Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Angkor Môn



Xe chạy xuôi nam về hướng Biển Hồ (Tonle Sap). Thiện, không có Thắm đi theo, người nhẹ nhỏm thấy rõ. Lại còn gió và nắng và cây cỏ. Gió mỏng, nắng trong, cây cỏ xanh non, hơn bên xứ mình. Những mái nhà nâu ẩn nhẫn, buông xuôi. Thỉnh thoảng hiện ra những ngôi chùa, chùa nào cũng mới, vàng huy hoàng, màu sắc tinh tế, điểm xuyết kỹ càng, mái vút lên trời, như kiệu hoa kiệu những nường apsara từ trời vừa đậu xuống. Chỉ có mái chùa là vui. Trâu gặm cỏ, nhìn ngu ngơ ven đường, quanh những phế tích. Những đứa trẻ chăn trâu quần áo xốc xếch, đội nón tơi lá.

Khi xe xuống bến ghe, đám trẻ bâu lại xin tiền, những làn da nâu, những con mắt chao chao nỗi buồn. Thiện kiếm tiền lẻ để cho. Có người nói: “Anh cứ cho tiền như thế, tụi nó đã lười đâm lười hơn. Cha mẹ chúng cũng vậy; đôi khi còn có bọn tổ chức ăn xin. Làm cản đường, cản lối!” Nếu Thắm cùng đi, gặp cảnh này, chắc nàng cũng sẽ đồng tình với những lời lẽ khôn ngoan đó. Thắm xem ra khôn ngoan, cái gì cũng khôn. Mà Thiện lại không thích khôn. Khôn cũng mệt. Khôn kiểu người mình lại càng mệt. Thiện không thích mệt mỏi để được tiếng khôn ngoan.

Tàu chạy dọc kinh dẫn ra khu Làng Nổi Việt gần Biển Hồ. Hàng hàng lớp lớp dừa nước vươn vươn sức xanh mới mới. Mênh mông những đước là đước xum vầy, an ổn. Chỉ có đước và dừa nước tự chữa lành vết thương chiến tranh, khổ đau mau nhất. Những dãy nhà nổi xanh xanh hai bên sông nước đục. Những chậu bông giấy hào hoa, bông thọ vàng ươm trong lon thiếc han rĩ, những bàn thờ thiên sơn màu đỏ chao chao. Trẻ em nói cười, có đứa đang lội dưới sông người đen bóng, nhăn răng cười trắng nhỡn, có đứa đang ngồi chò hỏ đút cơm cho em, có cả những đứa đang ê a đánh vần, có đứa nằm chổng mông tập viết, tập đồ trên sạp ghe. Có cả trường học nổi, a bờ a ba, e bờ e be, công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, trong trẻo, tin tưởng vào mình, vào gia đình, vào thế giới đang quanh mình, sẽ đến với mình, như từ bất cứ trường mẫu giáo nào trên trái đất này. Có cả ngôi nhà thờ đang gắng khẳng định mình trên sông nước chông chênh, ghe qua xuồng lại. Những người đàn bà, những đàn ông khô héo bập bềnh trong im lặng đông đặc dưới vành nón lá bung vành. Những người già thân mỏng thấp thoáng như có như không.

Tàu chạy tới khúc kinh có quán nổi thì ngừng cho du khách lên xem dân tình và xem những nơi quanh quán nuôi cá sấu, nuôi rắn cho các cao lâu, riêng rắn còn bán cho các công ty duợc phẩm để lấy nọc độc làm thuốc. Tàu vừa trờ đến, những đứa trẻ người Việt ngồi trong những chiếc thau nhôm, nhựa đủ màu chèo ào ào lại xin tiền: “Cho con một đồng (đô la) đi chú.” “Cho con vài đồng ăn cơm.” Thiện cho mỗi đứa vài ngàn tiền Miên. Có đứa cảm ơn, có đứa ra vẻ tức tối. Thiện thấy có con nhỏ áo xanh chèo xuồng tới, mà chưa thấy xin. Con nhỏ khoảng mười lăm, mười sáu tuổi, mặt đẹp, môi đỏ, da trắng hồng không thua gì những đứa con gái Việt kiều bắt chước Lara Croft đu rể cây đa, bắn súng giả, cười đùa trong khu đền Angkor Thom sáng nay. Con nhỏ áo xanh cứ chèo xớ rớ, xem ra không tranh lại với mấy đứa con trai xông xáo, to mồm. Thiện kêu nó lại, nhìn chăm nó một lúc, rồi loay hoay móc bóp, cúi người về phía xuồng và từ tốn đưa cho con nhỏ nguyên tờ 100 đô. Có thằng nhỏ cụt tay, chèo xốc tới, trợn to đôi mắt sắc quét qua tờ đô la con nhỏ đang luýnh quýnh cầm trong tay, hét lớn:

“Ông Việt kiều dê con Hai Ngân, ổng cho nó 100 đô lận, tụi bay ơi.” Mọi người xôn xao, đám ăn xin, những người bán quán, những người ngồi quán và cả những du khách người Việt.

***

Chiếc tàu chở khách du lịch, sau khi ra giữa Biển Hồ, quay về và bất thường ghé lại bến Cá Sấu lần nữa, để cho Thiện lên bến một mình theo yêu cầu của Thiện.

Lúc nãy, khi tàu ra tới giữa Biển Hồ, Thiện như bị mê hoặc bởi cái mênh mông chân trời góc bể trắng lóa; cái mênh mông trắng ấy có thể xóa tan, dù trong chốc lát, bao nhiêu hệ lụy nhân sinh và khoác vào con người chiếc áo mới và sạch; khi tỉnh ra, người ta thấy mình chưa thỏa. Cuối cùng trong khi những người khác lao xao chụp ảnh, Thiện nói nhỏ với anh hướng dẫn người Hoa, người mà Thiện đã nói chuyện nhiều lần trong chuyến đi, đi tới chổ tương đắc, vì qua chuyện trò, cho thấy anh là người có văn hóa cao:

“Này anh, ra tới đây, tự dưng tôi không muốn về ngay Xiêm Riệp với đoàn và đi tiếp qua Phnom Penh. Nhờ anh nói với bạn gái tôi, cô Thắm, là tôi sẽ nán lại đây một thời gian. Anh đưa giùm cho cô ấy số tiền này và bảo như vậy.”

“Xin phép cho em hỏi: Sao vậy anh?”

“Hải giác thiên nhai nhất phiến hồng. (Chân trời góc biển chim hồng vút.)”

Anh hướng dẫn vừa cười vừa nắm tay Thiện: “Em hiểu tiên sinh rồi. Em sẽ thu xếp ổn hết.”

Khi Thiện bước xuống bến, mấy người làm trong quán, nhận ra ngay ông Việt kiều lúc nãy, có kẻ ngạc nhiên:

“Sao chú không theo tàu về Xiêm Riệp?”

“Ghé lại đây chơi thêm một chút.” Và Thiện cười cười: “Mà cũng có thể ở lại đây luôn.”

“Thiệt hay giỡn vậy chú? Ở đây buồn thiu có gì mà ở?”

Có tiếng của thằng nhỏ cụt một tay đang chèo thau từ dưới kinh vang lên:

“Ổng dám ở lại đó chị Hai ơi. Ổng tính dê con Ngân đó. Hồi nãy ổng cho nó 100 đô lận, còn tui tàn tật, ổng chỉ cho một đô hà!”

Cô chủ quán đỏ rựng mặt, cũng cố quát ngang:

“Đừng nói bậy nghe Tư cụt!”

Thiện không nói năng gì. Anh đi loanh quanh xem cá sấu, nhìn rắn, rồi ngồi nhìn sông nước, thuyền bè xuôi ngược, du khách lên xuống, cuối cùng anh đi ra phía sau quán, nơi có mấy chiếc ghe có bàn thờ thiên đằng mũi đang đậu. Riêng chiếc ghe gần quán nhất có vẻ sạch sẽ, phần đầu ghe có hai dãy cây trường sinh hoa đỏ, hoa vàng, hoa trắng, lá to, lá nhỏ, lá xanh, lá đỏ, lá nâu, trồng trong những chậu sành vân xanh, và đầu mũi ghe, thay vì bàn thờ thiên như những thuyền chung quanh, là một tượng nữ thần đen gầy, khô kiệt, đau khổ tận cùng, vú vê teo xệ, rắn cuộn trên đầu, thòng trên người, cuốn dưới chân cắn, hút da thịt bà, đã thế, bà còn đeo nguyên vòng sọ người quanh cổ, dưới chân còn nhiều sọ người khác, trên tay còn cầm hai tay hai sọ nữa. Thiện ngắm chiếc thuyền lạ một lúc lâu. Chủ ghe là một người đàn bà. Bà đang ngồi trong khoang tối giữa nhìn ra, thấy người đàn ông sang trọng, bà nhìn ông đăm đăm, như thể nhìn mà không biết mình đang nhìn, rồi bà giật mình, vào lôi trong rương ra chiếc khăn rằn Miên đen trùm lên đầu, rồi ngồi thừ suy nghĩ, cuối cùng mới hắng giọng, và lên tiếng:

“Mời anh xuống ghe em chơi một chút cho biết.”

Cùng lúc đó chị chủ quán thẩm thọt:

“Ghe nhà bà Ngọc, mẹ con nhỏ chú cho tiền đó!”

Lại tiếng thằng Tư cụt:

“Hồi nãy tui nói đâu có sai, mà chị lại la tui!”

Còn Thiện, Thiện hơi có vẻ bối rối, lẩm bẩm:

“Thiệt bực mình! Chuyện không đâu, thích phiêu lưu một chút mà tùm lum chuyện” Và Thiện hơi chột dạ, nhưng cũng đáp liều: “Vâng, cảm ơn.”

Thiện bước lên tấm ván chênh vênh bắc từ quán sang ghe. Vẫn chưa thấy người đàn bà ra đón, chỉ thấy đôi mắt sáng từ trong khoang tối, và tiếng bà ta lại vọng ra:

“Mời anh vào đây.”

Lại thằng cụt:

“Ông Việt kiều dê luôn bà Ngọc tụi bây ơi!”

***

Theo huyền thoại, các vương triều cổ Khơ Me bắt đầu từ việc phối ngẫu giữa một vị hoàng tử Ấn bị vua cha bắt đi đày khỏi kinh đô Đề Ly, với một người đàn bà rắn con gái của Vua Rắn Hổ Mang Khơ Me. Cô nàng lộng lẫy hiện ra trước mặt chàng, uốn éo trên bãi cát nơi chàng đang đóng trại qua đêm. Chàng ta lấy nàng làm vợ, và Mãng Xà Vương đó hút khô nước tạo nên đất đai, và ban cho phò mã từ xứ Ấn vùng đất mới đó, gọi là Cambuđa và xây cả thủ đô cho chàng.

Nhưng theo bi ký ở Mỹ Sơn, Việt Nam, chồng của người đàn bà rắn đó lại là một người Bà la môn tên Kaunđinya, dòng dõi Suryavamsa: dòng dõi Mặt Trời. Chàng ta đã ném cái lao thần, và lao đã cắm xuống kinh kỳ ở đó dòng dõi Somavamsa: dòng dõi Mặt Trăng, đang trị vì.

Một huyền thoại khác: Ông hoàng Kambu, dòng dõi Mặt Trời, đã lấy tiên nữ Mera, dòng dõi Mặt Trăng, từ đó có tên Kambuja – con trai của Kambu – trở thành tên nước của người Khơ Me.

Riêng quần thể đền thờ Angkor mà thôi rộng 300 cây số vuông, nhưng toàn vùng văn hóa cổ này rộng tới 500 csv – trong số đó là 100 csv, từ Biển Hồ cho tới dãy đồi Kuken vốn là một vùng phố xá – làm thành một thành phố rộng nhất trước thời đại kỹ nghệ của nhân loại. Thành phố lớn được thiết lập ở Angkor, không vì mục đích văn hóa, tôn giáo, nhưng vì tiềm năng nông nghiệp, bởi Angkor nằm trên vùng đất trủng lớn với Biển Hồ và dãy đồi Kuken vây quanh, và nó được tưới, tiêu bởi những phụ lưu của sông Xiêm Riệp. Người Khơ Me đã xây dựng một loạt những bể chứa nước, đê điều lớn, hệ thống kinh rạch, và cùng với Biển Hồ, điều hòa, cung cấp nước cho ruộng vườn vào mùa mưa, cũng như mùa khô.

Khu Angkor được xây dựng từ năm 879 – 1191, và vương quốc Khơ Me đã hiện diện ở đó từ 802 -1431. Thời gian các đền thờ được xây cũng là thời gian cực thịnh dưới thời hai vua Suryavarman II và vua Jayavarman VII. Vương quốc trải dài từ Nam Việt Nam qua Lào, Miến tới Vân Nam, Trung Quốc, và từ biên giới phía tây Việt Nam tới vịnh Bengal. Vua Jayavarma VII, có lẽ vì phung phí tài sản quốc gia tới mức khánh kiệt để xây cất đền thờ, đã làm cho dân bất mãn, và cũng vì đó hệ thống dẫn thủy nhập điền không được tu sửa. Có thuyết còn cho rằng vì động đất phá vỡ hệ thống đê điều, và tạo nên lũ lụt tràn ngập khu Angkor, do đó tàn phá môi trường sống và bệnh dịch bộc phát. Ngoài ra, cuối thế kỷ thứ 13 tới đầu thế kỷ thứ 14 dân Khơ Me từ Ấn giáo chuyển sang Phật giáo tiểu thừa; như thế, người cai trị phải tìm ra những biện pháp mới để thống nhất lòng dân và cai trị họ, và dĩ nhiên phải có đối kháng. Trong khi có những thay đổi như thế, các lân bang cũng mạnh lên và họ bắt đầu tấn công Angkor. Cuối cùng năm 1431, vua Thái Ayuttaya bao vây và chiếm được Angkor sau sáu tháng bao vây. Năm 1432 người Khơ Me dời thủ đô về phía nam, nhưng đế quốc Khơ Me không bao giờ có được cái vinh quang thủa trước.

Riêng đền Angkor Wat có hình chữ nhật kích thước 1500m x 1300m, với vòng hào rộng 190m, chiếm tới 200 hecta. Đây là đền lớn nhất trong nhóm đền Angkor và nằm phía Nam của khu đền chính Angkor Thom. Ngoài ra còn có một hệ thống cung cấp nước cho thành phố Angkor phân nhánh ra ngoài thành phố, dài từ 20 tới 25 km. Và mới đây, một nhóm nghiên cứu quốc tế đã chụp không ảnh bằng rađa và khám phá thêm được ít nhất phế tích 74 đền thờ và hệ thống kinh rạch được qui hoạch công phu, bị chôn vùi trong khu rừng chung quanh khu Angkor hiện tại; toàn thành phố Angkor xưa chiếm một diện tích tới 3000 csv, rộng cỡ thành phố Los Angeles…

Thiện ngồi trước mũi ghe đọc những thông tin như thế về Angkor, sau khi trò chuyện với Ngọc một lúc lâu đủ mọi thứ chuyện ở Biển Hồ: về những người Việt mà cuộc sống khổ cực, càng ngày càng khổ chẳng những vì cuộc sống lênh đênh vốn khổ mà còn vì cá ít dần, vì chính sách của chính phủ trung ương lẫn địa phương gây thêm khó khăn cho họ. Nhưng có điều lạ: đa số người quay trở về Việt Nam, lại quay trở lại đây. Họ nói người Việt trong nước vốn ác, nay còn ác hơn. Về những người già đang chờ chết trong đói khát, biết chắc mình sẽ không được chôn trên đất liền, mà sẽ bị bỏ bao, cột vào cọc đóng trong bãi đước. Về những đứa trẻ vất vơ với bố mẹ trên xuồng, đa số không biết chữ, ngoại trừ một số ít gần bến chính, nhiều đứa sống bằng xin tiền du khách. Con Ngân, con chị, hôm nay là người may mắn. Chưa bao giờ có ai cho nhiều như vậy ở bến Cá Sấu.

Con Ngân nghe tin ông Việt kiều xuống ghe nhà mình, nó chèo xuồng về ngay, và bây giờ đang loay hoay pha trà, mua bánh đậu xanh, chưng ra đĩa, và khép nép bưng lại cho Thiện. Nó vừa thay bộ đồ bộ mới hồng cánh sen, tay đeo cái vòng cẩm thạch không biết thật hay giả, nhưng xanh xanh như một mảnh thiên nhiên bình yên trên cườm tay trắng, lại còn đôi bông hạt ngọc trai (chắc là giả) hiền hậu, và ngồi khép nép trên góc chiếu hoa mới, còn thơm mùi cói được nắng. Ngồi một lúc, Ngọc sai Ngân chèo xuồng đi mua đồ ăn nấu cho Thiện ăn. Khi Ngân đi rồi, hai người bỗng rơi vào im lặng. Họ nhìn nhau và ngại ngùng. Thiện cố phá vỡ cái bầu khí thân mật chợt đến:

“Tôi thấy chị hơi lạ. Người ta ai cũng có bàn thờ thiên, còn chị thờ bà thần nào mà ghê vậy?”

“Đó là thần Từ Mẫu Chànanđà. Bà đã chịu những khổ đau rắn độc để cứu con mình, nhưng nào cứu được. Anh thấy đó xương sọ con bà…” – Ngọc rưng rưng nước mắt – “Bà là người Mẹ Khổ Đau của dân tộc Ấn, nhưng cũng giống bà mẹ khổ đau của bất cứ dân tộc nào: dân Khơ Me, dân Việt mình. Xem ra người mẹ dân Việt mình là đau khổ hơn cả, bao nhiêu loài rắn đã cắn bà.” Giọng Ngọc trở nên gay gắt, và đưa tay quyệt nước mắt: “Những vua chúa, những lãnh tụ, và cả những người đàn ông…”

“Tôi hiểu. Chị nói hay lắm.”

Ngọc lại triền miên:

“Ảnh bỏ mẹ con tôi đi từ lâu rồi. Hồi con Ngân còn nhỏ. Tôi bị thương nặng. May còn cứu được bào thai và sinh được con Ngân. Đẻ khó, phải giải phẩu.”

“Tội nghiệp! Mà chồng chị là người Miên hay người Việt?”

Ngọc ngập ngừng:

“Người Miên…”

“Ngoài con Ngân ra, anh chị có đứa nào nữa không?”

“Không. Ngân là con duy nhất của tôi.”

“Xin lỗi, cho tôi tò mò một chút. Thế chị ở đâu mà trôi nổi đến đây?”

Ngọc không nhìn vào mặt Thiện mà vừa nhìn mông lung ra sông tối vừa nói:

“Tôi từ ngoài Trung, đi thanh niên xung phong đóng ở Battambang, được mấy năm, tôi gặp và yêu một anh bộ đội. Rồi lỡ có thai với nhau. Sẽ bị kỹ luật, nhưng lúc đó chúng tôi nghĩ tới mình thì ít, nghĩ tới tương lai con thì nhiều, nên liều tìm đường đến Pallin để vượt biên qua Thái, nhưng mìn gài chằng chịt dọc biên giới. Ảnh bị trúng mìn, chết. Còn tôi bị thương nặng. Anh Thạch Sang, lúc ấy là đồn trưởng đồn biên phòng Kampuchia, đã cứu tôi, khó khăn lắm mới đưa tôi về Xiêm Riệp sống với người Miên với anh.”

“Ngoài Trung mà tỉnh nào?”

“Khánh Hòa.”

“Huyện nào, xã nào?”

Ngọc ngập ngừng:

“Quận Khánh… Nam…”

“Thôi quên đi. Tôi hỏi thế bởi vì thấy chị giống một cô bạn học thời thơ ấu của tôi, tên Thảo.”

Cả hai lại im lặng một lúc lâu. Thiện lại lên tiếng:

“Mà tại sao chị sưu tập cây sống đời, lại đủ loại vậy?”

“Anh Thạch Sang chồng tôi hồi đóng quân ở Pallin sưu tầm giống, rồi đưa về đây trồng, chúng vừa đẹp, vừa dễ trồng lại trị bệnh được. Trị bá bệnh.”

“Trị rắn cắn được không?

“Không, không, không.”

Hai người lại rơi vào yên lặng. Thiện chau mày nhìn xuống sạp thuyền. Ngọc nhìn ra ngoài khung cửa sổ thuyền tròn. Thiện dường như muốn cố gắng xua đi những rối ren trong lòng hai người:

“Tôi thấy ở đây đâu cũng có tượng rắn hổ mang đủ loại, đủ kiểu. Chị biết không khi từ cửa khẩu Mộc Bài vừa bước qua biên giới Căm Bốt, tôi thấy ngay tượng mặt thần rắn hổ mang, và dần dà tôi thấy người Khơ Me sao giống rắn hổ, nhất là mắt, đôi mắt họ hớp hồn tôi ngay? Tôi bị thôi miên vào thiên cổ Cao Miên. Tôi thấy đền đài Angkor là hình tượng của những con rắn hổ mang khổng lồ ngóc đầu, trương vi, trương vảy. Trong đôi mắt của những người Miên mà tôi gặp hiện lên những Angkor như thế. Rồi hàng trăm ụ tháp đá mặt người ở đền Bayon, trong khu Angkor Thom, cũng chỉ là những chiếc đầu rắn hổ khổng lồ mang mặt người, dù đó là mặt mang nét mặt Phật Bà Quan Âm pha lẫn với nét mặt vua Jayavarman VII đi nữa. Cái không khí đền đài nằng nặng, thâm u của màu mắt rắn, và màu mắt rắn ấy vẫn còn ngự trị quanh Đất Nước này.”

Mặt Ngọc bỗng u ám lại, miệng móm hình tam giác, và hơi thở khò khè như đang lên cơn suyễn nặng.

Thiện hoảng hốt:

“Chị sao vậy?”

Ngọc thì thào:

“Tôi tức ngực quá. Chỉ uống ly nước lạnh và đắp lá sống đời… à không… lá ớt… lên ngực là tôi đỡ ngay… Mà thôi, anh cho tôi ly nước lạnh cũng được, rồi tôi nằm nghỉ một xíu là khoẻ à!”

Thiện chạy ra ngoài lu múc ly nước mưa đưa cho Ngọc:

“Chị uống rồi nằm nghỉ. Tôi qua quán kiếm ly cà phê.”

Ngọc đưa tay cầm tay Thiện, run rẩy:

“Anh, anh đừng đi, em sợ. Anh ở lại với em.”

Và Ngọc nằm xuống trên chiếc chiếu hoa mới, chỗ Ngân ngồi lúc nãy. Ngọn đèn lay lắt, không đủ để cho Thiện thấy giọt nước mắt đang lăn trên má vừa hồng.

Thiện nán lại, ngồi đằng phía cửa ra vào, xa nơi Ngọc đang nằm, nói là xa, nhưng chẳng xa gì cho lắm trong lòng thuyền chật hẹp. Tiếng muổi vo ve bây giờ mới nghe, cả tiếng sóng lép chép mạn ghe, và tiếng ai đó thuyền bên đang khấn vái thầm thì.

Khoảng nửa tiếng sau, nghe con Ngân chèo xuồng về. Ngọc ngồi ngay dậy, vuốt tóc lại, và gọi vọng ra:

“Con đó à Ngân?”

“Dạ.”

“Sao lâu vậy?”

“Toàn cá nhỏ xíu không hà. Chờ mãi, mới có cá lớn.” – Ngân nói tiếng Việt hơi khó, và lơ lớ giọng Miên.

Ba người ngồi bên mâm cơm nóng, cơm trắng ngời trong bóng mờ mờ đèn con, nồi canh cá chua cá bông lau đủ mùi vị canh chua miền Nam. Thiện ăn xì xụp. Con Ngân cũng vậy nhưng vừa ăn vừa ngó chừng. Ngọc ăn cầm chừng, thỉnh thoảng gắp cá, chấm nước mắm bỏ vào chén Thiện. Thiện kể cho hai người nghe cảnh sống bên Na Uy. Những chuyện vui vui như ở đó người ta thèm nắng; nắng vừa lên là người ta vui, đi đâu cũng thấy những khuôn mặt mỉm cười, du khách mới đến cứ nghĩ là họ cười cảm tình với mình, nhưng không phải vậy, đừng tưởng bở. Chuyện đàn ông phải xách đồ cho đàn bà, đẩy xe đưa con đi chơi, cho dù có vợ bên cạnh, nếu không muốn mang tiếng là bất lịch sự. Chuyện đàn bà để ngực trần phơi nắng trong công viên, bãi tắm. Chuyện người ta câu cá rồi thả xuống lại… Ba người cùng cười.

Ăn xong, Ngọc lại nói thầm với Ngân, bảo Ngân đi đâu đó.

Thiện ngồi uống nước trà, đặt ly xuống, băn khoăn:

“Sống như thế này, lâu nay hai mẹ con lấy gì mà sống?”

Ngọc thở hắt:

“Cũng phải sống thôi. Hồi trước có bà con giúp đỡ, và em chèo xuồng bán chè bậy bạ, rồi cũng qua được. Giờ thì khó khăn hơn. Em chẳng bán buôn gì được nữa, ngoại trừ những lúc giúp cho cá sấu ăn, hay làm việc vặt cho con nhỏ chủ quán. Giờ Ngân nó lớn, nó ngày cứ chèo xuồng xin tiền du khách. Được cái nó trắng trẻo, nhiều người thương, nên cũng kiếm cháo được. Đi xin cả mấy năm nay, chỉ có hôm nay có anh là người cho nó nhiều nhất. Nó mừng run người anh ạ.”

“Chẳng qua lúc đó tôi hết tiền lẻ, mà thấy con nhỏ tội nghiệp quá, không cho không được… Mà tối rồi, tôi ra bến xem có cái tắc ráng nào không, tôi ra bến đầu kinh kiếm nhà trọ ngủ.”

Ngọc nhích nhích lại phía Thiện, chụp lấy tay Thiện:

“Em có cái nầy nói với anh. Mà anh đừng giận.”

“Thì cứ nói đi cái đã.”

“Hay là anh cứ ở lại đây với mẹ con em đi.”

“Tôi thì không sao, nhưng còn chị?”

“Kệ người ta, dân giang hồ tứ chiếng mà! Quan tâm gì cho mệt. Mình sao, có Trời biết.”

Rồi Ngọc nắm lấy tay Thiện, nắm chặt, và áp vào trán mình:

“Hay là… anh đã thương con em thì thương cho trót: em gã nó cho anh, anh đưa nó qua bển, mẹ con em đội ơn anh mãn kiếp.”

Yên lặng một lúc lâu.

Ngọc lại van vĩ:

“Đời em thì như vứt rồi. Còn đời con em. Anh không lấy, thì nó cũng lấy những đứa không ra gì ở đây, chưa tính là chuyện nó bị hiếp, nó bị hiếp mấy lần, may thoát thân được. Nó cứ ngồi im lặng nhìn anh, anh không thấy sao?”

Thiện nuốt nước bọt:

“Để tôi xem sao đã.”

“Xem gì nữa! Mà anh chưa có vợ, hay có vợ mà ly dị rồi phải không?“

“Chuyện đó không quan trọng. Nhưng con Ngân còn nhỏ tuổi, chưa được đâu.”

Ngọc cười:

“Vậy là anh ưng nó rồi phải không?”

“……” Trái khế cổ chao lên chao xuống. Thiện cười cười:

“Nó còn nhỏ quá mà, không được đâu.”

Ngọc xoa xoa vai Thiện:

“Nó vậy chơ nó mười tám tuổi rồi.”

“Vậy sao! Nhưng nó thế nào chẳng chê tôi già!”

“Anh mà già gì. Mấy thằng con trai ở đây dù mới mười tám đôi mươi mà đen như trâu thui, da dẻ lùi xùi, xình lầy bám vào từng lổ chân lông, tụi nó sao bằng anh được. Anh còn bảnh trai mà.”

Thiện gãi đầu:

“Mà chị nói vậy, chắc gì nó đã ưng tôi.”

“Sao lại không? Con em, em biết. Anh không thấy là nó về thấy anh, nó thẹn thẹn thùng thùng, thay áo mới, tíu tít nấu trà, mua bánh cho anh hay sao? Ở đây con nít lấy ông già hà rầm, huống gì anh, anh già tuổi, chơ anh đâu có già người.”

“Ừ, chuyện đâu còn đó. Nhưng đêm nay tôi không thể ngủ lại đây được.”

“Tùy anh. Mai anh qua sớm anh nhé.”

“Ừ, tôi sẽ qua sớm.”

Và Ngọc đưa Thiện ra bến Cá Sấu đón tắc ráng về bến đầu kinh.

Lên tắc ráng, Thiện còn nói vọng xuống:

“Mai mua cho tôi con rắn hổ mang, uống rượu chơi.”

.***

Cái làng nhỏ nơi Thảo và Thiện sống là một làng tương đối yên ổn trong suốt cuộc chiến. Những người di cư vào đó năm đầu, năm sau nhà ai cũng có bò, trong khi dân địa phương chỉ nuôi trâu. Nuôi bò sạch hơn nuôi trâu, mà lại có thể bán được, trong khi thịt trâu chẳng mấy ai ăn. Cày của dân địa phương là cày chìa vôi, cày một, vác đi vác về dễ dàng, còn người địa phương lại cày trâu, cày đôi nặng nề, cày xong phải để lại. Gánh chè xôi nước bà Năm Đá làng bên cạnh gánh thẳng vào xóm địa phương, không bao giờ ngừng lại ở xóm di cư làm chi cho mất công. Chuyện gán, bán lúa non ăn hàng là điều quái gỡ đối với dân xóm di cư. Có lẽ vì thế mà những ngôi nhà gạch quét vôi sạch sẽ, cao ráo thay dần những nhà vách đất, mái tranh ở xóm di cư, trong khi xóm địa phương những mái nhà dân tộc vẫn đời đời như thế với dân tộc. Dân di cư theo “ngụy”, theo “đế quốc” Mỹ, chống cọng, dân địa phương vào rừng, hoặc lén lút tiếp tế cho “tụi phỏng giái”. (Người di cư gọi mấy ông Việt Cọng nguyên văn như thế.).

Thảo, người con gái dân địa phương đó, học tới lớp nhất với Thiện. Thằng Đực người địa phương đánh Thiện, chỉ có con Hai Thảo là can được. Đánh nhiều lần và can nhiều lần. Cắp đôi cắp lứa Thảo với Thiện là chuyện đương nhiên, mặc cho thằng Đực bô bô: “Cái thằng Thiện đầu to, c. như con trùn đấc mà làm được c. gì.” Có bữa học xong, mấy đứa cùng lớp đi hái trái bình bát sau trường, Thiện bị rắn cắn, mấy đứa con trai hốt hoảng, nhưng Thảo bình tĩnh bảo Thiện nằm xuống, và đưa miệng hút ngay vết thương, nhổ ra, rồi bứt mấy lá sống đời nhai, đắp lên cho Thiện. Rồi biểu thằng Đực đưa tay giữ lá sống đời khỏi rơi khỏi vết cắn, nó chạy nhanh về nhà lấy xi ranh có chứa sẵn thuốc chống rắn mà chỉ có lính Mỹ, lính Cộng hoà mới có, chạy nhanh đến trường, đâm nhè nhẹ vào cạnh vết cắn, và bơm thuốc không nhanh, không hốt hoảng, nhưng bình tĩnh, từ từ. Vết cắn sau đó chỉ sưng lên chút đỉnh, rồi lành hẳn. Ba Thảo bày cho Thảo đó, Thảo nói như thế, khi mấy bữa sau đi học Thiện hỏi. Mẹ Thiện mừng. Hôm sau anh của Thiện đi lính thám báo trên quận ghé thăm nhà, mẹ Thiện kể cho anh của Thiện nghe. Anh ta đanh mặt lại, không nói gì. Mẹ Thiện bảo: “Mi không được làm chuyện thất đức, đã không báo đáp công ơn cho người ta được thì thôi.” Nhưng ngày sau cảnh sát chìm phục kích và bắt được mẹ Thảo đang gánh gạo, đường vào rừng, có cả thuốc tây, và bắt ngay mẹ Thảo. Ba Thảo đang đánh trâu chở be trong rừng, biết tin chạy vào rừng luôn.

Thế là bắt đầu những ngày khổ sở cho gia đình Thảo, một gia đình tương đối khá giả vì có ruộng nhiều, trâu nhiều. Mẹ Thảo được thả về, nhưng bà không thể thay thế được ba. Ruộng bán dần, trâu cũng vậy. Mà người mua ruộng, mua trâu của gia đình Thảo không ai khác hơn là ba của Thiện. Thảo không còn được đi học. Thiện ra tỉnh học. Thảo ngày ngày gánh đậu hủ đi bán. Gánh qua nhà Thiện, không bao giờ rao. Thiện về nghỉ Tết, nghỉ hè, nằm võng trước hiên đọc sách, Thảo gánh đậu hủ đi qua, Thảo nhìn vào, Thiện không để ý. Thiện đang mê đọc sách, vui với cuộc sống đang có, và với bước đường học vấn thênh thang đang mở ra trước mắt mình. Thiện không còn nhớ gì đến Thảo. Và vô ơn, chóng quên ơn là lẽ thường tình của tuổi trẻ. Nhưng Thảo không có được tuổi trẻ, nó đã lớn từ lâu, từ ngày còn học tiểu học với Thiện, và về sau càng già giặn, khi gia đình tan nát vì Thiện, chưa chắc là vì anh của Thiện tố, nhưng không phải là không hợp lý.

Rồi cách mạng thành công. Rồi ba Thảo trở về. Ông làm lớn trong công an huyện. Thảo làm lớn trong xã. Và tội lớn tày trời còn sờ sờ ra đó. Ba Thiện bị đi tù và chết trong tù. Anh của Thiện đi cải tạo mút chỉ. Thiện bị trói dẫn lên trại giam huyện. Hôm đó Thảo ra đứng trông theo, mấy đứa du kích, mấy đứa công an áo vàng (người địa phương) cười cười, đụ má đụ mẹ cái dân di cư. Thảo cũng mặc áo công an.

Thiện nằm biệt giam, tuyệt đối không ai được nhận thăm nuôi theo chỉ thị của giám thị gian ác, thâm hiểm Quảng, người Thanh Hóa. Nhưng bất ngờ ngày 28 Tết, Thiện lại nhận được một gói quà tay công an trẻ coi khu biệt giam lén đưa vào, khi buồng chỉ có Thiện: một một bịch thịt trâu, một gói trà, mấy cái bánh đậu xanh, và cuốn truyện ngắn của Maxim Gócki. Thiện mở ngay cuốn sách, nhưng thấy trang đầu ghi tựa đề cuốn truyện, bị xé đi, và trang vốn liền với trang bị xé, rớt ra. Chắc người gởi, viết gì đó nơi trang đầu nên bị (những) kẻ trung gian xé. Tay công an đưa gói quà mà hằm hằm, như thể phải làm một việc hắn bó buộc phải làm.

Thiện ở tù năm năm mới về. Về, làng đã (bị) vào hợp tác xã trăm phần trăm, tiêu điều và đói hơn xưa, đói nhiều. Cách mạng thành công; vượt biên trường kỳ; từ giả hợp tác, đi. Có người vui lớn, vì người nhà đã đi lọt, có người buồn vì chính mình còn vẫn phải ở lại, phải vào tù. Khổ người trong, khổ cho người ngoài. Dân địa phương vẫn cờ đầu cho những công trình thủy lợi ruồi bu. Dân di cư, bị bắt, bị đánh, bị bắn, vẫn luồn lách như chạch, tiếp tục ba lốc vượt biên.

Thảo sau đó nghe nói đi học trường đảng, rồi đi thanh niên xung phong qua mặt trận Tây Nam (Kampuchia). Đi mãi không về, kể cả sau khi quân cộng sản Việt Nam đã rút hết về nước.

Thiện vuợt biên tiếp, và lọt.

***

Thiện ở lại thuyền của Ngọc – Ngân một tuần rồi trở lại Việt Nam để về Na Uy. Chỉ ba tháng sau đã bảo lãnh được Ngân sang.

Thiện lấy Ngân vì Ngân xinh đẹp, trẻ măng thì cũng đúng, hay vì con nhỏ hiền lành, quê mùa cũng không sai, bởi Thiện quá ngán những người đàn bà trí thức ta đây, lắm chuyện, mà thường là chuyện hởm hĩnh. Nếu nói về hạnh phúc lẫn nỗi khổ của một người đàn ông năm mươi lấy cô gái mười tám xinh đẹp như Ngân, thì phải cần mấy trăm trang nữa mới kể đủ. Nhưng nói chung chung thì như ông bà ta xưa nói vẫn đúng: Chồng già, vợ trẻ là tiên trên đời; tiên cho cả hai chứ không phải chỉ cho mình Thiện, vì Thiện là dân thể thao, cao ráo, lực lưỡng, da chưa nhăn, tóc còn đen, lại ở một đất nước, ở đó người ta quan niệm tuổi năm mươi mới là tuổi đáng sống. Có những lúc cuồng nhiệt chuyện vợ chồng, nhưng cũng có những lúc Ngân nằm co lặng yên, mềm mại, lười lĩnh trong lòng Thiện khi Thiện đọc sách; nàng Triệu Vân mười sáu của Bạch Cư Dị cũng miêu khả tú đến thế là cùng. Nhưng hàng ngày cô nàng rất ít chuyện trò với chồng mình, có lẽ vì cô nàng biết rất ít tiếng Việt. Tuy nhiên những lúc nói chuyện điện thoại với mẹ, Ngân líu lo tiếng Miên với mẹ. Hai người nói với nhau rất lâu. Ngân đi học tiếng Na Uy, nói lỏm bỏm, rồi nhờ ông Johanson, người láng giềng rất tốt của Thiện, giới thiệu Ngân với con, cháu ông, Ngân mới ở một năm mà đã nói tiếng Na Uy khá giỏi. (Ông Johanson, tuy là người Na Uy, nhưng đã tình nguyện tham gia quân đội Mỹ sang tham chiến ở Việt Nam, và sau đó chuyển qua làm cố vấn cho chương trình xây dựng nông thôn. Ông luôn nhớ tới xứ sở ấy của nụ cười. Nay ông đã về hưu, con cái đã lớn và ra riêng cả, kể cả cô gái út xinh đẹp Anna vẫn hay ghé qua nhà Thiện chơi những khi đến thăm cha mẹ cô và rất thích ăn cơm Việt Nam Thiện nấu.) Rồi Ngân đi làm trong siêu thị. Và bắt đầu ăn mặc theo tuổi trẻ. Ngân đã đẹp, lại đẹp hơn. Ngân vui với cảnh sống mới trong đất nước mới. Bạn bè mừng cho Thiện và bảo Thiện may mắn lắm, ở Na Uy chỉ có nước lấy mấy bà sồn sồn 50; mà lấy đàn bà Tây 50 thì lấy bà nội Việt Nam còn hơn.

Ngân định cư được ba năm, thì được phép định cư vĩnh viễn. Ngân gọi điện thoại về cho mẹ mình. Ngọc mừng lắm. Mấy hôm sau, Ngọc lại kêu Thiện về thăm lại Angkor, vì người ta mới khai quật được nhiều di tích mới trong rừng quanh khu Angkor hiện tại, không thấy nói năng gì đến Ngân con mình. Lúc ấy cũng vào dịp nghỉ Đông, ông bà Johanson, dự tính qua nước Băng Đảo xem cảnh và nhất là tắm suối nước nóng lộ thiên giữa mùa đông tuyết trắng, và rủ Ngân, Thiện đi. Có gia đình mấy người bạn của ông bà Johanson cùng đi. Ngân rất vui, xin phép Thiện đi Băng Đảo, không có vẻ háo hức gì chuyện về thăm quê, trong khi Thiện lại thích đi Angkor hơn.

Anna biết Thiện đi, nhân tiện cũng sẽ đi với Thiện qua Căm Bốt, để xem xét tình hình thực tế của một số trẻ em mà chương trình Plan trợ giúp, để trợ giúp các em có hiệu quả hơn. Ngoài ra lần này, sau khi nghe Thiện nói về tình trạng các em bé thất học ở Biển Hồ, cô đã quyên góp được một số tiền từ những người quen biết, để đến đó dựng thêm một ngôi trường nhỏ như gợi ý của Thiện từ lâu.

Anna đến là mê ngay Angkor và Biển Hồ và vui vì có dịp thực hiện được dự định từ thiện ý nghĩa. Anna và Thiện cùng đến thăm Ngọc. Ngọc có vẻ đầy đặn, tươi tốt ra, và Ngọc cũng mới chuyển qua ghe mới mua, lớn, khang trang hơn, có treo những đèn lồng đỏ, mùng màn đôi trắng tinh, làm người ta có cảm tưởng đang ở trong thuyền hoa của một thuở nào Đường thi. Anna cứ trầm trồ mãi. Anna hay cầm tay Thiện khi đi với Thiện như những ngày anh ở gần nhà với ông bà Johanson, mà cô đến thăm, hay tiệc tùng. Rồi hai người lại vội trở lại Xiêm Riệp để có đủ thời giờ xem kỹ Angkor theo sơ đồ hướng dẫn trong cuốn La guide d’Angkor: les monuments du groupe d’Angkor của Maurice Glaize. “Con Ngân không về cũng phải, anh bận bịu như thế kia!” Ngọc có lúc kéo Thiện ra, háy Anna, và nói riêng như vậy.

Coi xong Angkor, và dựng xong ngôi trường nổi, Anna đi qua Thái chơi. Thiện vẫn ở lại khách sạn ở Xiêm Riệp, thỉnh thoảng đến thăm Ngọc. Ngọc, cơn đau lại tái phát, có vẻ trầm trọng hơn lúc trước: oằn người, rên như rít, xùi bọt mép, tay cào. Thiện muốn đưa đi bệnh viện, nhưng Ngọc không muốn. Thiện đi thăm dần phế tích các ngôi đền nhỏ mới phát hiện, và sung sướng, say mê đọc văn bia bằng chữ sankrit vệ đà hoặc chữ pali, phần thưởng sau những năm chuyên cần học.

Nhưng hôm hăm tám, tháng Chạp, Thiện đến thăm lần nữa, thì Ngọc đã khoẻ và chuyện trò bình thường. Thiện bảo là Thiện sau Tết sẽ trở lại Na Uy, và tính chiều ba mươi vào đọc bia ở ngôi đền Wat Phu thờ thần hủy diệt Siva mà người ta hàng năm thọc tiết trâu tế thần, và rảy máu xuống đất để cầu cho trúng mùa, và luôn thể anh đóng trại đêm ở đó đón giao thừa. Ngọc ngỏ ý muốn Thiện ở lại đón giao thừa với Ngọc ở Biển Hồ, hay đi với Thiện cũng được và hướng dẫn Thiện đến đó luôn. Thiện ngần ngại, và khéo léo từ chối: anh thích ở một mình đêm giao thừa, một thói quen anh vẫn giữ từ nhiều năm nay.

“Anh có đón một mình đâu, anh đón giao thừa với nữ thần gì đó kia mà! Anh coi bức tượng đá hơn Ngọc sao? Ở lại với Ngọc đi!” – Mắt ngọc long lanh đuốc đền, và lê lại trước mặt Thiện, Ngọc đưa hai tay nắm tay anh, áp vào má mình, giọng lao khao, lao đao:

“Em là Thảo ngày xưa đây anh. Anh đã nói đúng: Em là Thảo.” Thảo-xưa đưa tiếp tay Thiện đặt trên ngực mình: “Hãy cho em một chút tình yêu. Em đã đau khổ nhiều.”

Thiện vẫn để tay cho Ngọc nắm, Ngọc đặt.

“Anh ơi, giá mà ngày xưa con rắn nào đó đừng cắn anh.”

Thiện lôi tay ra:

“Mọi sự đã muộn màng rồi. Đã có vay có trả, dù có thể bị trả oan. Và giá mà lúc trước Ngọc nhận Ngọc là Thảo xưa, thì chiều hướng biết đâu đã khác. Bây giờ tôi không muốn sa vào sự sắp đặt nào hết của Ngọc.”

“Tôi làm sao sắp đặt được. Số mệnh đã sắp đặt hết.”

“Ví dụ?”

“Chuyện con rắn trong bụi bình bát năm xưa.”

“Tôi không tin vào số mệnh, nhưng tôi sợ sự sắp đặt của con người.”

Ngọc ôm mặt khóc lớn:

“Anh bao giờ cũng vô tình đến độ tàn nhẫn với tôi như vậy. Con tôi chắc cũng sẽ khổ vì anh.”

Thiện chưa kịp phản ứng, Ngọc đã bặm môi, chùi nước mắt, nói, giọng giống như giọng Ngọc ra lệnh cho thằng Đực hôm Thiện bị rắn cắn:

“Anh đi đi, kẻo trời tối.”

***

Sau Tết có mấy anh sinh viên người Pháp đến đền thấy Thiện chết trần truồng, nằm sấp, mặt gục xuống trong ngôi đền hoang kể trên, mà trên tường có các bức chạm nổi lớn cỡ người thật các nàng apsara vú vê thánh thiện, đĩ thỏa, ngây thơ, nham hiểm có đủ.

Người Việt ở bến Cá Sấu bàn tán xôn xao về cái chết của Thiện. Phần nhiều thương cho ông Việt kiều tốt bụng.

Nhưng có bà già, mắt hấp háy:

“’Tượng thờ dù đổ vẫn thiêng/ Miếu thờ bỏ vắng vẫn nguyên miếu thờ.’ Chốn tôn nghiêm ai đời lại làm cái chuyện tồi bại như vậy, mà lại với thần, với thánh.”

Hay như chị bán quán:

“Bà Ngọc sau này có tiền Việt kiều, phởn phơ béo tốt, mà mặt đi đâu cũng đăm đăm như sợ ai xin hết của.”

Ông chủ nuôi cá sấu:

“Không phải đâu chị quán à. Chắc chị ta có chuyện buồn. Chiến tranh, đau khổ chất chồng.”

Có ông già có vẻ nhà nho, đang ngồi nhâm nhi nước trà, thở dài: “Can qua, thiên địa còn phải lệch, huống gì phận nữ nhi.”

Nhưng thằng Tư cụt vẫn nổi đình nổi đám nhất:

“Cái lão Việt kiều già dịch: Chơi bà Ngọc, chơi con Ngân, lại còn đưa bà Mỹ về nháng. Chết là đáng đời.”

Một tuần sau, có chàng luật sư trẻ, xuất sắc của hãng bảo hiểm Na Uy mà Thiện mua bảo hiểm, cũng là bồ mới toanh của Ngân, sang Xiêm Riệp điều tra, cho biết rằng ngay hôm phát hiện ra xác Thiện bác sĩ pháp y xác định là Thien Van Nguyen đã bị hai con rắn hổ cắn. Và cảnh sát cũng cho biết là không biết bằng cách nào chúng đã chui vào được lều chuyên đi rừng nhiệt đới của đương sự và cắn đương sự, dù đương sự chắc chắn phải kéo kín màn cửa lều và cửa mùng lại để ngủ, bởi ở đó rắn rít nhiều và muỗi thì như trấu vãi, và đương sự đã cẩn thận xịt thuốc xua rắn rít với nồng độ cao quanh lều. Ngoài ra còn thấy có nhiều dấu chân quanh lều, chứng tỏ đương sự hốt hoảng vùng thoát ra ngoài, rồi chạy vào đền sát lều. Và có điều lạ là đương sự chết gục ở trong đền, trần truồng, nằm sấp, gục mặt trước các apsara, trong tư thế của nghi lễ tạ ơn theo kinh Rịg-Veda – một giáo sư Ấn độ học ở Phnom Penh nói như thế. Trái lại hai con rắn hổ mang ấy, mãi tới khi cảnh sát đến, vẫn còn khoanh tròn trong lều, núc ních, bóng lưỡng.

Người ta còn kiếm thấy được cuốn sổ dày cộm của Thiện ghi các văn bia trong các ngôi đền khác nhau mà anh đã đến xem, và các trang anh dịch những văn bia đó, trong đó có một câu sấm, có ghi rõ là từ tấm bia trong ngôi đền vừa kể được anh dịch thoát bằng câu ca dao như sau, và được gạch đỏ mấy lần làm như đắc ý lắm: Đàn ông nông nổi giếng khơi/ Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.

Oslo, 16 XI 2008

Nguyễn Văn Thà

Chú thích:

*Viết xong truyện, trong đầu người viết vọng lên mấy câu đầu bài Tạ Ơn của Trịnh Công Sơn, như vượt thoát khỏi Angkor Môn:

Dù đến rồi đi tôi cũng xin tạ ơn người, tạ ơn Đời, tạ ơn ai đã đưa em về chốn này, tôi xây mãi cuộc vui.
Dù đến rồi đi tôi cũng xin tạ ơn người, tạ ơn Đời, tạ ơn ai đã cho tôi còn những ngày ngồi mơ ước cùng người.

**Những thông tin về Cam Bốt, và quần thể đền Angkor, đa số được lấy từ cuốn: La guide d’Angkor: les monuments du groupe d’Angkor (Hướng dẫn thăm Angkor: những công trình thuộc nhóm Angkor) của Maurice Glaize. Bức hình apsara cũng vậy

clip_image002_thumb

Apsara, chạm nổi

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)