Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Phải chi…

‘Tâm chờ Hằng khấn Bố tí, rồi mình cùng ăn nhá…’

Tôi bước tới trước chiếc tủ thấp, trên phủ tấm vải nhung đỏ thắm. Bàn thờ đơn sơ, hai ngọn nến leo lét cháy, ba cây nhang sắp tàn. Trước tấm hình chân dung, một chén cơm nhỏ, đĩa trái su xào tôm khô tóp mỡ – món ông bố Hằng ưa thích và tô canh ngót, đôi đũa gác ngang. Tôi xích lại bên cạnh Hằng:

‘Mới đó mà đã năm năm rồi…’

Hằng không trả lời tôi mà nhìn cây nhang, đầu tàn cong xuống, nói như chỉ để cho mình nghe:

‘Chắc Bố vui lắm nếu biết Tâm đến thăm.’

Bức chân dung để thờ trên tủ luôn mỉm cười, không rõ ông ở dưới kia – hay đang trên trời – nghĩ sao vào lúc này. Tôi nhìn bức hình, ông ta trông như thể một người nào đó xa lạ không quen, ngoài chiếc nốt ruồi lớn nơi góc cằm. Thời gian là một họa sĩ nhiều người không ưa. Cũng như ông, Hằng giờ đây rất khác. Hằng giờ đây còm cõi, tóc tai xơ xác trong căn phòng khách đơn sơ. Chẳng có ai để cần phải chưng diện. Chỉ có chiếc bàn, mấy cái ghế để những nơi chỉ có người sử dụng hiểu, và hai cái tủ. Trắng tinh và nâu hạt dẻ sống chung nhau. Riêng có tiếng nói của Hằng là còn đọng lại như thời gian ngừng trôi, vẫn trong veo, không già. Tôi chắp tay nhìn bức ảnh trên bàn thờ, mắt cay trong khi đầu óc hỗn độn vì những thay đổi không ngờ, cho dù Hằng đã báo trước: ‘Nhà cửa Hằng giờ tệ lắm đấy. Nói trước cho Tâm biết’. Có lẽ tôi nên có một lời xin lỗi ông, vì tôi đã chẳng chịu bỏ chút thời giờ tìm gặp ông trong bao nhiêu năm dài để đến bây giờ… Xin lỗi vào lúc này hợp hơn là cầu khấn chuyện gì đó, như cầu ông siêu thoát chẳng hạn, một lời cầu xin rất vô nghĩa. Hay cầu ông phù hộ cho tôi, cũng nhảm nhí luôn, vì rõ ràng ông chẳng bao giờ phù hộ tôi. Vậy thì xin lỗi đi, hay chỉ để là tưởng nhớ. Nhưng sao thật là khó. Cho dù bây giờ, khi tôi đã trải qua một chặng đường dài trong đời, để hiểu đời hiểu người thêm chút xíu. Vậy mà tôi vẫn không hiểu nổi ông.

‘Hằng không có cái hình nào của Bố hả?’

‘Bố là người quen biết nhiều,’ Hằng thầm thì, ‘nhưng lại không thích chụp ảnh. Thêm nữa là lúc ấy hoàn toàn bất ngờ. Hằng lục trong đống ảnh cũ chỉ tìm được mấy cái Bố ngồi trong bàn tiệc. Lắm mối tối nằm không. Thành ra Hằng phải chọn lấy vài cái, đưa ra tiệm rồi tả thêm vào cho người ta vẽ, mới có được cái chân dung đấy thôi.’

Bức chân dung trông hơi nhếch nhác do những bệt màu đôi chỗ quá độ, nhưng nhìn chung không đến nỗi tệ. Ít ra nó đã thể hiện được tấm chân tình, còn hơn là không có. Tôi không dám hỏi tiếp: vậy chứ mấy hôm đám ma Hằng phải làm sao. Cây nhang chợt rụng tàn, Hằng thẫn thờ nói, giọng pha nước mắt:

‘Bố đi rồi, để Hằng dọn cơm. Mẹ ăn cơm, Mẹ.’

‘Ừ! À… Mẹ ăn rồi.’

‘Mẹ ăn lúc nào thế?’, giọng Hằng hơi gắt. ‘Đến đây ăn với anh Tâm chứ Mẹ.’

‘Mẹ đến ngồi với tụi con cho vui Mẹ à.’ Tôi tiếp lời trong khi ngoái nhìn người đàn bà mà tôi cũng gọi là Mẹ. Từ khi bước vào nhà cho tới giờ, tôi thấy bà dường như bất động. Ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế mây lót một chồng gối dưới đít và sau lưng, đôi mắt bà nếu không lim dim thì nhìn vào đâu đâu. Khi thì bà ngó chăm chăm lên bàn thờ, khi khác ngó sững ra ngoài khung cửa sổ, miệng thỉnh thoảng ừ à những tiếng như nói với ai đó từ cõi bên kia. Tôi có cảm tưởng bà đang tâm sự với người trong tấm hình trên bàn thờ. Hằng đã cho tôi biết là bà bị trầm cảm nặng, đưa đến lú lẫn, lại có vẻ khờ. Bệnh phát từ khi ông bố trắng tay, và đột nhiên trở nặng sau khi ông qua đời trong cơn đột quỵ. Con người vô tư lự, hơn một nửa đời có cuộc sống không hẳn là giàu sang, nhưng không bao giờ phải lo lắng vật chất. Chỉ sau hai kế hoạch đầu tư liên tiếp bị thất bại, theo lời Hằng kể qua điện thoại, vừa mất sạch vốn lại còn bị khách hàng quịt, ông đã suy sụp nhanh chóng. Nơi một người chưa từng nếm mùi thua to lỗ nặng, thì đây là một cú sốc vô cùng lớn. Mặc cảm bị bạn bè bỏ rơi, buồn và xấu hổ đã làm ông thu rút vào giữa bốn bức tường căn nhà nhỏ sau khi đã phải bán gấp tòa dinh cơ để trả nợ. Những người xấu miệng giờ lại được cơ hội dèm pha bằng thuyết này thuyết nọ càng làm ông trở nên xa lạ, cáu gắt ngay với cả người trong nhà. Nỗi cô đơn cuối cùng đã xoáy ông xuống vực thẳm để rồi không bao giờ ngoi lên được. Còn ba má tôi thì đã chia tay nhau nhiều năm. Khi hai người rẽ sang con đường cho riêng mình, dường như họ chọn lọc lại cả đám bạn. Thời gian sau này vì thế mối quan hệ bạn bè giữa gia đình tôi và gia đình Hằng tự dưng phai lạt dần. Tôi dần mất luôn những tin tức về gia đình Hằng trong một thời gian dài. Hỏi, thì cả ba lẫn má hoặc lảng ra, hoặc nói không biết. Chỉ biết một điều là gia đình Hằng từ lâu không còn ở chỗ cũ nữa, mà cũng chẳng cho ai biết tung tích. Phải chăng vì sự cách biệt giữa hai nếp sống ngày càng tăng. Hay là do sự ghen tị ngầm giữa hai người đàn bà ở hai nấc thang xã hội cách nhau khá xa. Cũng có thể ba má tôi sợ khó từ chối một yêu cầu giúp đỡ.

Bây giờ, gặp lại Hằng trong một hoàn cảnh có thể gọi là bi đát. Hằng đã xin nghỉ việc mấy năm nay để lo cho mẹ. Các giao tiếp xã hội đã cắt gần hết. Ngoài bác sĩ và y tá, chỉ còn vài người bạn rất thân. Cuộc sống nơi đây như đông cứng, bỏ mặc cho thời gian trôi.

Mọi chuyện, luôn cả con người, trong hơn hai mươi năm, bây giờ từ từ trở lại trong tôi, để cắm vào một điểm tôi không thể nào quên…

***

Hôm ấy là một ngày thứ bảy, đầu tháng tám, cũng cùng một khoảng thời gian như hôm nay. Ngày cuối của một chuyến nghỉ hè không mấy thú vị. Ba má tôi rủ bố mẹ Hằng thuê hai căn bungalow cạnh nhau trong một khu nghỉ mát nơi vùng biển phía Nam. Chưa biết khi nào gia đình tôi và Hằng sẽ cùng đi chơi chung như thế này nữa. Chúng tôi vừa xong trung học, qua hè tôi sẽ vào trường ở vùng này. Hằng lên miền Bắc, nơi bố Hằng cho biết là ông sẽ lập một công ty lãnh thầu gia công, một bước gọi là rất mới trong cộng đồng người Việt ở đây, mà ông nói là có tương lai rất hứa hẹn. Trong lúc bốn người lớn chuẩn bị sắp xếp đồ đạc gọn ghẽ, tôi và Hằng ngồi bên chiếc bàn xếp, đặt trên bãi cỏ giữa hai căn nhà, uống ly cà-phê bột thứ nhì và thưởng thức dư vị của bữa ăn sáng gồm những món còn sót lại từ những ngày trước.

Giờ phút chia tay, không nói mà như nói ngàn lời. Thực sự, tôi đang bối rối khi suốt cả một tuần tôi chưa tìm ra một câu nào có ý nghĩa để nói với Hằng. Nếu nói tiếng Hòa Lan hay tiếng Anh thì dễ quá. Nhưng chẳng lẽ chỉ nói suông ba chữ. Ngoài ra, câu ‘Đi lên đó rồi Hằng có nghĩ là sẽ nhớ Tâm không?’ tôi đã hỏi nhiều lần và đã nghe bằng đó lần ‘Có’ hay ‘Sao lại không?’. Nhưng tôi muốn đi xa hơn. Xa hơn thế nào? Má tôi có lần cắt nghĩa cho tôi về sự khác nhau giữa thích, thương, mến và yêu trong tiếng Việt. Má bảo là không được dùng lộn xộn, nhưng chữ nào tôi sẽ dùng để nói với Hằng đây. Rối rắm quá. Tôi nhìn ra khoảng đồng cỏ bao la quanh khu trại, tìm một cơ hội. Nhưng chỉ thấy cỏ thật chen lẫn cỏ dại, và đôi thỏ nâu chân trắng, khi sáng chưa dạn người còn lăng xăng thò ra thụt vào giữa những bụi cây nhỏ, giờ đang vô tư gặm cỏ. Đột nhiên Hằng nói bâng quơ:

‘Tâm xem hai con thỏ nhỏ tức cười ghê…’

‘Tâm không biết con người sống với nhau làm sao, chớ hai vợ chồng thỏ này con nào cũng lo kiếm cỏ ăn riêng, không ngó ngàng gì tới nhau hết.’

‘Sao Tâm biết nó là vợ chồng?’

‘Tại sáng nay mới thấy nó nhảy…’

Tôi chợt liếc qua, kịp thấy má Hằng đỏ lên. Sau này, tôi mới hiểu là khi đó cơ hội đã vụt đến và qua đi. Hằng đang ngồi sát bên tôi, khoảng cách không bằng bề dày một cuốn sách mỏng. Nếu một trong hai đứa đầu có chí thì đứa kia chắc chắn bị lây. Buổi sáng nơi thôn quê im lắng, tôi nghe cả nhịp tim đập, không biết của tôi hay của Hằng, hoặc của cả hai đứa cũng nên. Khi đó tôi chỉ cần nói thêm một câu, câu nào cũng được, Hằng sẽ hiểu ngay. Nhưng tôi lại như tượng đá, vì cảm thấy lỡ lời. Chúng tôi ngồi im, thời may má tôi gọi với qua:

‘Hằng đâu! Sửa soạn đi con, đặng mình ra chợ coi.’

‘Dạ… ạ…,’ Hằng xuống giọng lại: ‘Tâm ở nhà với Bố nhé. Tâm có muốn ăn gì không, để Hằng mua cho?’

Hằng có tật giống mẹ, và giống má tôi, là thích sà vào các hàng quần áo. Để được ngắm nghía, săm soi, luồn tay vào những hàng treo váy áo sờ vuốt, ngửi mùi vải mới trong khi tưởng tượng mình sẽ hóa thân ra sao khi khoác chúng vào. Điểm khác biệt là hai người lớn có thừa khả năng mua, nhưng ít mua hơn bàn chuyện thời trang. Hằng do đó là người mẫu để được nghe hai bà mẹ bàn luận khen chê cho sự lựa chọn của mình, và thường là được mẹ hay má tôi mua cho một vài chiếc, khi áo váy, khi giày dép, vì đó cũng là một cớ để hai bà lấy thêm vài chiếc cho riêng mình. Ba tôi bữa nay phải làm tài xế. Ngoài khu chợ phiên rầm tiếng nhạc điếc tai, còn có khu mua sắm trong làng, nơi mà nhiều người hy vọng tìm được một chiếc áo, cái quần hay đôi giày vừa ý và vừa người, cho dù cơ may chỉ cao hơn mua được vé trúng chút xíu. Bố Hằng nói ông sẽ ra ngoài mấy cái bến trong làng kế bên xem có câu được con cá nào không. Nếu không, ông sẽ tìm mua cá tươi để làm món cá nướng trui, tiêu thụ cho hết số than mang theo. Mấy lon bia cuối cũng đang đợi mồi…

Tôi biết bố của Hằng không muốn để tôi lẻ loi. Đúng ra, chúng tôi có thể cùng nhau cả lũ ra phố, ai mua sắm thì vào chợ, ai không có nhu cầu thì ngồi quán ngắm người qua lại, rồi tìm một tiệm ăn nào đó dùng bữa trưa. Nhưng ông biết là nếu vậy thì tôi sẽ viện cớ ở lại trại, nghe nhạc Sky Radio thú hơn ngồi ngây người nhìn hai ông nói chuyện trên trời dưới đất. Hơn nữa, tối qua có chuyện không mấy vui, điều không thường thấy giữa hai người bạn thân. Sau bữa cơm, câu chuyện đột nhiên xoay về mục thời sự. Tôi còn nhớ, bốn bậc cha mẹ bàn bạc về sự chuyển hướng của thế giới trong cái nhìn về Việt Nam, nhấp nhổm đổi thù thành bạn, với triển vọng một sự bình thường hóa quan hệ. Ba tôi chống, bố Hằng bênh. Hai bà mẹ, đương nhiên, theo phe của chồng. Sau này nghiệm lại, câu chuyện Việt Nam sau cuộc chiến là một cái gì đó có thể làm sứt mẻ tình cảm, ngay cả giữa những người thân cận nhất, trong khi rõ ràng tất cả mọi người dân thường như chúng tôi chẳng ai có được chút xíu tiếng nói trong cuộc cờ của các ông lớn không cùng màu da và màu tóc. Buổi tranh luận tối đó chỉ chấm dứt sau khi ba tôi nói: ‘Thôi được, để tao nghĩ lại.’ Đó là câu ông thường mang ra mỗi khi không muốn tiếp tục tranh giành chân lý. ‘Chân lý như trái banh, giành nhau để rồi sút vào đâu?’ Ông nói vậy, nhưng tôi biết ba tôi dứt khoát trong suy nghĩ. Ông thường tỏ ra hối tiếc những gì mình đã không cố gắng làm khi trước, để đến bây giờ phải lang bạt xứ người. Sự ân hận đè nặng trong lòng, ông chỉ còn biết trải tâm sự ra với ông bạn mỗi khi hai người ngồi bên chai bia. Thế mà bây giờ ông biết con đường bố Hằng chọn sẽ rẽ sang một hướng khác với ông rồi. Không như những lần tranh luận trái ý nhau thỉnh thoảng xảy ra, mọi chuyện rồi cũng được bỏ qua, lần này ba tôi viện cớ ngày chủ nhật trời trở xấu, có gió mạnh và sẽ đổ mưa nên đề nghị về sớm một ngày, sau bữa cơm chiều, thay vì ráng ngủ thêm một tối vô ích, mà chỉ thêm ấm ức nếu tiếp tục đôi co.

Giờ đây chúng tôi ngồi trên chiếc ghế xếp mang theo. Bố Hằng bỏ thùng đồ nghề xuống, ngồi trầm ngâm và rút thuốc. Tôi hỏi:

‘Sao Bố không câu, Bố?’

‘Ngày còn dài mà con. Ừ thì để bố sửa soạn,’ ông nhét điếu thuốc vào túi, lụi hụi móc mồi và quăng dây, cách làm như chiếu lệ. Tôi thì nghĩ thầm: nơi đây làm gì có cá. Ông chỉ làm bộ nói vậy để kiếm cớ ở nhà thôi.

‘Câu cá xứ này thật chán. Mọi chuyện đều có quy định phép tắc, rồi thứ nào cũng phải đúng thứ đó. Lúc còn ở Việt Nam ông nội con đào giun, lấy bánh mì, khoai lang hay ruột cá làm mồi cũng xong. Ông nội con giỏi lắm, biết thói quen của từng loại cá, phải câu chỗ nào, móc mồi gì. Ba con với bố phục sát đất.’

‘Bây giờ chắc cá khôn hơn hồi trước nhiều chứ Bố, tại người ta đánh bắt quá,’ tôi dọ dẫm.

‘Đương nhiên, người thì ngày càng đông, cá sinh sản sao mà kịp được. Nhưng cũng có thể vì câu cá ở xứ này thường là không phải để ăn. Câu xong, may mắn gặp cá lớn thì chụp tấm hình, rồi thả trở lại xuống nước. Cá bộ nó không biết stress hay sao chứ?’

Tôi cười biểu đồng tình. Tôi có tướng tá bộ dạng hơi giống má, nhưng lại quyến luyến với người đàn ông mà tôi quen miệng gọi là Bố hơn. Bố Hằng và ba tôi là bạn thân từ hồi đi học và đi làm. Thân tới mức tôi và Hằng được phép gọi chung các vị là ba má và bố mẹ. Sau khi qua tới bên này bằng hai ngả khác nhau, tình cờ hai gia đình định cư ở hai thành phố không xa lắm, đủ để cho họ nối lại tình bằng hữu ngày xưa. Bố Hằng là người đàn ông xông xáo, lại khéo ăn nói. Không hẳn tính tôi giống ông, mà là tôi mê thích lẫn thầm phục sự từng trải của ông qua những câu chuyện tứ xứ. Nhất là những câu khôi hài vào lúc không ai ngờ tới. Ông như một cuốn truyện hấp dẫn, đọc hoài không chán. Còn ba tôi như cuốn kinh, từ đầu tới cuối chỉ rặt những lời răn giông giống nhau. Có trời mới hiểu vì sao hai người lại thân với nhau đến như thế.

‘Con người ta cũng vậy,’ ông chép miệng. ‘Có những người bao nhiêu năm rồi mà hễ nghe tới hai chữ Việt Nam là y như bị stress… Hay thấy Việt Nam như cùi hủi ghẻ lở, chỉ muốn tránh xa.’.

Tôi biết ông vẫn còn bị vướng mắc vì chuyện tối qua với ba tôi, nên nói giả lả:

‘Nhưng Ba Má con nói là ở Việt Nam nhà nước họ muốn bắt ai thì bắt. Người ta sợ…’

‘Vậy chứ con có sợ không?’

‘Con đâu có biết. Tại mấy lần đi Việt Nam là con chỉ có đeo theo Ba Má. Đi thăm bà con, mà mấy người này họ đâu có làm gì mình.’

‘Tuổi thanh niên đẹp ở chỗ không biết sợ, hay chưa biết sợ. Bởi vậy tuổi trẻ mới sinh ra anh hùng. Càng lớn tuổi, càng có nhiều kinh nghiệm thì con người ta tưởng là mình chín chắn hơn, nhưng lại đâm ra e dè hơn, con biết không. Bố với ba con ngày xưa cũng chẳng biết sợ là gì. Vậy mà…’

Chợt ông ngưng lại một chút, rồi nói:

‘…Ba con là người tốt lắm.’

Tự dưng ông đâm ngang qua chuyện này. Tôi không hiểu ba tôi tốt với ông chỗ nào, vì giao tình giữa hai người tôi thấy cũng giống như những người quen biết khác. Qua lại nói chuyện, ăn uống… không có gì gọi là đặc biệt. Khi cùng đi chơi thì sòng phẳng theo cách ngầm chia phiên trả chi phí. Còn khi xưa, lúc hai người là bạn thân ở Việt Nam, tôi không rõ. Bố Hằng là con một trong một gia đình có thế lực lớn trong xã hội, ông không đi lính đã đành, mà không biết gia đình ông vận động ra sao để ba tôi cũng được hoãn dịch, hoãn tới hoãn lui cho tới ngày không cần phải hoãn nữa. Chuyện này ba tôi không bao giờ kể rõ đầu đuôi ngọn ngành. Ông luôn tự trách mình đã không làm tròn bổn phận người trai thời loạn. Mỗi khi nghĩ lại chuyện xưa, dường như ông cảm thấy bất công khi bắt những người cùng trang lứa phải gánh luôn phần mình. Nhất là khi thấy đất nước đã vào tay người khác, ông càng cảm thấy mình tội lỗi, để đến nước phải lưu lạc tới một nơi không ai hiểu ai. Ông không có được một chút quá khứ để tự hào. Má tôi mỗi khi nghe ông than lại càm ràm là nếu ông quân tử tàu thì chắc tôi đã mồ côi cha sớm. Bà tin như đinh đóng cột là do ông được phước từ kiếp trước cho nên kiếp này hưởng lộc từ trời rơi xuống. Chẳng thế mà sau này, nhờ vụ không đi lính nên ông cũng thoát luôn vụ học tập cải tạo mà nhiều người cùng lứa tuổi phải gánh chịu.

‘Dạ, cám ơn Bố,’ tôi dè dặt, dọ dẫm, ‘nhưng con thấy Ba con đâu có gì đặc biệt với Bố đâu. Có điều con thấy Ba con là người nếu thấy ai cầu cứu thì sẵn lòng giúp, vậy thôi.’

‘Đúng như vậy,’ ông gật gù đồng ý nhận xét của tôi. Ngập ngừng một chút, hít một hơi thuốc, thả khói ra, ông chậm rãi nói:

‘Có chuyện này bố muốn kể cho con nghe…. Hồi thời sinh viên, bố với ba con chơi trong một nhóm với mấy người bạn. Cũng đàn đúm quậy phá nhiều. Tụ tập đàn địch nhậu nhẹt, hút xách cũng có. Tuổi trẻ mà con. Bây giờ nghĩ lại thì thấy mình cũng bậy thật. Nhưng suy cho cùng, đó là vì chuyện xong rồi mình mới nghĩ lại mà đánh giá nó. Chứ khi ấy, lúc bố với ba con còn trẻ trong thời chiến tranh, nó khác tuổi trẻ thời của con bây giờ mà nó cũng rất khác tuổi trẻ trong chiến tranh ở những nước khác trên thế giới…’

Mấy câu mào đầu như một lời rào đón trước khi ông bắt đầu say mê đi vào câu chuyện trong quá khứ. Những chuyện này, tôi biết là ông khó có thể tâm sự với ai. Với ba tôi, nhân vật chính thứ hai, thì không cần nữa. Ba má tôi hoàn toàn không muốn nhắc đến những ngày xa xưa ấy – bây giờ, qua nhiều năm thì tôi đã hiểu vì sao. Còn với những người khác? Những chuyện ông đang kể với tôi chắc chắn sẽ làm mất lòng nhiều người, và chỉ đem lại sự thù ghét, vì nó khác hơn những chuyện tôi nghe từ những gia đình khác, quen với ba má tôi. Tôi hiểu ra rằng, khi đó có một thế giới khác, xa rời cuộc sống của những người lính ngoài mặt trận, cũng không giống chút nào với hình ảnh cuộc sống của người dân trong xã hội thời chiến mà tôi đã mang sẵn trong đầu. Một thế giới thản nhiên đi song hành với chiến tranh, mặc cho cường độ lên xuống của súng đạn. Tuy nhiên, câu chuyện của ông cho tôi thấy đúng là cuộc sống có những phức tạp riêng của nó… Ông đang mở cửa và thắp đèn cho tôi xem một căn phòng bị đóng kín mà nhiều người không dám đụng tới.

Khi ông đang miên man nói về những ngày ông vui cùng với đám bạn trẻ ‘hippy’ phá phách và đầu tôi thì đang rối mù về những gì tôi không tưởng tượng ra được, thì ông buông lửng:

‘Nhưng xui cho Bố và ba con là cô ấy có bầu…’

Tóc tôi chợt dựng lên vì chi tiết động trời này, khi ông đang kể về những cuộc chung vui với ba tôi và một cô gái nào đó từ tỉnh lên Sài Gòn trọ học. Tôi định la ‘trời ơi sao Bố không dùng bao, hay cô ta không uống thuốc?’ thì trực nhớ là một thế hệ đã qua đi, xã hội đã lộn ngược. Tôi náo nức hỏi:

‘Rồi Bố và ba con tính sao?’

Ông không trả lời mà hỏi ngược lại:

‘Bây giờ bố hỏi con, nếu con rơi vào trường hợp như thế thì con sẽ xử ra sao?’

Tôi ấp úng, bởi vì với lứa tuổi chúng tôi bây giờ, chuyện này khó xảy ra. Còn rủi lỡ dại thì hôm sau mua viên thuốc, thế là xong. Mà thường thì đó là do đám con gái chủ động giải quyết.

Không đợi tôi trả lời, ông nói tiếp sau tiếng thở dài:

‘Chuyện xảy đến không ai ngờ trước. Bố và ba con lúc ấy hết sức bối rối. Nhưng có hối tiếc cũng không làm sao quay ngược thời gian được nữa. Phải chi được như trong phim Back to the Future,’ ông ngập ngừng. ‘Chuyện này nếu vỡ lở ra thì không những cô gái mất danh dự, gia đình bị mang tiếng, mà bố cũng không còn mặt mũi nào nhìn người ta nữa. Gia đình bên bố khi ấy đã có hứa hẹn với một gia đình có quyền thế, đã chọn ngày làm lễ hỏi lễ cưới rồi. Sau khi cưới thì họ sẽ thu xếp cho bố đi ngoại quốc. Xúi cô kia đi phá thai thì quá bất nhân, dù sao cũng là con của một trong hai người mà. Chờ cô ta sinh xong rồi thử huyết thống xem cha đứa bé là ai thì càng rối rắm nữa. Còn cô ta thì sợ lắm, hối thúc phải giải quyết gấp, bằng cách một người phải đứng ra nhận đứa con, mà cô không nỡ bỏ. Ai cũng được, miễn là để cô ta không bị mang tiếng. Bố với ba con nghĩ mấy ngày nát óc, để cuối cùng thấy chỉ có cách phá thai là ổn nhất, cho cả ba người…’

‘Thế rồi chuyện đó ra sao hả Bố?’ tôi nôn nóng hỏi.

‘Đêm cuối cùng, bố nói với ba con “thôi để sáng tao gặp nó nói chuyện, phân tích đâu ra đó, còn chuyện tiền bạc, bệnh viện không thành vấn đề”. Ba con ngồi bóp trán, hút liên tục chắc cả chục điếu thuốc xong rồi thì ba con nói: “làm vậy mang tội chết. Thôi để tao nhận cho, chỉ có đó là cách êm đẹp nhất.” Đúng như ba con nói, cách đó ổn nhất, nhưng hơi ép. Nó như một lời gián tiếp nhận tội vậy. Bố nói sẽ lo liệu cho đứa bé được nuôi nấng tử tế, chứ ba con hồi đó làm sao cáng đáng được. Nhưng ba con dứt khoát không chịu. Tính ba con là như vậy đó. Ba con nói là chuyện này tuyệt đối không được hở ra cho ai biết…’

‘Rồi người ấy với đứa con giờ ở đâu, sao con không bao giờ nghe ba con nói tới…’

‘Cô gái ấy là má con,’ ông nói rất nhanh như sợ mình đổi ý.

‘Trời ơi Trời! Thực vậy sao Bố? Tại sao bây giờ tự dưng Bố lại kể ra cho con biết? Có ích lợi gì không?’, tôi la lên, đứng bật dậy để tin là mình còn đứng hai chân trên đất, và cũng để dằn cơn giận đang nổi lên vô cớ. Bởi giận cái gì? Giận sự thực chăng? Hay giận ba má tôi và bố – cha của Hằng, những người tôi thương yêu và kính trọng?

Tôi bỏ đi một nước, rảo bước ra bờ nước như đi vào một màn mù sương, mắt không thấy gì nữa, tai cũng ù đặc. Tới khi có bàn tay đặt lên vai. Tôi quay lại. Đó không phải là bố của Hằng mà là một người khác, trong mắt tôi. Khi đó trông ông ủ rũ thảm hại, với cặp mắt đỏ mọng nước. Một người đàn ông khóc trông rất tội nghiệp, nhưng ông không đáng để tôi thương hại hay kính trọng nữa, một người mà theo tôi đã cố ý đẩy trách nhiệm sang người bạn thân của mình. Tôi biết ba tôi khó từ chối khi đã nhận ơn nghĩa quá nhiều nơi người đàn ông này. Cho dù lúc này ông vừa xúc động vừa đau khổ qua câu nói lắp bắp:

‘Bố… bố xin lỗi… nếu đã để con giận. Con ngồi xuống nghe cho hết câu chuyện đã…’

Tôi giựt tay ông ra, nhưng rồi cũng đi lại, ngồi xuống ghế. Giờ thì tôi giận luôn cả ba tôi:

‘Tại sao Bố với ba má con giấu chuyện này suốt bao nhiêu năm vậy? Đã là sự thực thì…’

‘Bố biết. Bố biết. Nhưng cuộc đời nó là như vậy. Có những chuyện mọi người trong cuộc đều biết sự thực đằng sau, nhưng ai cũng thầm sống để bụng chết mang theo. Hơn nữa, trong chuyện này, không ai có lỗi hết. Đó chỉ là sự lầm lỡ của tuổi trẻ mà thôi.’

‘Vậy thì Bố cứ giấu nó đi. Bố nói ra làm chi vậy?’

‘Nếu như bình thường thì bố cũng chẳng nói cho con biết đâu. Nhưng bố thấy chuyện tình cảm giữa con và cái Hằng chắc sẽ tiến xa hơn, cho nên bố không đành. Chuyện này chỉ có ba người biết với nhau, bây giờ con là người thứ tư. Không ai muốn vết thương đã gần thành sẹo lại bị xát muối. Con với Hằng có thể là anh em cùng cha khác mẹ, có thể là người dưng. Bố với ba con không muốn tìm hiểu thêm. Nhưng nếu con với Hằng đúng là anh em mà thành vợ thành chồng thì ngoài chuyện đạo đức, có thể có những di hại về sau cho con cái, cho nên bố muốn nói sự thực cho con biết để cân nhắc trong quyết định của con…’

‘Phải chi nếu mọi chuyện suôn sẻ,’ ông nói tiếp, ‘thì chắc con khó có dịp được quen thân với con Hằng. Nhưng sau đám cưới của bố với mẹ con thì có nhiều chuyện bất ngờ đưa tới làm bố với mẹ con không đi ra nước ngoài được nữa.’

Bây giờ thì tôi ngồi chết lặng. Mọi việc xảy ra quá bất ngờ. Tự dưng tôi lại phải gánh tội của thế hệ trước sao? Thế hệ trước đã làm đất nước tan hoang rồi lại kêu gọi thế hệ sau phải cứu lấy, giờ lại còn chất thêm một tội cá nhân này nữa! May là khi đó tôi còn choáng váng, chưa kịp hỏi ‘không chừng cô ấy lừa bố với ba con…’, giờ thì đành chôn sâu vào lòng và cố quên đi. Nhưng làm sao những cảm tình tốt đẹp tôi đã dành cho ông có thể trở lại được nữa. Rồi ngay cả với Hằng, tôi sẽ phải xử ra sao?

Bữa ăn chiều trở nên tẻ nhạt, mỗi người một thế giới riêng. Má tôi càu nhàu vì mất chiếc bóp đựng tiền để trong túi xách, không hiểu bị trộm hay để quên nơi tiệm nào. Lúc bà phát giác thì các tiệm đã đóng cửa. Ba tôi ngồi chịu trận cho những đổ thừa vô căn cứ, còn mẹ con Hằng cũng bị lây do thấy bốn người còn lại không có ai vui. Sau bữa ăn, chúng tôi lặng lẽ chất đồ đạc lên xe, vài lời nói xã giao nhạt nhẽo trước khi lên đường. Lúc Hằng ôm tôi, tôi biết mình đang khóc. Hằng an ủi, hứa sẽ giữ liên lạc, nhưng Hằng không biết là một biến cố lớn hơn đã xảy ra, một dấu chấm hết đã được viết xuống.

***

Từ buổi ấy tôi nhìn những người tôi gọi là bố mẹ ba má bằng con mắt khác. Con mắt quan sát của một người đứng nửa trong nửa ngoài, không biết vị trí của mình nằm nơi đâu. Phải chi tôi đừng sinh ra. Phải chi má tôi đồng ý ra tay giết tôi, rồi thì sao? Với ám ảnh mình là cục nợ mà mọi người phải gánh chịu, tôi xa lánh dần những người trong gia đình. Ngay cả với Hằng, khi thấy là tiếp tục chỉ mang thêm đau khổ. Mà tôi cũng không có đủ can đảm, đúng ra là không muốn gặp lại gia đình ấy. Ngay cả với bố Hằng, người đã mở mắt cho tôi, vậy mà giờ đây tôi coi ông như là đầu mối gây rối của mọi sự việc. Ông có gởi cho tôi lá thư tay, do ba tôi chuyển đến, trong đó ông tỏ ý hối tiếc đã cho tôi biết sự thật, và nói sẽ sẵn lòng giúp đỡ những gì tôi thấy cần, nhưng tôi không trả lời. Con người luôn muốn biết sự thật, nhưng quả là có những sự thật tốt hơn đừng nên nói ra. Thời đó chưa có chuyện mỗi người một chiếc điện thoại riêng mang theo bên mình, cho nên với Hằng, tôi tự dưng biến mất khỏi trái đất này. Có thể sau đó Hằng cố tìm cách gặp tôi, cũng có thể Hằng giận vì nghĩ là tôi thay quần đổi áo, hay là bị ngăn trở, nhưng khi đó tôi không quan tâm tìm hiểu. Tôi chỉ biết lờ mờ là sau kỳ nghỉ đó, mối liên lạc giữa hai gia đình đã dần mỏng đi, cho đến một ngày chúng đứt ngang mà không ai bận tâm hỏi vì sao.

Thế rồi, theo thời gian, tôi dần hiểu ra, dù chỉ một phần, những biểu hiện tình cảm thầm kín trong hai gia đình, những xung đột nhỏ nhặt giữa họ mà lâu nay tôi chứng kiến. Tôi đâm ra thương ba tôi. Vì bổn phận, vì đạo đức, ông đã cắn răng cố giữ mối dây mà mọi người gọi là vợ chồng. Không một lời than vãn, không trách oán những gì ông đã nhận mang trên vai, giữ lời cho đến khi không còn giữ được nữa. Tôi thương má tôi, người đàn bà thầm mang ơn ba tôi suốt đời. Đã đồng ý với nhau chôn chặt quá khứ. Trở thành một gia đình bình thường, nhiều người có thể coi là tẻ nhạt. Ba má tôi buổi sáng đi làm mỗi người một hướng, chiều về thẳng nhà, lo việc nhà, chăm nom thằng tôi, một người họ gọi là con, nhưng biết đâu đó là bằng chứng của cái tội không thể tha thứ, không thể chuộc lỗi. Ít có những chuyện trò, tâm sự giữa mọi người trong gia đình, bây giờ tôi hiểu vì sao. Nếu bố Hằng không nói, tôi không thể mường tượng ra được những khó khăn ba má tôi đã phải trải qua. Má tôi có khi nào, trong tâm thức, so sánh giữa ba tôi với bố Hằng chăng? Có thể lắm, dù bà không nói ra, tuy nhiên tôi nghĩ là má tôi cảm phục sự cao thượng của người chồng. Tôi thấy thương má tôi ngày một nhiều hơn. Má tôi mang số phận người đàn bà Á Đông, chôn chặt tình cảm trong lòng. Mọi chuyện đã lỡ, lỗi lầm của tuổi trẻ. Bà nhẫn nhịn, bắt đầu cuộc đời mới, bên cạnh ba tôi, người có lòng thương bà hết mực đã ra tay gỡ nước cờ bí. Nhưng tôi nghĩ bà không yêu chồng, tình cảm bà dành cho ba tôi chỉ thuần là sự trả ơn mà thôi. Đó là nếu má tôi biết tôi đúng là con ruột do huyết thống của ba má tôi. Còn nếu mà má tôi biết ba thực của tôi là bố Hằng thì sao? Ờ, mà làm sao bà biết được? Có sự khinh bỉ pha lẫn tình cảm đối với người đàn ông kia chăng? Bà phải đối xử ra sao với bố mẹ của Hằng? Rồi chuyện gì đã xảy ra giữa ba má tôi trước khi đưa đến sự chia tay? Chuyện tôi sinh ra chắc chắn có dự phần trong đó. Tôi không dám hỏi, vì với tôi mọi chuyện đã trở nên rối rắm sau ngày đó, và khơi ra chỉ làm tăng phiền phức. Cho tới ngày hôm nay, tôi vẫn nghĩ là ba má tôi không ngờ là chuyện đó với tôi không còn là bí mật nữa.

Người tôi thương nhất là mẹ Hằng, người đàn bà suốt đời sẽ phải sống trong một màn bí mật bao phủ, rất có thể có một sự ghen tuông ngầm mà bà, do linh tính trời sinh của phụ nữ, lờ mờ cảm thấy từ bên gia đình tôi, nhưng không rõ nguyên ủy vì sao. Bởi vì má tôi đối xử với gia đình Hằng rất chân tình, ít ra là qua cách ứng xử nhìn từ bên ngoài.

Tóm lại, khi hiểu ra, tôi thấy thương tất cả mọi người trong gia đình. Cả với bố của Hằng, cho dù mỗi khi nghĩ tới ông, tôi vẫn thầm trách cớ sao ông lại gây ra sự xáo trộn này. Hẳn phải có một lý do nào đó mà tới nay tôi vẫn chưa tìm ra. Cho tới khi gần đây tình cờ bắt liên lạc được lại với Hằng, đúng ra là Hằng tình cờ tìm ra tôi, và qua câu chuyện về gia đình, tôi bàng hoàng tự hỏi phải chăng ông đã phải trả những gì ông đã gây ra.

Và lạ nhất, tôi đọc đâu đó những bài nghiên cứu về chấn thương tâm lý của những cựu chiến binh. Nhưng không ai có thể ngờ rằng chấn thương tâm lý sau chiến tranh lại có thể xảy ra với những người hoàn toàn không tham dự trực tiếp cuộc chiến, như ba má tôi, như bố mẹ Hằng. Mà rõ ràng nó còn tiếp luôn cho đến tôi, một người chỉ tiếp cận chiến tranh qua sách vở, phim ảnh.

***

Tôi ở nhà với Hằng và bà mẹ được đúng ba hôm. Ban ngày, lúc trời tốt, chúng tôi dắt bà đi quanh trong làng. Chỉ có một con đường chính, qua khu công viên có xích đu cầu tuột cho con nít, rồi đi ngang sân nhà thờ có chuông đổ báo lễ mỗi sáng sớm, siêu thị nằm cạnh một dãy tiệm bán quần áo vật dụng linh tinh. Và sau đó, đi một vòng qua trường cấp một trở về nhà. Trên đường đi, hay khi ngồi nghỉ mệt trên chiếc ghế gỗ duy nhất trong công viên, chúng tôi cố gắng giúp bà nhớ lại những chuyện đã qua, mặc dù bà thường lạc đường trong đó, rồi mê mẩn không ra được. Tuy nhiên, không cần kể trực tiếp, mà chỉ qua câu chuyện giữa Hằng và mẹ, tôi đã hiểu phần lớn những gì ba người đã trải qua suốt hai mươi năm chúng tôi mất liên lạc. Dĩ nhiên chỉ là những mẩu kỷ niệm vui, chuyện buồn thì tôi phải đoán mò qua những gì không được kể. Có điều mừng là trong vài ngày ngắn ngủi, bà đã bớt lẩn thẩn một phần. Hằng nài tôi ráng ở nán thêm ít hôm nữa, nhưng tôi đành phải hẹn dịp khác, vì công việc không bỏ được.

Buổi chiều cuối cùng, trước khi từ giã, Hằng lại xào một đĩa trái su đặt lên bàn thờ. Tôi ngồi chống tay lên cằm, nhìn lên hình ông, bây giờ khuôn mặt trong bức chân dung đã trở thành thân quen hơn một chút. Tự dưng hình ảnh buổi sáng nơi camping hơn hai chục năm trước đột nhiên trở về cùng với những hồi ức nối tiếp nhau diễn ra trong đầu như một cuộn phim đang được xả bung ra. Chỉ có khác là giờ đây cả hai chúng tôi đã bước qua những rạo rực nóng bỏng ngày xưa. Căn nhà vắng lặng, đèn tù mù. Bà mẹ ăn xong chén cơm, than mệt, đã lên lầu ngủ sớm. Ngồi đối diện với Hằng giờ đây tôi nhìn rõ những sợi tóc bạc lòa xòa bên thái dương, và hai bàn tay gầy guộc nổi gân xanh. Tôi chợt lắc đầu như muốn xua đuổi những kỷ niệm trong quá khứ. Và tôi nghĩ vẩn vơ. Phải chi bố Hằng không thố lộ câu chuyện chôn dấu với tôi, thì biết đâu tôi và Hằng giờ đây đang ở một nơi khác, trong căn nhà khác sáng sủa, chúng tôi đang ngồi ăn và tâm sự về những ngày thơ ấu hay đang bàn tính về một vấn đề nào đó trong gia đình, lo lắng chuyện học hành cho con cái chẳng hạn. Nhưng chuyện phải chi đó đã không xảy ra. Hằng chợt nói, sau tiếng chép miệng, giọng xúc động lạ thường:

– Tí nữa Tâm về rồi. Hằng muốn là Tâm nên quên hết mọi chuyện ngày xưa đi.

– Hằng nói gì Tâm không hiểu.

– Nếu bố mà không nói thì Hằng cũng không hiểu. Không hiểu được lý do vì sao Tâm không muốn gặp lại Hằng nữa. Vì sao mà bên gia đình Tâm với bên này không còn thân thiết nữa. Lắm lúc Hằng không hiểu nổi bố. Phải chi bố đừng kể với Hằng gì hết. Có lẽ bố sợ khi mất đi thì cái bí mật đó sẽ bị chôn theo. Hằng là người thứ năm biết chuyện này, bố nói. Nhưng Hằng sợ là mẹ cũng biết, vì mẹ Hằng tự nhiên đổi tính ngay sau khi bố qua đời. Hằng sợ lắm, sợ nhất là những lần nghe mẹ kể thấy bố về trong mơ…

Tôi đột nhiên cầm lấy tay Hằng. Theo phản xạ. Như một cố gắng an ủi. Hai cổ tay mảnh dẻ, bàn tay lạnh giá. Nhưng cùng lúc đó, tôi biết một điều rất thật: chúng tôi đã thay đổi quá nhiều qua thời gian. Tôi không cảm được một rung động từ hai bàn tay đó. Những tình cảm trân quý chúng tôi dành cho nhau trong thời học sinh hóa ra chỉ là những rung động hời hợt hay sao? Hai con thỏ Tâm và Hằng, nếu có, chắc giờ này cũng mạnh con nào con nấy kiếm cỏ ăn riêng. Hằng để yên bàn tay trong tay tôi và nói nhỏ đủ cho hai người nghe:

‘Dù Tâm là con của ai thì đối với Hằng, Tâm vẫn là một người trong gia đình. Hằng luôn coi Tâm như một người anh lẫn một người bạn. Mình đã mất mát quá nhiều rồi. Mẹ thì không biết còn được bao lâu nữa. Hằng ở đây chẳng còn ai. Tâm về rồi nhớ thỉnh thoảng gọi cho Hằng một tiếng. Nhớ đấy nhá!’

Tôi hứa, nhưng sự thực trong lòng hoang mang. Gọi cho nhau, biết nói chuyện gì. Chẳng lẽ bảo Hằng bỏ nơi đó, về ở với tôi? Hay tôi sẽ dọn về nơi đây? Để làm gì mới được, khi trong tôi sự bốc đồng tuổi trẻ đã yên nghỉ. Chúng ngủ say thật rồi.

Lúc từ giã, Hằng ôm tôi rất chặt. Tôi cảm được Hằng đang khóc, trong khi tôi thấy má mình ướt. Chỉ tới khi xe lên tới đường xa lộ, tôi mới biết chắc chắn là mình không lạc đường một lần nữa.

***

Chiều hôm sau, Hằng gọi cho tôi hỏi thăm, tôi than:

‘Xui quá Hằng ơi, bữa qua về gần tới nhà rồi mà bị xe đụng…’

‘Chết! Tâm có sao không?’, giọng Hằng hốt hoảng.

‘Người thì không sao, nhưng cái xe chắc tiêu rồi. Mà mình lỗi, tới ngã tư nghĩ là đường vắng, xe nó ủi ngay đầu.’

‘Thôi, miễn là đừng có bị thương gì là mừng rồi. Phải chi Tâm nghe lời Hằng, ở lại thêm một đêm nữa. Sáng nay mẹ mới hỏi, Hằng nói là Tâm về rồi, thấy mẹ có vẻ buồn lắm…’

Mắt tôi chợt mờ đi và tôi tưởng tượng như là mình đang đối diện với người đàn bà sầu khổ kia, nửa cuộc đời sống trong bức màn tối bưng, đến khi hiểu ra thì hụt hẫng. Rồi tôi thấy lại mình đang trên đường về nhà. Tối hôm qua. Đường vắng. Tôi đang ôn lại những ngày ngắn ngủi sống với Hằng và bà mẹ. Tim tôi chợt nhói. Tôi vừa sực nhớ ra, bố Hằng người ta thường gọi là bác Mật, còn tôi tên Tâm. Trời ơi, cái dấu đó đã là một lời giải thích không cần nói ra, tại sao tới bây giờ tôi mới nhận biết? Nhưng ai đã đặt tên tôi là Tâm? Mắt tôi chết cứng trong tia nhìn về phía trước, không thấy chiếc xe đang lao tới từ bên hông…

Thế là, tôi tự nhủ, mình sẽ lại phải bắt đầu một cuộc tìm kiếm mới vậy. Nhưng có lẽ vô vọng. Bố Hằng đã qua đời, và tôi không thể trông mong gì ở bà mẹ. Tôi chỉ có thể hỏi ba má tôi, nhưng chẳng lẽ lại khơi dậy những gì ba má tôi đã nguyện chôn chặt. Mà cho dù tìm kiếm thêm, chắc gì những điều tôi biết là sự thực trăm phần. Ngay cả câu chuyện bố Hằng kể, có chắc gì là ông đã không dấu những chi tiết ông không muốn nói? Nếu hỏi, có lẽ ba má tôi sẽ có một câu chuyện hơi khác. Tôi chợt hiểu ra, suốt đời ta chỉ sống với cái bóng của Sự Thật. Và mỗi lần thấy cái bóng mới, ta tưởng rằng Sự Thật đã được phơi bày, nhưng rốt cuộc nó vẫn chỉ là Cái Bóng mà thôi. Còn chữ Phải Chi, không bao giờ ta có thể rút lại. Có tiếc nuối cũng đành chịu.

Nguyễn Hiền

bài đã đăng của Nguyễn Hiền


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)