy, tôi băn khoăn không biết đền đáp lại cách nào đúng đủ. Đôi khi tình cờ đâu đó, có người đọc thuộc lòng những khúc viết cũ cho tôi nghe, ngậm ngùi xúc động. Người đọc nhớ, còn tôi đã quên. Không thể biết những dòng văn ấy, từ đâu, tác phẩm nào, giai đoạn nào… chỉ nhận ra đúng là ý tứ và âm điệu mình, không thể là ai khác. Điều duy nhất có thể đền đáp lại những ân tình như gió mây từ bốn phương trời ấy, là tôi phải viết tiếp, viết nhanh viết nhiều với phần thời gian sẽ còn quá ít từ đây…

Về bút lực thì có. Nhưng nuôi dưỡng bút lực thì không. Vì bút lực ấy không hề cũng không cần được nuôi dưỡng. Nơi tôi, phần dung chứa vốn tự nhiên sẵn có và mãi hoài như thế. Như lòng giếng sâu, có thể nhìn thấy hoặc không nhìn thấy nước. Múc lên thì có được nước. Do trở ngại hay ngăn chận từ ngoại cảnh, không múc lên được nữa. Đôi khi còn đậy kín miệng giếng. Giếng có lúc cạn lúc sâu, nhưng múc hay không múc, mạch nước vẫn lặng thầm mạch sống.

Vấn đề là, mạch sống ấy gần như hơi thở, chan hòa được thì thở, ngưng trệ là nhịn thở. Tích lũy thì mạch sống ấy trở thành ngọn lửa. Ngọn lửa cháy âm thầm âm ỉ bên trong một sự sống không được sống, ấy là ngọn lửa nén. Lửa nén ấy lại chính là năng lượng quay đều một sinh mệnh mệt mỏi nhưng không bao giờ ngưng nghỉ.

Nên, nếu gọi là bút lực hình như không đúng hẳn. Vì mỗi sự nơi tôi, viết và sống, không phải lực mà khí. Khí ấy tự nó un đúc, tích lũy và phóng tỏa hồn nhiên. Khí ấy từ tâm căn và hồn tính mà ra, nên nếu bị xúc nhiễm hay hoại lực thì lập tức dòng thở bị tắc nghẽn, chấn động và đôi khi đổ vỡ tan tành mọi mô hình đắp xây của ý tưởng hay có thể cả một hệ thống nội dung đã hoàn thành.

Ngày xưa tôi viết bằng máy chữ với giấy pelure mỏng. Riêng cuốn đầu tiên, Vòng tay học trò, chỉ viết tay. Tay hay máy cũng cần nhanh bằng hoặc nhanh hơn tốc độ những gì chất chứa tuôn tràn hay phóng tỏa. Một hơi hàng chục trang, vất bề bộn giữa nền nhà. Khi cơn viết ngừng, nhặt lên xấp vội, xong chuyện, giao luôn cho nhà xuất bản. Không đọc, không sửa cũng không nghĩ gì đến xấp bản thảo trao đi, vì những chuyện khác việc khác cấp bách bao vây chờ đợi. Cũng có khi, đến một khúc đoạn nào đó, cảm thấy không hứng thú, dừng lại, bỏ ngang để viết qua một chuyện khác bỗng nhiên cảm thấy ưa thích hơn, sau đó bắt lại mạch lạc viết tiếp khúc bỏ dở. Vì cách viết ấy, tôi thường viết một lúc hai hay ba cuốn. Cứ tháo xấp này ra, bỏ xấp khác vào máy chữ… không sai lạc không lẫn lộn bao giờ. Chỉ là những sự việc, đối thoại, nhân vật trong các chuyện viết cùng lúc ấy, đôi khi chen lấn xô đẩy nhau, phải điều khiển phân minh để bầy ngựa ý tưởng này phóng theo hàng ngũ đúng. Việc này dù sao còn dễ dàng hơn phải sống làm đôi cùng lúc, điều hành giải quyết đối phó làm lụng kịp thời những sự việc xảy ra nơi đời thực của cuộc sống cực kỳ phức tạp khó khăn, vừa điều khiển những tay đua sôi nổi bên trong dẫn đưa về đích là trang chữ cuối cùng cho mỗi chuyện.

Không bao giờ có dàn bài cho mọi thể loại viết ngắn hay dài. Từ một ý tưởng, nghĩ ra một câu chuyện, đặt tên, thế là viết. Không nghĩ tính trước một điều gì. Chỉ khơi nguồn, tự nó tuôn tràn trôi chảy. Vì dàn bài hạn chế tốc độ phóng tỏa và biến hóa uyển chuyển của hàng loạt ý tưởng trong sáng tác hay sáng tạo ở trường hợp tôi. Để dòng chữ tự nó tuôn trào tự do, khi êm đềm lúc bão táp. Như từng đối thoại của các nhân vật, có vẻ bất ngờ, hồn nhiên bốc hơi từ xúc động của tương quan đối đãi, mà kỳ thực, cung cách và âm điệu diễn tả không xa lìa thể tính của một nguồn viết bao giờ.

5- Bà đã được hưởng cả những vinh quanh và lẫn nếm trải những cay đắng của nghề viết. Nhìn chung bà có hài lòng với sự nghiệp của mình không?

Với tôi, viết như thế hoặc nhiều hơn cũng không gọi là nghề viết. Chữ nghề chỉ định một thứ gì có tập tành học hỏi để trở thành chuyên môn. Tuy nhiên, nếu bị gọi là nghề cũng phải, vì viết nhanh, viết nhiều. Nhưng nhanh nhiều mà không bao giờ suy nghĩ, đắn đo, dàn xếp theo cách mà một người làm nghề văn làm. Chỉ thoáng nghĩ ra một nhan đề, thoáng dệt ra một câu chuyện, gợi ý từ vài hình ảnh sự việc, xúc động nào đó là viết, viết như bị lôi cuốn theo một dòng thác chỉ kết thúc hoặc tạm dừng ở một bãi bờ nào đó của nguồn cơn…

Còn phiền nhiễu hơn cả nghề. Với tôi viết là nghiệp, trong những loại nghiệp khác nhau phải cưu mang theo suốt đường đời. Và biết đâu, nếu trả chưa xong thì còn nhiều kiếp khác… Người ta vẫn nói chữ nghiệp hành. Nghiệp hành tâm trí xao xuyến, ưu tư thao thức, băn khoăn, ngày và đêm triền miên hậu trường của một sân khấu đời ngoài phải tính toán, tương giao, đối xử.

Có gì là vinh quang nếu không tranh đua theo sắc bóng phù du, luôn một mình một cõi bên đời? Đắng cay nào cho nghiệp viết khi chính nó là cách thế và cõi giới riêng nâng đỡ và cứu thoát người viết khỏi những cay đắng ngoài đời thực bao vây?

Nếu có điểm dừng, hay hồi kết mới có thể nhìn lại phần trải qua để ngẫm xem như thế có đáng hài lòng hay bất mãn. Nhưng sau khoảng vắng mấy mươi năm, tôi vẫn là người đi qua và bây giờ đang đi, chút tên tuổi chẳng qua chỉ là mảnh vé đi vào cõi tạm này cũng là phương thế để đi qua con đường mình. Con đường ấy không phải từ sinh đến tử, từ khởi đến tàn. Mà từ Không đến Có rồi từ Có trở về Không. Không đầu tiên là Không rỗng. Không cuối cùng là Không đầy. Điều này đã viết và nói nhiều lần nhưng chưa được giải thích. Đời hiện tại cũng như đời sau trước, chỉ là những cây số trên đại lộ kiếp. Nhiều kiếp hay vô số kiếp triền miên cho tới thời chuyển kiếp mới có điểm dừng hay hồi kết. Đó là lúc người đi qua không cần nhìn lại nữa, mà nhìn lên.

Trồng những hàng cây trên con đường ấy, dẫu đơm hoa kết trái cho người cho mình, có gì đáng để hài lòng hay không. Tuy nhiên con đường muôn vàn dặm xa này rồi sẽ chỉ là ước nguyện. Thay vì, hài lòng với kết quả, tôi đạt tới một điều đơn giản khác, là dù luôn đơn độc trong cuộc đời và tâm tưởng, tôi triền miên vui sống với những nhân vật trong truyện mình qua biến cố nỗi niềm và mọi ảo ảnh khác do chính mình gây dựng nên mà tưởng chừng có thật. Vì, họ nói được những gì mình không thể nói ra, làm những gì cuộc đời cấm đoán, biến hóa được những tình thế và trạng thái vốn bất động trong vòng vây thực tại. Đôi khi họ là những hình bóng lu mờ, đôi khi hiện hình rõ ràng lung linh. Có lẽ là từ ảo cảm của người viết.

Nên chính là bọn họ, lũ nhân vật tiểu thuyết, những đồng hành lặng lẽ theo nhau suốt cuộc đời, nâng đỡ tôi khỏi những đòn roi ác ý và vô tâm từ xuyên tạc, ngộ nhận, những gánh chịu quá tải và bất công của một thời thực sự là… cay đắng. Để bây giờ cuộc vượt thoát hoàn thành, tất cả ấy gần như biến mất, chỉ còn lại mình tôi. Một mình mà không đơn độc nữa. Vì không khí thì khắp cùng và có tất cả.

Những gì cần viết cho giai đoạn này, đang viết, chưa xong, mong sẽ không dang dở, nhưng nếu hoàn thành cũng mới chỉ là khúc khởi đầu, theo tâm niệm và ý nguyện.

6 – Bà có suy nghĩ gì về nền văn học Việt nói chung?

Ngày xưa khi viết, tôi không có hướng đích để làm gì, cho ai. Bây giờ thì qua một thời kỳ khác, chợt thấy băn khoăn về những ai có thể kiếm tìm vài vết tích cũ. Nên mong ước giới đọc trẻ đang vui chơi bằng phương tiện hiện đại có thể tìm thấy trên những trang chữ tôi chút gì khác lạ để thay đổi không khí, những người lớn tuổi cách trở từ gần nửa thế kỷ không gian lẫn thời gian còn sống như tôi tìm lại được nhau qua cuộc hội ngộ bất thường này. Biết đâu, đọc lại những hàng chữ xưa, ai đó sẽ bâng khuâng hoài cảm với thoáng hiện về của bóng dáng thời gian đã khuất.

Nhưng sau cuộc trải qua, người viết không còn thản nhiên yên vui với cuộc đoàn viên với người đọc. Cần ý thức và trách nhiệm đối với văn hóa nói chung và văn học nói riêng, hiện tại và mai sau những thời kỳ phát triển toàn diện và trọn vẹn.

Trên khúc quanh của thế kỷ này, văn học đợi chờ tác phẩm, tác phẩm đợi chờ phê bình và ngược lại phê bình đợi chờ tác giả. Cách nào đáp ứng nhu cầu cho mỗi chủ thể liên quan? Về tác phẩm, những sách ngoại nhập dịch thuật giá trị đông đảo hơn sách hay nội bộ, thiếu vắng những tên tuổi và sáng tác tầm cỡ, (riêng về thể loại tiểu thuyết) nhân chứng cho đoạn hành trình leo dốc của tiến hóa. Cần thiết hơn là nhà phê bình khách quan và chân chính không theo một quan điểm lập trường chủ thuyết nào có kiến thức và phẩm cách cùng cảm thức, cao rộng bao trùm được tác giả cùng tác phẩm, để soi rọi toàn bộ những khía cạnh của vấn đề từng trường hợp, phân tích và tổng hợp về nội dung, tư tưởng, văn chương cùng mọi yếu tố khác của tác phẩm. Người phê bình nghiên cứu gián tiếp bằng những tài liệu chứng cứ xác tín hoặc trực tiếp bằng đối thoại tra vấn từ thực tế và cả ẩn số của một tác giả hay tác phẩm. Từ đó, phê bình là giới thiệu hướng dẫn người đọc đến tác phẩm chọn lọc đồng thời sưu tầm tuyển lựa kết nối những tác phẩm như là những viên ngọc quý vào xâu chuỗi giá trị văn học. Tuy nhiên, không chỉ quyết định của phê bình, tác phẩm nào như hạt ngọc có tầm cỡ có sắc màu và phẩm chất ứng hợp với xâu chuỗi, sẽ tự định vị theo cùng và trường lưu. Từ đó mới có thể gầy dựng được một giá trị văn học nền tảng cơ bản và đích thực cho mọi loại kiến thức chuyên môn phong phú khác, chính là bản sắc hay thể tính văn hóa của dân tộc.

Phần riêng, tôi không phải đợi chờ gì, cầu mong gì. Những tác phẩm chôn vùi trong bóng tối sẽ mở từng trang ngoài nắng mới, tự nó sẽ giải kết những vấn đề, xóa nhòa những đố kỵ, ngộ nhận, hoài nghi… Đường tôi đi, trên trang viết hoặc giữa bụi đời, không còn ai chen lấn, xô đẩy giẫm chân nhau nữa. Vì con đường ấy là Không. Không Có Không Là. Không Bất Cứ Gì, dù với trang phục và thể hiện nào trong cõi thực và còn là cõi Không vời vợi ấy ngập tràn nắng gió trên cao.

Biết đâu, những giọt chữ rớt rơi từ quá khứ sẽ là những giọt nước lung linh tín hiệu của một cơn mưa muộn cho êm dịu lại mùa màng tâm hồn bao nhiêu năm rồi hạn hán hanh hao.

Nguyễn Hoàng Diệu Thủy thực hiện
(Saigon 2/2/2021)

bài đã đăng của Nguyễn Hoàng Diệu Thuỷ

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)