Trang chính » Nhận Định Email bài này

“autism” tiếng việt là gì?


Autism02.jpg

Autism được biết là một chứng/bệnh rối loạn phát triển thần kinh, có các dấu hiệu phổ biến bao gồm: khó khăn trong giao tiếp xã hội, khó xây dựng quan hệ bạn bè, thiếu đồng cảm, thiếu biểu cảm ở khuôn mặt, khó hiểu các câu nói ẩn ý hoặc hài hước.

Autism tồn tại suốt đời người bệnh và hiện chưa có thuốc chữa khỏi; việc phát hiện sớm và can thiệp kịp thời thông qua các cách trị liệu về hành vi, liệu pháp nghề nghiệp, vật lý trị liệu và trị liệu phân tâm, có thể giúp cải thiện đáng kể kỹ năng sống, giao tiếp và khả năng hòa nhập xã hội cho người bệnh.

Autism được chính thức công nhận tại Việt Nam từ cuối những năm 1990. Mặc dù không có hệ thống chính thức về dữ liệu khuyết tật, Hội Y tế Công cộng Việt Nam ước tính khoảng 160.000 người ở Việt Nam bị autism. Một nghiên cứu năm 2017 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh autism là 0,752% ở trẻ em từ 18 đến 30 tháng, và có xu hướng gia tăng.

Trong tiếng Việt, “autism” được dịch là “tự kỷ“, trong các cụm từ thường thấy: “chứng tự kỷ”, “bệnh tự kỷ”, “trẻ tự kỷ”, “người tự kỷ”.

Từ điển Anh Việt của Viện Ngôn-ngữ-học bản năm 1993 có ghi ở trang 93 định nghĩa sau đây:

“autism: bệnh tâm thần nghiêm trọng, đặc biệt là của trẻ em, khi người ta không còn có thể giao tiếp hoặc xây dựng mối quan hệ với người khác; bệnh tự kỷ.”

*

Thử tìm hiểu ý nghĩa căn nguyên của từ Hán Việt “tự kỷ” này.

Các tự điển Hán Việt cho biết:

tự :

1. tự mình, riêng mình

2. tự nhiên, tất nhiên

3. từ, do (liên từ)

kỷ :

1. mình, đối lại với người, như vị kỷ 為己 chỉ vì mình, lợi kỷ 利己 chỉ lợi cho mình.

2. riêng, lòng muốn riêng.

3. Kỷ (ngôi thứ 6 hàng Can)

tự kỷ 自己:

1. tự, bản thân, chính mình

2. thân cận, quan hệ thân mật.

Do đó, tự kỷ có ý nghĩa là tự mình, chính mình; nhưng ngoài ra, từ “tự kỷ” không nói lên được nội dung cần thiết như (tự mình) làm gì, hay như thế nào, do đó cần có thêm các từ khác nối tiếp, ví dụ:

tự kỷ ám thị: tự mình che mắt mình trước thực tế, ngầm hướng mình về một phía để chấp nhận hay ủng hộ;

tự kỷ phê phán: tự mình phê phán chính mình (tự phê);

tự kỷ ý thức: tự mình ý thức về bản chất hay giới hạn của mình (tự ý thức);…

Như thế, chỉ từ ngữ “tự kỷ” không mà thôi thì hoàn toàn không thể biểu hiện được những đặc điểm của chứng/bệnh autism như đã nêu trên.

Trong khi đó, tiếng Nhật có từ “jihei – 自閉 – tự bế” nghĩa là giữ mình trong vỏ bọc, không quan tâm đến hiện thực bên ngoài mình; tự cô lập đối với người khác. Từ ngữ này biểu hiện được đặc điểm của autism là một loại tinh thần phân liệt gây chướng ngại về quan hệ với người khác, với xã hội nói chung.

Và trên căn bản đó có từ ngữ “jiheishō – 自閉症 – tự bế chứng” có ý nghĩa “chứng/bệnh tự khép kín” hoặc “hội chứng tự khép kín”, là thuật ngữ chính thức và được chấp nhận rộng rãi ở Nhật Bản để chỉ “chứng/bệnh autism”, được sử dụng từ đầu thế kỷ 20. Thuật ngữ này lần đầu tiên được sử dụng trong một báo cáo ca bệnh năm 1952 và kể từ đó đã trở thành chuẩn mực trong các diễn-ngôn y tế lẫn công chúng.

Và thuật ngữ này đã được du nhập vào tiếng Hán. Trước đó, tiếng Hán đã có thuật ngữ “孤獨症 – gūdúzhèng – cô độc chứng”, nghĩa là “chứng/bệnh cô độc”. Tuy nhiên, đến nay thì thuật ngữ “自閉症 – zìbìzhèng – tự bế chứng” đã trở thành chuẩn mực để chỉ chứng/bệnh “autism”, và được sử dụng rộng rãi trong Hán-tự cả giản thể lẫn phồn thể, trong ngôn ngữ chuyên môn lẫn thường nhật.

Các tự điển Hán Việt cho biết:

bế :

1. đóng, khép (cửa)

2. nhắm (mắt)

3. ngậm (miệng)

4. che, đậy

5. bế tắc, bí

Và ngữ vựng tiếng Việt có sẵn các từ ghép và thành ngữ: “bế tỏa, bế quan tỏa cảng, bế tắc, bế mạc, bế khẩu, bế tinh”,… với ý nghĩa “đóng, khép, bí” ghi trên.

Tự bế – 自閉” có nghĩa là tự mình đóng, khép kín mình lại, đối với người khác. Có thể xem từ “tự bế” là dạng rút gọn của cụm từ “tự kỷ bế tỏa“: tự mình đóng kín hay khóa kín mình lại. Đó là yếu tố quan trọng trong tính cách của người bị autism.

Tiếng Nhật còn có từ “自閉性 – tự bế tính” chỉ tính cách chung của người bị autism, và từ “内閉性 – nội bế tính” đồng nghĩa.

Như thế “tự bếcó ý nghĩa gần với “autism” hơn là “tự kỷ”. Và hiện tại không có từ nào khác gần với “autism” được như “tự bế” đã là thuật ngữ tiêu chuẩn và phổ biến ở các nước đồng văn với Việt Nam.

Kết luận:

Xin đề nghị dùng thuật ngữ “tự bế” thay cho từ “tự kỷ” để chỉ “autism”, vì hai lý do chính:

1. Từ “tự kỷ” chỉ có nghĩa là tự mình, không đủ để biểu hiện được đặc điểm nào của “autism”, kém xa thuật ngữ “tự bế”,

2. Tiêu chuẩn hóa từ “tự bế” đồng bộ với các nước đồng văn Đông Á (Nhật Bản, Trung quốc,…)

*

Bài viết này đã dựa trên Tự điển Hán Việt của Thiều Chửu, bản in năm 1942, và bản điện tử của nhóm Đặng Thế Kiệt dẫn chứng thêm các từ điển Hán Việt của Trần Văn Chánh, Nguyễn Quốc Hùng; cùng Từ điển Anh Việt của Viện Ngôn-ngữ-học xuất bản năm 1993; từ điển Anh Nhật của nhà xuất bản Kenkyusha – Nghiên-cứu-xã; và Từ điển tiếng Nhật “Daijirin – 大辞林Đại-từ-lâm” của nhà xuất bản Sanseidō – Tam-tỉnh-đường bản in năm 1995.

Phạm Vũ Thịnh
Sydney, 12 Nov 2025

bài đã đăng của Phạm Vũ Thịnh

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

2 Bình luận

  • Mai says:

    Thưa, xin góp ý.

    – Chữ ‘tự kỷ’ muốn nói người như vậy chỉ biết có mình, không biết đến ai khác, không nghĩ là phải kể đến người khác trong cách đối xử để giao tiếp được êm đẹp. Họ không có ý xấu, chỉ vì trời sinh cách suy nghĩ thiếu sót như vậy, thành ra xử sự như vậy. Nói khác đi họ không biết gì hơn vì không ý thức là trong xã hội còn có người khác suy nghĩ khác mình, và mình phải kể tới người khác trong cuộc sống.

    – Chữ ‘tự bế’ hàm ý người như vậy biết có người khác mà không màng, và ‘chọn’ tự cô lập. Quan trọng là ý có hiểu biết để ‘chọn’, có sự cố tình gạt bỏ người khác, wilful, có ý thức, có chủ tâm. Người tự kỷ không có hiểu biết, ý thức đó nên chữ ‘tự bế’ áp dụng cho họ không đúng.

    Chính vì yếu tố có hiểu biết, có ý thức, có chọn lựa hàm chứa trong chữ ‘tự bế’ mà chữ này không nên dùng cho người tự kỷ. Vì khi dùng chữ ‘tự bế’, người ta có phán xét không đúng về người tự kỷ (‘biết đúng mà không làm’, hay ‘biết sai mà vẫn làm’, hay ‘lớn rồi thì phải biết chứ’) và do đó không xót thương cho sự thiếu sót Trời sinh và thẳng tay trừng phạt khi họ phạm lỗi, cho rằng họ cố ý làm vậy.

    Dùng chữ ‘tự kỷ’ là nhìn nhận họ có thiếu sót bẩm sinh trong cách suy nghĩ, do đó người ta dễ thông cảm, tha thứ, khoan dung hơn với các hành vi khác thường của họ.

    Kính.

    • Phạm Vũ Thịnh says:

      Cảm ơn góp ý của “Mai”. Tuy nhiên, ý chính của bài viết này là: từ “tự kỷ” ngắn và cụt quá, ngoài ý nghĩa “tự mình”, không cho thấy gì thêm, chắc chắn là không đề cập gì đến chuyện “biết”, “biết có mình, không biết đến ai khác”,… hay bất cứ gì khác cả.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)