Trang chính » , Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975 Email bài này

Còn mùa hoa nào….

0 bình luận ♦ 11.02.2015

van_mucluc

Mục lục tạp chí VĂN, Sài Gòn, số 129, số đặc biệt thương nhớ Y Uyên

 

Y-Uyên chết ngày 8 tháng Giêng năm 1969.

Đúng hai muơi ngày sau tôi mới đọc thấy tin chia buồn của một vài người bạn viết trên Bách Khoa.

Đó là buổi chiều ngày 28 tháng Giêng năm 1969. Tôi và sáu người lính còn nằm tại BP 850.815 (Bản đồ Thạch Trại). Tôi lặng người đọc thêm một rồi hai, ba lượt mẩu cáo phó mà vẫn không tin rằng Y-Uyên đã chết.

Tôi buông cuốn sách xuống, ra thủ hiệu cho toán bố trí chu vi để dừng quân qua đêm và cố lấy bình tĩnh đọc thêm một lần cuối cùng bài tưởng niệm của Lê Tất Điều ở mấy trang sau. Đúng là Y-Uyên đã chết. Trời mây chì như xuống thấp hơn và tôi cũng đã bắt đầu tin rằng Y-Uyên đã thật sự vĩnh viễn xa lìa bạn hữu.

Một năm trước tôi gặp Y-Uyên trong quân trường Thủ-đức, qua sự giới thiệu của một người bạn cùng dạy học với anh ở Tuy-hòa. Lúc đó anh đang cho nhà xuất bản Giao-điểm in cuốn Ngựa Tía, và tôi chỉ lấy tư cách một người hâm mộ anh để nói chuyện, nhưng lâu dần, với không khi cởi mở của những ngày họp mặt tại Khối chiến-tranh chính-trị để lo tờ Bộ Binh – một nguyệt san do phòng Tâm-lý-chiến trường Thủ-đức ấn hành – chúng tôi ngày càng thân nhau hơn. Và chuyến về phép alpha 36 giờ, tôi đã ở lại chơi nhà anh hết 24 giờ.

Thực ra, anh không muốn viết cho tờ Bộ Binh một tí nào, nhưng tính anh vốn nể nang bạn hữu, nhất là với anh Lê Vĩnh Thọ khóa 26, và bọn chúng tôi Hoàng Khanh, Hoàng Lộc, Tô Đình Sự, Lâm Hảo Dũng, Nguyễn Hiếu Học, Nguyên Lăn Viêm…nên anh mới đứng ra nhận chức trưởng ban biên tập. Bảo là viết cho tờ Bộ Binh nhưng suốt thời gian thụ huấn ở quân trường, anh chỉ đóng vai một người đọc và chọn giúp bài với Trung Úy Bùi Duy Điển, người chịu trách nhiệm tinh thần trực tiếp của tờ báo. Thậm chí anh cũng không bao giờ ký bút hiệu Y-Uyên ở nguyệt san này.

Tuy tôi không ở chung đại đội với anh nhưng những giờ rảnh rỗi, nhất là vào sáng thứ bảy mỗi tuần, chúng tôi thường tụ họp xuống quán cà phê cô Vân, ở nhà bà Đại úy Q., quán cà-phê ngon nhất quân trường, nằm trong khu cấm sinh viên di chuyển. Những buổi cà-phê thường kéo dài và chúng tôi cũng thường thường là năm bảy tên cùng làm báo nên lai rai từ chuyện này sang chuyện khác mãi. Y-Uyên chỉ thích cà phê sữa, và anh uống từ tốn trong khi nghe nhiều hơn nói. Thỉnh thoảng chen vài câu khôi hài thật dí dỏm. Đúng như lời Lê Tất Điều đã nhận xét, Y-Uyên có một lối “tếu” rất tế nhị và bạn hữu thương mến anh nhất ở điểm này.

Y-Uyên rất thành tâm với bạn. Anh sẵn sàng cậy nhờ những việc cần thiết và cũng sẵn sàng giúp đỡ bất cứ ai cần đến anh. Tối tối tôi xuống phòng anh ngủ, thường thấy các bạn cùng giường chùi lau cây Garant M.1 giùm anh.

Với riêng tôi, kỷ niệm mà tôi nhớ nhiều nhất là hai đêm uống rượu với anh. Đêm đầu tại nhà một người bạn đã có gia đình ở Gia-định, với anh Để khóa 26 và anh Bùi Đăng giáo viên (hai anh này đều là bạn thiết của Y-Uyên).

Đêm thứ hai là đêm khóa 26 ra trường. Đặc biệt trong đêm này, Y-Uyên, Lê Vĩnh Thọ, Hứa Đình Anh, Hồ Trường An, Lâm Hảo Dũng, Hoàng Khanh, Hoàng Lộc, Tô Đình Sự, cùng tôi, uống lu bù ở câu lạc bộ Đống Đa với món nhậu tuyệt hảo: thịt bê thui! Suốt buổi tiệc, Y-Uyên uống thật nhiều và cứ nhắc đi nhắc lại chuyện lập nhà xuất bản với Hồ Trường An và Hứa Đình Anh và hứa sẽ xuất bản tất cả các tác phẩm nào bạn bè gửi tới.

Lê Vĩnh Thọ, Hứa Đình Anh gợi chuyện chia tay, Y-Uyên chẳng hiểu cảm động đến thế nào, đã đưa tặng hai tên này và Hồ Trường An bức hình chụp bán thân nhìn nghiêng với nửa thân người khô gầy cao lêu nghêu như con người anh lúc nào cũng dễ nhận giữa hàng quân những ngày đi về trước doanh trại tôi ở. Anh có đề tặng sau bức hình hai câu thơ nhưng tôi tiếc quá đã quên mất.

Với bạn hữu, Y-Uyên cũng ít khi đề cập đến chuyện viết lách, văn nghệ văn gừng, anh chỉ góp ý kiến khi nào chúng tôi bàn tới trước. Tính anh cẩn thận và rất dè dặt trong vấn đề chọn bài dù là chọn cho một nguyệt san quân trường! Anh chịu nhất loại bài khảo luận của Nguyễn Hiếu Học, thơ Hoàng Lộc, Lâm Hảo Dũng và truyện Nguyễn Lăn Viêm.

Những ngày cuối khóa, tôi gặp anh nhiều lần trong các giờ chiến thuật ở đại giảng đường; anh tỏ ý muốn được đổi ra phục vụ ở Tuy-hòa, nơi anh đã sống những ngày dân sự. Anh nghĩ rằng ở đó anh sẽ dễ hoàn thành những tác phẩm lớn dự tính lâu nay. Phải chăng anh muốn tìm lại không khí quen thân một nơi mà theo người bạn cùng dạy học với anh, cho là anh đã lăn lóc hết mình với những ngày tuổi trẻ. (Vả chăng điều này ta cũng thường thấy xuất hiện vội vàng nơi các nhân vật trong đời sống tác phẩm anh?) Tôi lựa lời hỏi sao anh không nhờ xin về Tổng cục CTCT. Anh nói quen ở đó cũng nhiều nhưng không muốn phiền bực. Và bởi bị bỏ quên, nên cuối cùng anh đã phải theo Nguyễn Hiếu Học về làm một chuẩn uý Địa-phương-quân ở dồn Nora, Phan-thiết.

Về tình yêu, Y-Uyên chưa hề nhắc cho chúng tôi nghe tên một người tình nào hay kể lại một chuyện yêu đương nào của anh. Ngoại trừ một đôi khi tôi nghe anh nhắc chuyện một nữ văn sĩ và đặc biệt trong biến cố Mậu Thân, anh tỏ vẻ lo lắng cho gia đình một cô gái ở An-cựu, Huế.

Hồi đó, nhân đọc truyện ngắn “Có mùa hoa nào lấy vợ” đăng ở Văn số Xuân Mậu Thân, tôi cứ chế anh sao chưa cho bọn này uống rượu, nhưng rồi anh cũng chỉ cười, bỏ qua.

Y-Uyên đúng là một nhà văn có đời sống giản dị và kín đáo, trầm tĩnh lạ thường. Ước muốn thiết tha của anh, theo tôi biết, vẫn là vấn đề lập được một nhà xuất bản, làm một tập san văn nghệ và xa hơn là đặt vấn nạn xã hội trong đời sống tác phẩm anh, xã hội mà anh và mọi người đang sống và sẽ sống trong chiến tranh này và mai sau, ngày hậu chiến.

Anh cũng đã nhiều lần đồng ý với bọn tôi là văn anh khô, khó đọc và thường thường khó nhớ. Tuy nhiên anh vẫn thích tiếp tục viết những điều anh đã nghĩ theo hướng đó, với bút pháp đó.

Ngày 1 tháng 8 năm 1968, khóa 27 SVSQ Trừ-bị Thủ-đức mãn, tôi, sau khi trượt luôn hai danh sách Quân cảnh và Quân báo, đã phải chọn Sư đoàn I bộ binh để được chiến đấu gần quê nhà. Y-Uyên ra tiểu khu Bình-thuận. Chúng tôi xa nhau chưa đầy năm tháng, chưa kịp viết thư thăm nhau, anh đã bỏ chúng tôi để nằm xuống quá bất ngờ.

Tính đến nay, anh nằm yên dưới mộ đã năm mươi ngày. Dáng người cao lêu nghêu của anh qua những quán cà phê, những con đường trong quân trường, những con đường ở Sài-gòn với tôi bây giờ chỉ còn nuôi như một ảo ảnh trong trí nhớ câm. Tôi không còn biết phải viết gì để tỏ lòng tiếc thương anh hơn dù hôm nay bao nhiều bồi hồi xúc động ban đầu đã ngậm ngùi lắng xuống.

Tôi không nghĩ được rằng lần bắt tay anh trong quán cà phê cô Vân, trước giờ lên xe về Huế, lại là từ giã anh lần cuối.

Định mệnh – một cái chết hoàn toàn định mệnh – anh Dương Nghiễm Mậu trong một sáng cuối năm trên đường vào cà phê Tôn trong Đại-nội, đã nói với tôi về cái chết của Y-Uyên như thế. Và tôi đành phải nhận điều này như thế.

Nhớ ngày trước, lúc cùng đi xe “lam” về nhà anh qua phần mộ của cố văn hào Nhất Linh, anh ước ao ngày sau được nằm xuống gần ngôi một này để sớm hôm trò chuyện. Thế mà giờ này, gia đình, bạn bè anh đã chẳng thể làm anh thỏa nguyện. Nơi an nghỉ cuối cùng của anh ở nghĩa trang quân đội. một người bạn, vượt cả ngàn cây số về thăm mộ anh, viết: may mà nó tên Uy, dãy một dành cho các sĩ quan có tên chữ đầu là U, còn được mấy huyệt, nếu không sẽ phải sang nghĩa trang mới, xa hơn…

Giờ đây, Y-Uyên đã yên mồ. Tuần trăm ngày của anh sắp tới. Nhân danh những thân hữu, chiến hữu của người đã qua đời, tôi muốn được kết thúc bài viết ngắn này bằng một ao ước nhỏ: Tôi muốn xin chùa Giác Minh (đặc biệt là với chư vị cao tăng Thích Tâm Giác và Thích Đức Nhuận) hoan hỉ dành cho Y-Uyên một khoảng đất nhỏ nằm cạnh ngôi mộ cố văn hào Nhất Linh.

Tôi muốn đề nghị một tổ chức văn hóa nào đó (tại sao lại không là Hội Văn-nghệ-sĩ Quân-đội?) đứng ra tổ chức lễ cải táng, đưa anh về chốn an nghỉ cuối cùng, nơi mà lúc sinh thời anh thường mong muốn.

Điều mong ước trên đây, nghĩ cho kỹ, chỉ là một tiểu tiết. Vì, mặc dù sự nghiệp chưa hoàn thành, nhưng chỉ với số tác phẩm đã viết, tôi thiển nghĩ Y-Uyên đã có, riêng cho mình anh, một chỗ an nghỉ đời đời nơi miền vĩnh cửu.

Bởi vì anh đã chết như chuẩn úy Nguyên văn Uy, trung đội trưởng Địa phương quân.

Nhưng anh đã sống, và – tôi tin như vậy – anh sẽ còn sống mãi, như một nhà văn, nhà văn Y-Uyên Nguyễn văn Uy.

Y-Uyên! Y-Uyên!

Tôi viết những dòng này trên bãi chiến. Không phải bãi tập trên những đồi Tăng-nhơn-phú, nơi mà chúng ta đã chung sống ít tháng ngày ngắn ngủi. Nơi đây là một khu rừng thưa, lúc này là lúc thần kinh căng thẳng vì đợi chờ những viên đạn địch hung hãn, những tiếng reo hò man rợ. Lòng tôi trũng xuống. Tôi gọi tên anh và tôi thầm hỏi: tôi còn mùa hoa nào chờ anh cưới vợ? chờ anh lập nhà xuất bản? chờ anh ra báo? chờ anh cất tiếng gọi anh em?

Có còn mua hoa nào, hỡi anh, hỡi Y-Uyên…

Lê Bá Lăng

Nguồn: Tạp chí VĂN, Sài Gòn, số 129, số đặc biệt thương nhớ Y Uyên

bài đã đăng của Lê Bá Lăng


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)