Trang chính » Sáng Tác, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

Bậc thầy thuật hóa kim [5]

♦ Chuyển ngữ: 0 bình luận ♦ 5.06.2009

*

“Thật lạ lùng,” thằng con trai nói, khi nó cố đọc lần nữa cái cảnh chôn cất mở đầu quyển sách. “Mình đã cố đọc quyển này suốt hai năm, và chưa hề đọc qua được mấy trang đầu.” Ngay cả khi không có một ông vua xen vô, nó cũng không tập trung được.

Nó vẫn còn chút nghi ngờ về cái quyết định của mình. Nhưng nó hiểu được một điều: lấy một quyết định chỉ là sự khởi đầu của mọi chuyện. Khi ai đó lấy một quyết định, người đó sẽ chúi vô một dòng nước mạnh mà sẽ đẩy người đó tới những chỗ chưa hề mơ tới khi quyết định.

Khi mình quyết định tìm kho báu, mình không hề tưởng tượng ra mình rốt cuộc làm việc trong một tiệm pha lê, nó nghĩ. Và nhập vô đoàn lữ hành này có lẽ là quyết định của mình, nhưng nó sẽ đi tới đâu vẫn còn là điều bí ẩn cho mình.

Bên cạnh là một ông người Anh, đang đọc sách. Ông ta có vẻ không thân thiện, và nhìn có vẻ bực khi thằng con trai bước vô. Họ có thể trở thành bạn, nhưng ông người Anh im ru bà rù.

Thằng con trai gấp sách lại. Nó cảm thấy không muốn làm bất kỳ cái gì khiến nó nhìn giống ông người Anh. Nó lấy hai hòn Urim và Thummim từ trong túi ra, và bắt đầu chơi với chúng.

Người lạ la lên, “Urim và Thummim!”

Trong chớp nhoáng thằng con trai bỏ chúng vô túi trở lại.

“Chúng không phải để bán đâu,” nó nói.

“Chúng chẳng trị giá bao nhiêu,” ông người Anh trả lời. “Chúng chỉ được làm từ tinh thể đá, và có hàng triệu tinh thể đá ở trái đất. Nhưng ai biết về những thứ đó sẽ biết chúng là Urim và Thummim. Tôi không biết là họ có chúng ở phần đất này.”

“Nó là quà một ông vua cho tôi,” thằng con trai trả lời.

Người lạ không trả lời; thay vào đó, ông ta đút tay vô túi và lôi ra hai hòn đá y hệt như của thằng con trai.

“Bạn nói là một ông vua?” ông ta hỏi.

“Tôi đoán ông không tin là một ông vua sẽ nói chuyện với ai đó như tôi, một thằng chăn cừu,” nó nói, muốn kết thúc cuộc trò chuyện.

“Chẳng phải vậy. Bọn chăn cừu là những kẻ đầu tiên công nhận một ông vua mà cả thế giới còn lại từ chối thừa nhận. Vì vậy, không ngạc nhiên chút nào là các ông vua sẽ nói chuyện với đám chăn cừu.”

Và ông ta tiếp tục, lo rằng đứa con trai sẽ không hiểu những gì ông ta nói, “Nó ở trong Thánh Kinh. Cũng cuốn đó dạy tôi biết về Urim và Thummim. Mấy hòn đá này là dạng bói duy nhất được ông Trời cho phép. Các giáo sĩ đeo chúng trên những tấm giáp ngực bằng vàng.”

Thằng con trai chợt thấy vui có mặt ở đây, trong cái nhà kho. “Có lẽ đây là một điềm lạ,” ông người Anh nói, giọng to nhỏ.

“Ai nói cho ông biết về điềm lạ?” mối quan tâm của thằng con trai cùng lúc tăng lên.

“Mọi thứ ở đời này là một điềm lạ,” ông người Anh nói, giờ gấp cuốn tạp chí đang đọc lại. “Có một ngôn ngữ phổ quát, mọi người đều hiểu được, nhưng đã bị quên lãng. Tôi đang tìm kiếm loại ngôn ngữ phổ quát đó, trong số nhiều điều khác. Đó là lý do tại sao tôi ở đây. Tôi phải tìm ra một người đàn ông, người hiểu được thứ ngôn ngữ phổ quát đó. Một nhà hóa kim.”

Cuộc trò chuyện bị cắt ngang bởi tay chủ kho.

“Hai người gặp may đó,” tay Ả Rập mập ú nói. “Hôm nay có một đoàn lữ hành đi đến Al-Fayoum.”

“Nhưng tôi đi Ai Cập mà,” thằng con trai nói.

“Al-Fayoum nằm ở Ai Cập,” người Ả Rập nói. “Mày là cái thứ Ả Rập nào vậy?”

“Đó là một điềm may,” ông người Anh nói, sau khi tay Ả Rập mập ú đi khỏi. “Nếu có thể, tôi sẽ viết một cuốn bách khoa toàn thư dày về hai từ may mắn và tình cờ. Cái ngôn ngữ phổ quát được viết bằng hai từ này.”

Ông ta nói với thằng con trai rằng không phải tình cờ mà ông ta đã gặp nó với hai hòn Urim và Thummim trong tay. Và ông ta hỏi thằng con trai có phải nó cũng đi tìm nhà hóa kim.

“Tôi đi tìm kho báu,” thằng con trai nói, và thấy hối liền là đã nói vậy. Nhưng ông người Anh có vẻ không gán cho điều đó một tầm quan trọng nào.

“Theo một cách khác, tôi cũng vậy,” ông ta nói.

“Tôi ngay cả không biết thuật hóa kim là gì,” thằng con trai nói, khi tay chủ kho gọi họ ra ngoài.

*

“Tôi là trưởng đoàn lữ hành,” một người râu ria mắt đen nói. “Tôi nắm quyền sinh sát mọi người đi theo tôi. Sa mạc là một quý bà tính khí thất thường. Đôi khi ả ta sẽ khiến cho bọn đàn ông điên lên.”

Có gần hai trăm người tập trung ở đó, và bốn trăm súc vật – lạc đà, lừa, ngựa, và gia cầm. Trong đám đông có đàn bà, trẻ con, và một số đàn ông với kiếm dắt nịt và súng trường đeo vai. Ông người Anh có nhiều va li đựng đầy sách. Có tiếng lao xao và người trưởng đoàn phải lập lại nhiều lần để mọi người hiểu được những điều ông ta nói.

“Có nhiều loại người khác nhau ở đây, và mỗi người có một đấng Trời riêng của mình. Nhưng đấng Trời duy nhất mà tôi thờ là Allah, và nhân danh ngài một lần nữa tôi thề là tôi sẽ làm mọi điều có thể làm được để vượt thắng sa mạc. Nhưng tôi muốn mỗi người và mọi người hãy thề với đấng Trời mà bạn tin là bạn sẽ theo đúng mọi chỉ thị của tôi bất kể hệ lụy. Trong sa mạc, bất tuân có nghĩa là chết.”

Có tiếng rì rầm từ đám đông. Mọi người đang lặng lẽ thề với ông Trời của mình. Thằng con trai thề với Jesus Christ. Ông người Anh không nói gì. Và tiếng rì rầm kéo dài hơn một tiếng thề đơn giản. Người ta cũng cầu lên cõi trời để được phù hộ.

Một tiếng kèn đồng ngân vang, và mọi người phóng lên yên. Thằng con trai và ông người Anh đã mua lạc đà, và ngập ngừng trèo lên lưng chúng. Thằng con trai cảm thấy tội nghiệp cho con lạc đà của ông người Anh, oằn người với các va li sách.

“Không có cái gọi là sự tình cờ,” ông người Anh nói, khơi lại cuộc nói chuyện bị cắt ngang ở nhà kho. “Tôi đến đây vì có người bạn nghe nói đến một nguời Ả Rập vốn…”

Nhưng đoàn lữ hành bắt đầu di chuyển, và khó mà nghe được những gì ông người Anh đang nói. Thằng con trai biết cái ông ta định mô tả rồi: cái xâu chuỗi kỳ bí nối cái này với cái kia, cũng là cái xâu chuỗi vốn là nguyên do làm nó trở thành đứa chăn cừu, gây ra những giấc mơ trùng lặp, mang nó tới một thành phố gần châu Phi, tìm thấy một ông vua, và bị cướp để gặp được ông chủ tiệm pha lê, v.v…

Khi một người đến gần hơn với cái Niềm Riêng của mình, thì cái Niềm Riêng càng trở thành một lẽ sống đích thực hơn nữa, nó nghĩ.

Đoàn lữ hành đi theo hướng đông, di chuyển suốt buổi sáng, ngừng lại lúc mặt trời chói chang nhất, và đi tiếp vào buổi chiều. Thằng con trai nói rất ít với ông người Anh, vốn dành phần lớn thì giờ với sách vở.

Thằng con trai yên lặng quan sát diễn tiến của đoàn súc vật và người trên sa mạc. Giờ đây mọi thứ đã khác hoàn toàn so với lúc mới khởi hành: lúc đó, có sự lộn xộn và la hét, tiếng khóc của con nít và tiếng hí của súc vật lẫn vô những mệnh lệnh căng thẳng của những người dẫn đường và các thương nhân.

Nhưng trong sa mạc, chỉ có âm thanh của gió thổi không ngừng, và nhịp gõ móng của súc vật. Ngay cả những người dẫn đường cũng nói rất ít với nhau.

“Tôi đã băng qua biển cát này nhiều lần,” một người dẫn lạc đà nói một đêm nọ. “Nhưng sa mạc rộng lớn quá, và chân trời thì xa tít, nên chúng khiến một cá nhân thấy mình nhỏ bé, và làm như người đó thấy nên giữ yên lặng.”

Thằng con trai hiểu được theo trực giác cái ông ta muốn nói, ngay cả chưa hề đặt chân lên sa mạc trước đây. Bất cứ khi nào thấy biển, hoặc một đám cháy, nó thấy mình câm lặng, bị ấn tượng mạnh bởi cái lực mạnh mẽ của chúng.

Mình đã học được nhiều điều từ bầy cừu và nhiều điều từ pha lê, nó nghĩ. Mình cũng có thể học được cái gì đó từ sa mạc, vốn nhìn có vẻ già cả và thông thái.

Gió không bao giờ ngưng thổi, và thằng con trai nhớ tới cái ngày nó ngồi tại tòa thành ở Tarifa với cũng ngọn gió này thổi trên mặt. Gió gợi nó nhớ tới cái chất len từ bầy cừu… bầy cừu giờ đang tìm cỏ và nước trên những cánh đồng miền Andalusia, như chúng lúc nào cũng làm.

“Chúng không còn là cừu của mình nữa,” nó tự nhủ, không chút hoài nhớ. “Chúng phải quen với đứa chăn cừu mới rồi, và có lẽ đã quên mình. Điều đó tốt. Những sinh linh như cừu, vốn quen đi đây đi đó, biết cách đi tiếp.”

Nó nghĩ về đứa con gái ông chủ tiệm vải, và chắc cô có lẽ đã lập gia đình. Có lẽ với một thợ bánh, hoặc với một đứa chăn cừu khác đọc được và kể được cho cô nghe những câu chuyện hứng thú – rốt lại, nó có lẽ không phải là đứa duy nhất. Nhưng nó bị kích thích với cái hiểu trực giác về lời bình luận của người dẫn lạc đà: có lẽ nó cũng hiểu được thứ ngôn ngữ phổ quát vốn giao tiếp được với quá khứ và hiện tại của tất cả mọi người. “Linh cảm,” má nó quen gọi chúng như vậy. Thằng con trai bắt đầu hiểu ra trực giác đúng ra là sự đắm mình bất chợt của hồn mình vô dòng đời phổ quát, nơi lịch sử của tất cả mọi người được kết nối lại, và chúng ta có thể biết được mọi thứ, vì hết thảy được viết ra ở đó.

“Maktub,” thằng con trai thốt lên, nhớ tới ông chủ tiệm pha lê.

Ở vài khúc sa mạc toàn là cát, và đá lởm chởm ở vài đoạn khác. Khi đoàn lữ hành bị chặn bởi một tảng đá, nó phải đi vòng qua; nếu có một bãi đá lớn, họ phải đi đường vòng. Nếu cát quá mịn đối với móng của súc vật, họ phải tìm ra một con đường nơi hột cát to hơn. Ở vài nơi, mặt đất được bao phủ bằng muối từ những hồ nước cạn khô. Súc vật dừng phắt lại ở những chỗ đó, và những người dẫn lạc đà buộc phải leo xuống dỡ hàng. Họ tự khiêng hàng qua cái nền đất khó lường đó, rồi chất hàng lên lạc đà lại. Nếu một người dẫn đường bị bịnh hoặc chết, những người dẫn lạc đà sẽ rút thăm và chỉ định một người mới.

Nhưng hết thảy mọi điều này diễn ra vì một lý do căn bản: bất kể có bao nhiêu đường vòng và sự điều chỉnh được thực hiện, đoàn lữ hành đi hướng đến cùng một điểm trên la bàn. Một khi vượt qua được trở ngại, nó liền trở lại với hướng đi của mình, nhắm theo ngôi sao biểu thị vị trí của cái ốc đảo. Khi người ta nhìn thấy ngôi sao đó tỏa sáng trên nền trời buổi sớm, họ biết là họ đi đúng hướng tới chỗ có nước, cây cọ, nhà cửa, và người. Chỉ có ông người Anh là không để ý tới gì hết; ông ta, phần lớn thời gian, đắm mình vô đọc sách.

Thằng con trai cũng có sách, và nó cố đọc quyển sách đó trong suốt mấy ngày đầu của cuộc hành trình. Nhưng nó thấy thú vị hơn khi quan sát đoàn lữ hành và lắng nghe tiếng gió. Chẳng bao lâu nó học để hiểu được con lạc đà nhiều hơn, và thiết lập được mối tương thông, nó quăng quyển sách đi. Cho dù thằng con trai có cái mê tín là mỗi lần nó giở sách ra nó sẽ học được vài điều quan trọng, nó quyết định sách là một gánh nặng không cần thiết.

Nó trở nên thân với người dẫn lạc đà đi bên cạnh nó. Về đêm, khi họ ngồi quanh đám lửa, thằng con trai kể cho người dẫn lạc đà nghe những chuyến phiêu du của nó thời còn là đứa chăn cừu.

Trong một trong những cuộc chuyện trò như vậy, người dẫn lạc đà kể về đời mình.

“Tôi từng sống gần El Cairum,” anh ta nói. “Tôi có vườn cây, con cái, và một đời sống sẽ chẳng thay đổi chút nào cho tới khi tôi chết. Một năm, khi vụ thu hoạch tốt hơn bao giờ hết, tất cả chúng tôi đi Mecca, và tôi đã thỏa được cái trách nhiệm duy nhất chưa làm được của đời mình. Tôi có thể chết một cách sung sướng, và điều đó khiến tôi thấy sảng khoái.

“Một ngày nọ, mặt đất bắt đầu rung chuyển, và dòng Nile chảy tràn lên bờ. Đó là chuyện tôi nghĩ là chỉ xảy ra cho người khác chớ không bao giờ xảy tới cho mình. Hàng xóm của tôi sợ họ sẽ mất hết các gốc olive trong đợt lụt. Vợ tôi lo mất con cái. Tôi nghĩ mọi thứ tôi sở hữu sẽ bị hủy diệt.

“Mặt đất bị tàn hại, và tôi phải tìm những phương cách khác để kiếm sống. Vì vậy giờ tôi thành người dẫn lạc đà. Nhưng thảm họa đó đã dạy tôi hiểu về thế giới của Allah: người ta không cần lo ngại cái chưa biết được nếu họ có khả năng đạt được cái họ cần và muốn.

“Chúng ta lo ngại sẽ đánh mất cái mình có, dù nó là đời sống, cái ta sở hữu hay tài sản. Nhưng mối lo sợ này tan đi khi ta hiểu được chuyện đời mình và lịch sử của thế gian này được viết ra bởi cùng một bàn tay.”

Đôi khi đoàn lữ hành của họ gặp một đoàn khác. Đoàn này luôn có cái mà đoàn kia cần – như thể mọi thứ đuợc viết ra bởi một bàn tay vậy. Khi họ ngồi quanh đống lửa, những người dẫn lạc đà trao đổi thông tin về các trận cuồng phong, và kể chuyện sa mạc.

Những lần khác, những người trùm kín đầu, kỳ bí xuất hiện; họ là người Bedouin làm nghề thám thính dọc theo các tuyến lữ hành. Họ cung cấp những cảnh báo về trộm cướp và các bộ lạc man rợ. Họ đến lặng lẽ và ra đi cũng y vậy, bận y phục đen chỉ trình ra có đôi mắt. Một đêm nọ, người dẫn lạc đà tới chỗ đống lửa nơi mà ông người Anh và thằng con trai đang ngồi. “Có tin đồn về chiến tranh bộ lạc,” anh ta bảo họ.

Cả ba cùng rơi vào im lặng. Thằng con trai lưu ý thấy có cái cảm giác lo sợ trong bầu không khí, dù không ai nói gì hết. Một lần nữa nó đang có được trải nghiệm với ngôn ngữ không lời… cái ngôn ngữ phổ quát.

Ông người Anh hỏi họ có bị nguy hiểm không.

“Một khi đã vô trong sa mạc, không có chuyện đi trở ra,” người dẫn lạc đà nói. “Và, khi không thể quay lại, bạn chỉ phải lo đến cách tốt nhất để tiến lên phía trước. Phần còn tại thì tùy thuộc vào Allah, kể cả hiểm nguy.”

Và anh ta kết luận bằng cách nói cái từ kỳ bí: “Maktub.”

“Ông nên chú ý nhiều hơn tới đoàn lữ hành,” thằng con trai nói với ông người Anh, sau khi người dẫn lạc đà đi khỏi. “Mình đi nhiều đường vòng, nhưng mình luôn hướng tới cùng một đích đến.”

“Còn bạn phải đọc nhiều hơn về thế giới,” ông người Anh trả lời. “Sách cũng giống như đoàn lữ hành trong khía cạnh đó.”

Cái tập hợp to lớn của người và súc vật bắt đầu di chuyển nhanh hơn. Ban ngày luôn tĩnh lặng, nhưng giờ thì ngay cả ban đêm – khi người du hành đã quen với nói chuyện quanh đám lửa – cũng trở nên im lặng. Và, một ngày nọ, người trưởng đoàn lữ hành quyết định không được đốt lửa nữa, để khỏi thu hút sự chú ý.

Những người du hành chấp thuận thao tác sắp xếp súc vật thành một vòng tròn vào ban đêm, ngủ chung với nhau ở giữa tâm để chống lại cái lạnh về đêm. Và người trưởng đoàn bố trí người cầm vũ khí gác quanh rìa của nhóm.

Một đêm nọ ông người Anh không thể ngủ. Ông ta gọi thằng con trai, và họ làm một cuộc đi bộ dọc theo những đụn cát bao quanh chỗ hạ trại. Trăng tròn vành vạnh, và thằng con trai kể ông ta nghe về cuộc đời mình.

Ông người Anh mê cái phần về sự tiến triển đạt được ở tiệm pha lê sau khi thằng con trai bắt đầu vô làm.

“Đó là cái nguyên lý cai quản hết mọi thứ,” ông ta nói. “Trong thuật hóa kim, nó được gọi là cái Hồn Chung. Khi bạn muốn một điều gì với cả trái tim mình, đó là khi bạn đến gần nhất với cái Hồn Chung. Nó luôn là một lực dương.”

Ông ta cũng nói rằng đó không chỉ là một món quà cho riêng con người, mọi vật trên mặt đất đều có hồn, dù là khoáng vật, rau quả, hay súc vật – hoặc ngay cả một ý nghĩ đơn giản.

“Mọi thứ trên trái đất đang được chuyển hóa liên tục, bởi vì trái đất đang sống… và nó có hồn. Chúng ta là một phần của cái hồn đó, vì vậy chúng ta hiếm khi nhận ra nó đang làm việc vì chúng ta. Nhưng ở tiệm pha lê bạn có lẽ nhận ra rằng ngay cả những cái ly cũng hợp tác với sự thành công của bạn.”

Thằng con trai nghĩ về điều đó trong một lúc khi nó ngước nhìn mặt trăng và những đồi cát trắng bệch. “Tôi đã ngắm đoàn lữ hành khi chúng băng qua sa mạc,” nó nói. “Đoàn lữ hành và sa mạc nói cùng một ngôn ngữ, và vì lý do đó sa mạc cho phép đoàn lữ hành băng qua. Sa mạc sẽ kiểm mỗi bước đi của đoàn lữ hành để coi nó có đúng lúc không, và, nếu nó đúng lúc, chúng ta sẽ tới được ốc đảo.”

“Nếu ai trong chúng ta gia nhập đoàn lữ hành chỉ bằng vào lòng dũng cảm cá nhân, nhưng không hiểu được thứ ngôn ngữ đó, hành trình này sẽ khó khăn hơn nhiều.”

Họ đứng đó ngước nhìn mặt trăng.

“Đó là phép thuật của các điềm lạ,” thằng con trai nói. “Tôi đã thấy được những người dẫn đường đọc các dấu hiệu của sa mạc ra sao, và làm sao hồn đoàn caravan nói chuyện được với hồn sa mạc.”

Ông người Anh nói, “Tôi nên chú ý nhiều hơn tới đoàn lữ hành.”

“Còn tôi nên đọc sách của ông,” thằng con trai nói.

*

Chúng là những quyển sách lạ lẫm, nói về thủy ngân, muối, những con rồng, và các ông vua, và nó chẳng hiểu một chút gì hết. Nhưng có một ý tưởng dường như lặp lại nhiều lần suốt các quyển sách: Vạn vật là sự hiển lộ của chỉ một thứ.

Trong một quyển nó học được rằng văn bản quan trọng nhất trong các tài liệu về thuật hóa kim chỉ chứa có vài dòng, và được khắc trên mặt của một viên ngọc lục bảo.

“Đó là Ngọc Bản,” ông người Anh nói, tự hào rằng ông ta có lẽ dạy được một điều gì đó cho thằng con trai.

“Ô, rồi sao mình lại cần hết thảy mọi quyển sách này?” thằng con trai hỏi.

“Để mà hiểu mấy dòng ít ỏi đó,” ông người Anh trả lời, với vẻ không thiệt tin ở cái mình nói.

Cuốn sách hấp dẫn thằng con trai nhất kể chuyện những nhà hóa kim nổi tiếng. Họ là những người đã dành trọn đời mình để tinh luyện kim loại trong phòng thí nghiệm; họ tin rằng, nếu một thứ kim loại được nung suốt nhiều năm, nó sẽ tự giải phóng tất cả các đặc tính riêng, và cái còn lại sẽ là cái Hồn Chung. Cái Hồn Chung này cho phép họ hiểu được bất cứ thứ gì trên mặt đất, vì nó là cái ngôn ngữ vạn vật dùng để truyền thông với nhau. Họ gọi cái khám phá đó là Kỳ Công – nó nửa lỏng nửa đặc.

“Bộ các ông không thể chỉ quan sát người và các điềm lạ để hiểu được cái ngôn ngữ đó sao?” thằng con trai hỏi.

“Bạn mắc chứng khoái đơn giản hóa mọi thứ,” ông người Anh trả lời, bực bội. “Thuật hóa kim là một ngành nghiêm chỉnh. Mọi bước phải được theo một cách chính xác như đã được theo bởi các bậc thầy.”

Thằng con trai biết được rằng phần lỏng của Kỳ Công được gọi Sinh Dược, rằng nó trị được mọi chứng bịnh; nó cũng giữ cho nhà hóa kim khỏi già. Và phần cứng được gọi Triết Thạch.

“Không dễ tìm được hòn Triết Thạch,” ông người Anh nói. “Các nhà hóa kim bỏ ra nhiều năm trong phòng thí nghiệm, theo dõi ngọn lửa tinh luyện kim loại. Họ dành quá nhiều giờ kề bên ngọn lửa do đó dần dần họ từ bỏ những thứ phù phiếm của thế gian. Họ khám phá rằng sự tinh luyện kim loại đã dẫn tới sự tinh khiết hóa bản thân họ.”

Thằng con trai nghĩ về ông chủ tiệm pha lê. Ông nói rằng để thằng con trai lau chùi các món đồ pha lê là một điều tốt, nhờ đó nó có thể giải thoát mình khỏi những ý nghĩ tiêu cực. Nó càng bị thuyết phục hơn bởi ý nghĩ có thể học được thuật hóa kim từ đời sống hằng ngày của ai đó.

“Hơn nữa,” ông người Anh nói, “Hòn Triết Thạch có một đặc tính hấp dẫn. Một mảnh đá nhỏ có thể biến một lượng lớn kim loại thành vàng.”

Nghe được điều đó, thằng con trai càng quan tâm hơn tới thuật hóa kim. Nó nghĩ rằng, với chút kiên nhẫn, nó có thể biến mọi thứ thành vàng. Nó đã đọc về cuộc đời của nhiều người khác nhau, vốn đã thành công trong làm được điều đó: Helvetius, Elias, Fulcanelli, và Geber. Chúng là những câu chuyện hấp dẫn: mỗi người trong bọn họ sống cho cái Niềm Riêng của mình đến cùng. Họ chu du, nói chuyện với các nhà thông thái, trình diễn các phép thần diệu cho những người hoài nghi, và sở hữu hòn Triết Thạch và toa Sinh Dược.

Nhưng khi thằng con trai muốn học làm sao để đạt được Kỳ Công, nó bị mất phương hướng. Chỉ có những hình vẽ, chỉ dẫn được mã hóa, và các văn bản mờ mịt.

*

“Tại sao họ làm cho mọi thứ trở nên rối rắm?” Một đêm nó hỏi ông người Anh. Nó đã để ý thấy ông người Anh đang bực bội, và nhớ mấy quyển sách của mình.

“Để những người có trách nhiệm hiểu có thể hiểu được chúng,” ông ta nói. “Hãy tưởng tượng nếu mọi người lăng xăng biến chì thành vàng. Vàng sẽ mất giá trị.

“Chỉ dành cho những ai kiên trì và muốn tìm hiểu mọi sự thật sâu, những ai đạt được Kỳ Công. Đó là tại sao tôi đang ở đây, ngay giữa sa mạc. Tôi đang tìm kiếm một nhà hóa kim đích thực, người sẽ giúp tôi giải được các mật mã.”

“Mấy quyển sách này được viết hồi nào vậy?” thằng con trai hỏi.

“Từ nhiều thế kỷ trước.”

“Hồi đó họ không có các ấn bản,” thằng con trai lập luận. “Không có cách gì để mọi người biết về thuật hóa kim. Sao họ lại sử dụng thứ ngôn ngữ lạ lẫm như vậy, với quá nhiều hình vẽ?”

Ông người Anh không trả lời thẳng nó. Ổng nói mấy ngày vừa rồi ổng đã chú ý coi đoàn lữ hành hoạt động ra sao, nhưng chẳng học được điều gì mới. Điều duy nhất ông ta lưu ý được là sự bàn tán về chiến tranh càng lúc càng trở nên thường xuyên hơn.

*

Rồi bữa kia, thằng con trai trả lại ông người Anh mấy quyển sách. “Bạn có học được điều gì không?” ông người Anh hỏi, háo hức chờ nghe cái muốn nghe. Ông ta cần người nói chuyện để khỏi nghĩ về triển vọng chiến tranh.

“Tôi biết được thế gian có một cái hồn, và ai hiểu được cái hồn đó cũng hiểu được ngôn ngữ của mọi vật. Tôi học được là có nhiều nhà hóa kim đã biến được cái Niềm Riêng của mình thành hiện thực, và kết cục khám phá ra cái Hồn Chung, hòn Triết Thạch, và toa Sinh Dược.

“Nhưng, trên hết, tôi học được là mọi thứ này đơn giản tới mức chúng có thể được viết ra trên mặt của một viên ngọc.”

Ông người Anh thất vọng. Những năm dài nghiên cứu, các ký hiệu bí hiểm, những từ ngữ lạ lẫm và dụng cụ thí nghiệm… không một thứ nào tạo được ấn tượng gì ở thằng con trai. Tâm hồn nó phải sơ khai lắm nên không thể hiểu được những thứ đó, ông ta nghĩ.

Ông ta lấy lại mấy quyển sách và xếp chúng vô túi.

“Hãy trở lại mà ngắm đoàn lữ hành,” ông ta nói. “Cái đó cũng chẳng dạy tôi được một điều gì cả.”

Thằng con trai quay lại thưởng thức cái tĩnh lặng của sa mạc, và bụi cát súc vật làm bốc lên. “Mỗi người có một cách riêng để học,” nó tự nhủ. “Cách của ổng khác với cách của mình, cách mình khác cách ổng. Nhưng cả hai cùng đi tìm cái Niềm Riêng của mình. Mình nể ổng chổ đó.”

*

Đoàn lữ hành bắt đầu di chuyển suốt ngày đêm. Những người Bedouin trùm kín mặt hiện ra càng lúc càng thường xuyên hơn, và người dẫn lạc đà – vốn đã trở thành người bạn tốt của thằng con trai – giải thích rằng cuộc chiến giữa các bộ lạc đã bắt đầu. Đoàn lữ hành sẽ may lắm nếu đến được ốc đảo.

Súc vật bị kiệt sức, và người ta nói chuyện với nhau càng lúc càng ít đi. Cái lặng ngắt là khía cạnh tệ hại nhất của đêm, khi chỉ một tiếng rống của lạc đà – vốn trước đây chẳng là gì hết ngoại trừ đó là tiếng rống của lạc đà – giờ làm mọi người khiếp đảm, vì nó có thể là dấu hiệu của một cuộc đột kích.

Người dẫn lạc đà hình như chẳng lo gì lắm về sự đe dọa của chiến tranh.

“Tôi vẫn còn sống,” anh ta nói với thằng con trai, khi họ ngồi ăn một chùm chà là đêm nọ, không có lửa và không cả trăng. “Khi tôi ăn, đó là hết thảy cái tôi nghĩ tới. Nếu tôi đang đi về phía trước, tôi chỉ tập trung vô chuyện đi về phía trước. Nếu tôi phải chiến đấu, nó sẽ chỉ là một ngày tốt để chết như bất kỳ ngày nào khác.

“Vì tôi không sống trong quá khứ hoặc tương lai. Tôi chỉ quan tâm tới hiện tại. Nếu bạn lúc nào cũng tập trung được vô hiện tại, bạn là một người sung sướng. Bạn sẽ thấy có sự sống trong sa mạc, có các vì sao trên trời, và người các bộ lạc đánh lẫn nhau vì họ là một phần của giống người. Đời lúc nào cũng là một bữa tiệc cho bạn, một kỳ hội lớn, vì đời chính là cái lúc mà mình đang sống ngay bây giờ.”

Hai đêm sau, khi nó sắp sửa ngủ, thằng con trai ngước nhìn ngôi sao họ theo mỗi đêm. Nó nghĩ chân trời xuống thấp hơn một chút so với trước đây, vì nó dường như thấy các ngôi sao đang ở ngay trên sa mạc.

“Ốc đảo đó,” người dẫn lạc đà nói.

“Ô, sao mình không đến đó liền bây giờ?” thằng con trai hỏi.

“Vì mình còn phải ngủ.”

*

Thằng con trai tỉnh dậy khi mặt trời lên. Ngay đó, trước mặt nó, nơi chòm sao ở đó đêm qua, là một hàng cọ bất tận, trãi ngang qua trọn sa mạc.

“Xong xuôi!” ông người Anh, cũng dậy sớm, nói.

Nhưng thằng con trai lặng thinh. Nó đã quen với cái tĩnh lặng của sa mạc, và nó thấy vui khi nhìn thấy cây cối. Nó vẫn còn có một quãng đường dài nữa mới tới được các ngọn Kim Tự Tháp. Một ngày nào đó, buổi sáng hôm nay sẽ chỉ còn là ký ức. Nhưng đây là thời điểm hiện tại – cái bữa tiệc người dẫn lạc đà nói đến – và nó muốn sống với hiện tại cũng như nó đã sống với những bài học của quá khứ và với những giấc mơ về tương lai. Dù cho quang cảnh rừng cọ một ngày nào đó sẽ trở thành ký ức, nhưng ngay lúc này nó có nghĩa là bóng mát, nước, và nơi tị nạn chiến tranh. Hôm qua, tiếng rống lạc đà báo hiệu hiểm nguy, và giờ đây hàng cọ có thể báo trước một phép mầu.

Thế gian nói nhiều thứ ngôn ngữ, thằng con trai nghĩ.

[CÒN TIẾP]

.

bài đã đăng của Paulo Cuelho

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)