(tiếp theo Phần 1/2)
5.
Coi bóng tà và tà dương là hai từ riêng biệt trong cấu trúc của toàn câu thơ, người góp ý cho rằng câu Cỏ vàng cây đỏ bóng tà tà dương phải được ngắt ra làm bốn khúc, theo nhịp 2/ 2/ 2/ 2. Ông cho rằng hơi thở và hơi thơ phải ngưng lại sau chữ bóng tà, và, theo ông, quy luật thơ lục bát không cho phép có một biệt lệ nào khác.
Trong suy nghĩ của tôi, thời Tản Đà, trong thơ lục bát, người ta thường hay gieo vần và ngắt vần ở những quãng chẵn. Thơ, như thế, rất êm đềm, chảy thư thái một dòng. Dù sao, với con người nghệ sĩ Tản Đà, tôi không chắc câu thơ mà chúng ta đang thảo luận nhất thiết đã phải được ngắt như thế. Trước hết là vì khi ngắt như vậy, sự cân bằng về mặt cú pháp và thẩm mỹ của câu thơ bị gẫy đổ như tôi đã phân tích. Thứ hai, chúng ta đã có kinh nghiệm rằng Tản Đà không chịu câu thúc. Trong cách sử dụng ngôn ngữ nói chung. Về mặt nhịp điệu, chúng ta sẽ đưa ra ngay dưới đây một câu thơ lục bát của ông mà cách ngắt nhịp đã phá bỏ quy luật chẵn vừa nói. Tôi nghĩ, một cách ý thức, hoặc một cách vô thức, Tản Đà có thể đã ngắt như cách tôi đã thử trình bày trong bài Mấy Suy Nghĩ Thơ: 2/ 2/ 4, trong đó bốn chữ cuối cùng—nếu phải ngắt—có thể đã được ngắt, rất nhanh, thành 1/ 3. Như thế, tà tà đi với nhau. Là một trạng từ, nó chỉ một trạng thái của buổi chiều đổ nghiêng theo triền nắng. Nó diễn tả được một cách rất cụ thể cái dáng nghiêng nghiêng, phai phai, nhạt nhạt ấy. Của nắng. Của bóng mặt trời.
Trong một phần của bài, nói chuyện Tản Đà dịch thơ, chính tác giả bài góp ý cũng đã nhắc hai câu thơ Tản Đà dịch Thu tịch lữ hoài của Lý Bạch. Tản Đà dịch
Lương phong độ thu hải
Xuy ngã hương tứ phi
thành
Lạnh lùng gió vượt bể thu
Hồn quê theo gió như vù vù bay.
Câu thơ có thể hơi buồn cười ở hai chữ vù vù, dùng hơi ép. Nhưng chắc chẳng ai trong chúng ta nghĩ là Tản Đà sẽ cắt hai chữ vù vù ra để chiều nhịp chẵn của hai câu thơ lục bát. Tản Đà, một cách rõ ràng, đã phá nhịp thơ chẵn của lục bát trong hai câu thơ dịch này.
Ngoải ra, ngay trong bài thơ “Cảm Thu, Tiễn Thu”, ngoài câu Cỏ vàng, cây đỏ, bóng tà tà dương, Tản Đà còn có một câu gieo nhịp lẻ nữa. Câu thơ quá hay, quá nổi tiếng, nên đa số chúng ta không để ý là nó đã phá luật nhịp chẵn (thường xuyên) trong sự gieo vần trong thơ lục bát:
Vèo trông lá rụng đầy sân
Công danh phù thế có ngần ấy thôi
Có ngần ấy là một cụm từ cần cả ba chữ mới đủ nghĩa. Bởi thế, ta không thể ngắt nhịp chẵn được. Còn nếu ngắt nhịp ngay sau “có ngần” để chiều nhịp chẵn, thì cách đọc, cách ngắt ấy thật là không hợp lý!
Còn thơ bây giờ? Như Tản Đà, và dĩ nhiên là còn đi xa hơn cụ, các nhà thơ hiện đại của chúng ta không coi quy luật về nhịp chẵn của lục bát là một quy luật bất biến. Thử đọc một vài câu thơ của chúng ta hôm nay.
ngày tôi. Trôi trên lưng, đồi
cây khô gốc đợi, lá bồi hồi, reo (…)
(Khúc 19 tháng Chín, Du Tử Lê)
rơi. Im. Rừng vươn tay che
chỗ sâu: lũng, cỏ. Khe tì vết, quen
đêm. Hôn. Mùi. Vùng thân. Thơm
trắng. Xanh. Tím. Đỏ. Hồng. Đen. Nâu. Vàng.
(Xuống thấp. Du Tử Lê)
hồi còn ở núi Quảng Yên
nằm không ngủ được, ngồi thiền mỏi lưng
đêm khuya uống nụ trà sâm
ngâm thơ lục bát cũng thành nhớ em
những ngày hai đứa nằm im
những sông tóc chảy cắt miền thịt da
những giờ mây núi bay qua
chiều quen tím xẫm chỗ tà huy non (…)
(Hồi ở Quảng Yên, Nguyên Sa)
Và bài thơ sau đây của Nguyễn Tất Nhiên. Nó không chỉ thả nhịp lẻ ở ba chữ cuối của câu tám như các đoạn thơ vừa trích ở trên, mà rất nhiều chỗ trong cả bài thơ được đánh nhịp lẻ. Như cách tôi thử dùng các dấu chéo để tách bạch chúng:
Đò qua sông / chuyến đầu ngày
Người qua sông / mặc áo dài suông eo
Sông hiền / sóng lạ lùng reo
Trời mênh mang / cũng nhìn theo / ái tình
Người qua sông / qua một mình
Nắng trên sông / nắng vàng hanh mái đầu
Xin em vài sợi tóc nhầu
Trói thân ta / với nghìn sầu chung nơi
Mong em gìn lấy ơn trời
Thấy quanh năm / thấy ta / đời tai ương!
Người qua sông / mặc áo hường
Nắng dương gian / nắng buồn hơn trước nhiều…
(Chuyến đò Cửu Long, Nguyễn Tất Nhiên)
Đó là thơ của ta bây giờ.
Hãy thử trở về quá khứ một chút:
Chiều nay chẳng có mưa dầm
Mình sao nước mắt lại đầm đầm tuôn
(Nỗi buồn vô duyên—Cẩm Châu duyên, Hàn Mặc Tử)
Hay đi xa hơn nữa. Hãy trở về với Truyện Kiều của Nguyễn Du:
Lỡ chân trót đã vào đây
Khóa buồng xuân để đợi ngày đào non
Người còn thì của hãy còn
Tìm nơi xứng đáng làm con cái nhà (…)
Tôi chỉ trích thử một vài đoạn thơ để chia sẻ với người góp ý và với bạn đọc những nét mới trong thơ ta, trong sáng tạo của nhà thơ. Những câu thơ phá nhịp chẵn của lục bát như những câu thơ vừa dẫn có thể được tìm thấy rất nhiều trong thơ của ta bây giờ. Ngày xưa, có thể chúng là biệt lệ. Bây giờ thì đó là một hơi thơ rất tự nhiên. Nhưng vẫn mới và đẹp.
Avond (Evening): The Red Tree (Piet Mondrian, 1908)
6.
Tác giả bài góp ý cho rằng một số hệ từ, trong đó có hệ từ rất, được dùng để xác định tính chất của từ loại. Từ nào dùng được với rất thì là tính từ; không dùng được thì không là tính từ. Điều đó đúng. Nhưng chỉ đúng một nửa. Và chỉ đúng trong quy ước chuẩn mà thôi. Mà những điều ta đang thảo luận đây lại diễn ra trong vùng “lệch chuẩn”. Lệch chuẩn một cách độc đáo. Thật sự, trên căn bản, hướng phân tích của tôi về câu thơ của Tản Đà là nhìn câu thơ ấy trên một cái nền lệch chuẩn. Và tôi nhìn ra sự bất ngờ, sự sáng tạo của nhà thơ nằm ở đó.
Cách nhìn ấy là một cách nhìn có tính cách gợi mở và đề nghị. Chính trong cách nhìn ấy cũng chứa đầy nét lệch chuẩn rồi, mặc dù sự lệch chuẩn ấy có những căn cứ của nó như tôi đã thử trình bày và còn tiếp tục thảo luận thêm trong phần cuối của bài này. Cách nhìn và suy nghĩ của tác giả bài góp ý dựa trên một số hiểu biết quy phạm về ngôn ngữ nói chung và ngữ pháp nói riêng. Dù sao, hai cái nhìn như thế thật khó có thể gặp nhau. Nhưng điều quý là, nhờ thế, tôi có dịp trình bày một số suy nghĩ của mình về vấn đề ngôn ngữ và sáng tạo của nhà thơ, nhà văn nói chung.
Trở lại với hệ từ rất, dùng như một thứ thuốc thử để xác định tính từ.
Chúng ta nhớ lại câu thơ của Xuân Diệu mà, trong phần góp ý, người viết có nhắc tới: Trăng rất trăng là trăng của tình duyên. Ông cũng cho rằng, “Trăng là danh từ, nhưng với phụ tố rất, Xuân Diệu dùng nó như tính từ.” Vậy là tôi phải cám ơn ông đã trả lời hộ tôi, rằng, rất không hẳn là một loại thuốc thử tốt trong những trường hợp tác giả cố tình “lệch chuẩn” để làm một cái gì mới.
Chúng ta cũng có thể nghe người khác nói hay viết: Trăng rất ngọc / Dáng của nàng rất liễu / Đôi mắt nàng rất mộng / Trong chiếc áo dài, cô bé trông rất thiếu nữ. Ngọc, liễu, mộng, thiếu nữ đều là những từ Hán Việt. Chúng là những danh từ. Như dương là một danh từ. Thường thì rất, một trạng từ thuần Việt, không thể đi chung với những danh từ (nhất là danh từ Hán Việt) như thế. Vậy mà trong sự phá bỏ cái cũ, phá bỏ những quy luật, có những con người bình thường, không nhất thiết phải là nhà văn, nhà thơ, đã có những cách dùng sáng tạo như thế.
Vậy, xét về mặt phong cách sáng tạo, nếu những danh từ Hán Việt như ngọc, liễu, mộng, thiếu nữ, v.v., được sử dụng như những tính từ, có thể dùng được với rất, thì, nếu dương, trong một ngữ cảnh đặc biệt nào đó, được một con người sáng tạo nào đó, dùng như một tính từ, tôi nghĩ là nó cũng có thể có khả năng đó, bằng cách tự biến đổi từ loại, đồng thời, biến đổi phần nào về mặt ngữ nghĩa nữa.
Dù sao, so với những từ vừa kể, dương có một thang độ Việt hóa thấp hơn; bởi vậy, ta khó thấy hoặc tưởng tượng là nó có thể được dùng như một tính từ. Và như thế, ta khó có thể tưởng tượng được là có một cụm từ rất dương. Nhưng nếu không có một cụm từ như thế, điều ấy có đủ cho ta kết luận rằng dương không thể dùng như một tính từ không?
Hoàng, ô, đa, thiểu… là những tính từ Hán Việt (cũng có thể là những danh từ trong những trường hợp khác). Chúng cũng không chấp nhận cho rất đứng trước để bổ nghĩa cho chúng. Chẳng lẽ vì điều ấy mà chúng không được xem là những tính từ nữa?
Đực, cái, trống, mái… là những tính từ thuần Việt (để chỉ phái tính, giống); chúng cũng không cho rất đứng trước chúng. Như thế, chẳng lẽ chúng bị mất tính chất tính từ?
Không, chúng vẫn là những tính từ. Từ rất không hẳn là một thứ thuốc thử chính xác để xét xem một từ có phải là tính từ hay không. Người ta không nói rất ô, rất hoàng, nhưng như thế không có nghĩa là ô hay hoàng không còn là tính từ. Bởi lẽ ta có hoàng ngọc, hoàng hà, v.v., hay ô mã, ô long, ô đậu (đậu đen), ô cân (khăn màu đen), ô danh, v.v..
Sở dĩ rất dương không hiện hữu (ít nhất là theo tiêu chuẩn thông thường) là vì rất và dương đều có những đặc tính ngữ nghĩa của chúng giống như ô, hoàng, đa, thiểu… mà ta đã kể. Dương không chấp nhận trạng từ thuần Việt rất đi trước nó. Rất cũng không chấp nhận những tính từ vừa kể đi sau nó. Ta có thể tạo một luật ngôn ngữ về hiện tượng này. Nói rất, là một trạng từ, mà lại không đi được với dương, nên dương không thể làm tính từ, thì cũng như nói gỗ, là một danh từ, mà lại không đi được với ăn, nên ăn không phải là một động từ.
Luật ngữ pháp của động từ ăn (cấu trúc kết hợp của nó) là:
Ta có thể có những kết hợp: ăn cơm, ăn phở, ăn bún bò, ăn bánh bèo…
(Những kết hợp như ăn sương, ăn ý, ăn trớt, ăn nhịp, ăn khách, ăn ảnh… thì lại là những vấn đề khác. Khảo sát những kết hợp của động từ ăn trong thành ngữ, tục ngữ Việt Nam là khảo sát một vùng “lệch chuẩn” của ngôn ngữ. Cái sáng tạo và cái chất thơ của con người Việt Nam trong đời sống hằng ngày nằm ở những câu ca dao, tục ngữ rất “lệch chuẩn” về tiếng nói và ngôn ngữ này.)
Vậy thì, theo luật ngôn ngữ tổng quát, danh từ đi sau ăn phải chỉ một cái gì ăn được: gỗ, đá, nhà, xe, đèn, rừng, cầu, cống, tự do, danh dự, dân tộc… là những danh từ không thỏa mãn hai điều kiện đặt ra trong dấu móc. Bởi thế, chúng không đi sau động từ ăn được. Tuy nhiên, không phải vì thế mà chúng không còn là những danh từ. Tương tự như luật ngữ pháp của ăn [9] , tôi tạm thời đề nghị luật sau cho rất:
Những trường hợp dưới đây, theo tiêu chuẩn bình thường, không thể xảy ra:
Với những tính từ đơn Hán Việt có thang độ Việt hóa thật cao như: tệ, tình, chỉnh, khổ…, người ta có thể thấy: rất tệ, rất tình, rất khổ, rất chỉnh (nhưng người ta cũng nói thậm tệ, chí tình, cực khổ, hoàn chỉnh… Tôi nghĩ những kết hợp này lúc đầu là những ngữ tuyến (cụm); sau dùng quen, với kết hợp thường xuyên như thế, hóa ra tính từ kép. Bởi thế, người ta còn nói: rất thậm tệ, rất chí tình, rất cực khổ… Thật ra, nói vậy là thừa từ rất. Cũng như nếu nói sông Hồng hà, biển Nam hải, trường tư thục… là nói thừa những từ sông, biển, và trường…) Thang độ Việt hóa của dương còn thấp, nên, theo nguyên tắc, nó không đi với rất. Nhưng như thế, không có nghĩa là nó không thể đứng làm tính từ. Ngoài ra, nếu một kẻ sáng tạo, sau khi quyết định dùng dương như một tính từ, ai cấm hắn dùng cụm rất dương trong một ngữ cảnh đặc biệt nào đó, như người ta đã dùng rất mộng, rất ngọc, rất liễu… một cách rất lạ và đẹp.
Thí dụ, nếu có một nhà thơ nào đó nói: Mặt trời hôm nay rất dương, hay Sắc nắng hôm nay rất dương, chắc tôi cũng thấy cách dùng chữ ấy không đến nỗi quá lạ và quá mới như cách dùng ngôn ngữ và hình ảnh của thi sĩ Đặng Đình Hưng trong tập thơ Bến Lạ. Đặng Đình Hưng [10], cùng thời với Trần Dần, Lê Đạt, v.v., là một trong những khuôn mặt được chú ý trong hướng làm mới thơ ca. Trong thi phẩm Bến Lạ (Sàigòn, 1991), được đánh giá cao bởi một số nhà bình thơ, ông dùng nhiều từ, nhiều cụm từ, nhiều hình ảnh rất mới (còn có hay hay không thì lại là tùy sự rung động của mỗi người). Tôi thử trích một đoạn:
Tôi khắc biết mênh mông một cái bẹn Epicure ngập chìa truồng bốn fía cơn mưa tú lơ khơ xanh đỏ con sập sành bọ ngựa bậu vào nhảy tung! cõng đi chơi trên lưng Nilông Cáctông của Định Mệnh!
Tôi hề biết / kể cả quả mít nứt
Tôi đã tìm ở sau cái gương / cũng không có jì hết…
Tôi đã tiếp đau thương những nhỏ nhỏ thường thường
Đã húp ra đi từng bát những nhạt nhạt mềm mềm và rất ngon
Đặng Đình Hưng, trong nhận xét của tôi, có những bài thơ/câu thơ khác hay và đẹp hơn. Chẳng hạn:
Cửa Ô
Khăn gói trên tay
một độ đường
hàng bàng rớm đỏ
Cửa Ô
ngã ba ngã bảy
đường zây cột đèn đỏ
Cửa Ô cỗ xe tay jà khấp khểnh
cuối Ô ổ gà xa xa thành phố lạc…
Hay,
Khi còn bé
tôi đánh thức ban mai dậy
từ nửa đêm
Khoác bộ áo hồng rộng
tôi làm
đám mây nhòm vào bể nước…
Cũng thế, có một nhà thơ khác, rất nổi tiếng trong hướng làm mới thi ca, là Lê Đạt, đã được giới thưởng ngoạn chú ý qua tập thơ Bóng Chữ. Tự xem mình là một “phu chữ”, Lê Đạt, với những thao tác ngôn ngữ rất lạ, và đẹp, cũng đã tạo nên một cuộc tranh luận khá lớn trong giới văn nghệ ở Sàigòn vào năm 1994. Vấn đề tranh luận cũng xoay quanh thủ pháp dùng từ, dùng hình ảnh, dùng các con âm, các âm bồi, của nhà thơ. Người thì nức nở khen hay; kẻ lại chê thơ không có nghĩa, chữ dùng vô nghĩa, nghĩa đi ra khỏi từ… Thật ra, nếu đứng từ góc độ sáng tạo, với một thẩm mỹ mới, chúng ta sẽ nhìn khác.
Hãy thừ đọc một vài bài thơ/câu thơ của Lê Đạt:
Vải Thanh Hà
Tàu ú còi tu hú kêu vườn đỏ
Tuổi vào ga mùa ủ lửa má vừa
Áo trắng
Áo trắng bước bồng bềnh mây trắng
Trời sáng ngần thân phố khỏa xuân
Tấm chữ
Anh rình trắng nghìn trăng nghiêng ngõ mộng
Bước thị thơm chân chữ động em về
Tóc phố
Chấp chới đèn lên tóc phố
Gáy nêông chiều lả liễu lam bay
Thu Nhà Em
Anh đến mùa thu nhà em
Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ
Mà cho đấy rửa lông mày
Nông nỗi heo may từ đó
Mưa đêm tuổi nổi ao đầy
Đồi cốm đường thon ngõ cỏ
Bướm lượn bay hoa ngày
Tin phấn vàng hay thuở gió
Tóc hong mùi ca dao
Thu rất em
và xanh rất cao
Vào Hè
… Ơi em rất ô
Ơi em rất hồ
Nắng vỗ ồ hô trúc bạch
Bước động ngày thon róc rách
Quan Họ
Tóc trắng tầm xanh qua cầu với gió
Đùi bãi ngô non
ngo ngó sông đầy
Cây gạo già
lơi tình
lên hiệu đỏ
La lả cành
cởi thắm
để hoa bay
Ở đây không phải là nơi để phân tích và bình thơ Lê Đạt. Nhưng với thơ như của Lê Đạt chẳng hạn, người ta cần phải có một cái nhìn mới, một thẩm thức mới, một thẩm mỹ đi ra khỏi lối mòn, để có thể thấy được cái hay, cái đẹp, cái biến hoá và sáng tạo của nó.
Trình bày một vài sự kiện văn học này ở đây, tôi chỉ muốn nói lên một điều: con người sáng tạo rất nhiều khi phá bỏ hình thức, lối mòn trong cung cách sáng tạo của mình. Được ưa thích hay không thì lại là một vấn đề khác. Người thẩm thức, kẻ thưởng ngoạn cũng thế, anh ta có quyền rung động và hiểu một sáng tạo phẩm theo ý riêng của anh ta. Trong kinh nghiệm sáng tạo cũng như kinh nghiệm thưởng ngoạn, sự đi ra ngoài cái bình thường không hẳn phải là điều sai hay dở. [11]
Xin trở lại câu chuyện của chúng ta. Những luật ngôn ngữ liên hệ đến ngữ pháp và ngữ nghĩa của động từ ăn và trạng từ rất, như vừa được trình bày, cũng giống như những luật trong hình thái học (morphology).
Chẳng hạn, trong tiếng Việt, /b/ chỉ có thể đứng ở vị trí khởi đầu của một từ, không thể đứng vào vị trí cuối. (Còn trong tiếng Anh, /b/ có thể đứng ở cả hai vị trí):
Hay lấy chữ ghép đôi (digraph) /ng/ , kết hợp bởi hai con chữ n và g. Âm /ng/ này, tạo thành âm vị /ŋ /. Trong tiếng Việt, nó có thể đứng ở vị trí đầu hoặc cuối của một từ. (Trong tiếng Anh, /ng/ chỉ có thể đứng ở vị trí cuối):
7.
Về sự hoán chuyển từ loại của từ, trước hết, trong phần này, ta hãy nói về từ loại của trai. Trai, tôi nghĩ, căn bản là một danh từ. Dùng như Hàn Mặc Tử, biến nó thành một tính từ, là rất mới. Con trai, con gái, cũng như trai, gái, đều là những danh từ bất khả phân. Cũng như những từ đàn bà, đàn ông. Con, trong con trai, con gái, không phải là mạo từ hay loại từ. Nó không phải là một loại con như con vật, chẳng hạn như con mèo, con chó, con cua… Đàn, trong đàn ông, đàn bà cũng không phải để chỉ một tập hợp súc vật, như đàn trâu, đàn kiến… Nếu xét về mặt ngôn ngữ học lịch sử và ngôn ngữ học xã hội, có thể những từ này ngày xưa đã được khởi sự dùng trong một tinh thần gần gũi với những từ con và đàn, để chỉ một đơn vị hay một tập hợp loài vật. Con người, trong thời sơ cổ, đời sống cũng còn man dã, nên con và đàn có thể đã được dùng theo nghĩa cho loài vật như thế. Từ con người được dùng theo ý nghĩa đó. Người, trong cái nhìn xã hội hoặc nhân chủng, cũng là một động vật sống quần cư theo bầy đàn như các động vật khác. Nhưng ngôn ngữ có những biến đổi theo sự biến đổi của đời sống xã hội, của ý thức xã hội [12] . Đây là lĩnh vực nghiên cứu của từ nguyên học, của ngôn ngữ học lịch sử. Bây giờ, con người, con gái, con trai, đàn ông, đàn bà không thể được xem là những kết hợp ngữ tuyến hay cụm. Đó không phải là sự kết hợp của một mạo từ (hay loại từ) và một danh từ, như trường hợp của cái kéo, con dao, con sóc, đàn bướm… Con và đàn không thể tách ra khỏi con người, con trai, con gái, hay đàn ông, đàn bà. Những kết hợp đó chỉ được coi là một đơn vị từ. Bởi thế, bây giờ, người ta có thể nói: người (chị) đàn bà, người (cô) con gái, anh (cậu) con trai, người (tên, gã) đàn ông, v.v. Con và đàn, như thế, không còn là loại từ. Người, chị, cô, anh, cậu, tên, gã… là loại từ.
Về câu mà tác giả bài góp ý đưa ra, “Vương viên ngoại có ba người con, một người con trai và…”, từ đó, ông cho rằng, như thế, trai là tính từ, bổ nghĩa cho người con. Tôi nghĩ khác. Tôi nghĩ từ con trai, ở đây, vẫn là một từ bất khả phân. Nó là danh từ [13] . Câu đó nên được hiểu là, “Vương viên ngoại có ba người con; một người (là) con trai và…” Người và con, ở mệnh đề sau, sẽ không còn đi chung với nhau nữa. Con trai là một từ nằm ở phần vị ngữ (predicate); người là chủ từ; một là số từ, bổ nghĩa cho người. Hệ từ (động từ) là, hiểu ngầm, chen vào giữa. Trong Việt ngữ, có thể nói có rất nhiều câu được viết hay nói với hệ từ là, thì hiểu ngầm như thế.
Để kết luận về từ trai (hoặc gái), ta có thể nói rằng chúng là những từ được khu biệt rõ. Đó là danh từ. Chúng không thể đứng làm tính từ trong những câu tiêu chuẩn. Dùng như Hàn Mặc Tử, biến trai thành một tính từ, là một cách dùng rất sáng tạo mà tôi đã đưa ra để bàn về sự sáng tạo trong thơ văn. Muốn biết từ trai có thể làm tính từ trong những câu văn tiêu chuẩn được không, ta hãy làm một phép thử. Nếu trai (hay gái) là những từ loại không khu biệt (tức là nó có thể khi thì làm danh từ, khi thì làm tính từ), theo cách suy nghĩ của người góp ý, nó có thể có trạng từ chỉ mức độ rất trước nó (vì nó là một từ thuần Việt); đồng thời, nó vẫn có thể đứng một mình không cần có rất đứng trước, mà vẫn làm cho câu văn xuôi chảy và có ý nghĩa. Vậy thì, hãy xét lại hai câu thơ của Hàn Mặc Tử:
Mau rất mau trong muôn hoa kiều mỵ
Mùa rất trai và ánh sáng rất cao
Muốn biết trai, trên căn bản tiêu chuẩn, có là tính từ không, ta chỉ việc bỏ từ rất ra ngoài. Mùa trai là cái gì? Nó không có nghĩa. Bởi vậy, xét về mặt tiêu chuẩn, trai không thể là tính từ. Nó phải là danh từ. Hàn Mặc Tử, đã dùng nó một cách hết sức sáng tạo, biến nó thành tính từ và cho đi chung với trạng từ rất. Trước khi Hàn Mặc Tử viết câu này, trai không thể được hình dung là có thể đứng làm tính từ như thế.
Dù sao, trong bài này, như đã ghi ra, người góp ý cũng có công giúp tôi đưa ra thêm được một số những câu thơ rất độc đáo của những nhà thơ Việt. Chúng độc đáo ở chỗ người viết chúng đã có những sáng tạo bất ngờ trong việc sử dụng từ loại. Họ chơi từ loại và chơi ngữ pháp một cách thần kỳ. Chính những sự cố tình “lệch chuẩn” một cách sáng tạo như thế đã làm cho văn chương trở nên cuốn hút hơn. Ta tìm ra ở văn chương những lối nói, những lối viết mới. Cái mới ấy, tôi nghĩ người viết bài góp ý cũng đồng ý với tôi, là sự sáng tạo của nhà thơ, nhà văn.
Khi Mai Thảo viết:
Cõi không là thơ. Không còn gì nữa hết là thơ. Nơi không còn gì nữa hết là khởi đầu thơ. Một xóa bỏ tận cùng. Từ xóa bỏ chính nó. Tôi xóa bỏ xong tôi. Không còn gì nữa hết. Tôi thơ.
(Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền, nxb Văn Khoa, 1989)
thì trong cụm (hay đúng hơn, trong câu) Tôi thơ cuối cùng ấy, thơ thuộc từ loại nào? Danh từ? Tính từ? Hay trạng từ? Hay, thậm chí, động từ? Đó là một câu viết rất mới và đẹp. Nó thu gọn tất cả ý nghĩa của một đời người trong một từ. Thơ. Ngắn, gọn, và thẳng tắp như một ánh sao bay.
Bây giờ chúng ta hãy trở về với câu thơ của Tản Đà.
Câu thơ ấy, tôi đã đề nghị cách ngắt là Cỏ vàng / cây đỏ / bóng tà tà dương. Trong đề nghị của tôi, đó là ba mệnh đề hiểu ngầm động từ thì: Cỏ (thì) vàng, cây (thì) đỏ, bóng (thì) tà tà dương (hoặc, nếu không, có thể xem nó là ba danh ngữ (noun phrase): Cỏ + vàng, cây + đỏ, bóng + dương (tà tà là trạng từ chỉ thể cách hoặc mức độ, sắc độ.) Dương, ở đây, dùng như thế, như một tính từ, có thể có nghĩa như là sáng. Cái sáng của mặt trời, của ánh nắng, ở độ không, trung tính, chưa có tính từ chỉ thể cách, sắc độ, hoặc mức độ bổ nghĩa. Còn bình thường, là một danh từ, dương có nghĩa là mặt trời hay chỗ có nắng (Hán Việt tự điển, Nguyễn Văn Khôn) hay mặt trời, ánh sáng (Việt Nam tự điển, Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ) trong những ngữ cảnh mà chúng ta đang khảo sát.
Ngoài ra, nếu không ngại đẩy sự suy luận đi xa hơn, tôi lại muốn nói thêm—một lần nữa—rằng, nào ai biết được tiềm thức và vô thức (và có khi cả ý thức) của Tản Đà hoạt động ra sao khi nhà thơ viết:
Sắc đâu nhuộm ố quan hà
Cỏ vàng cây đỏ bóng tà tà dương
Một cách ý thức hay một cách vô thức, có khi nhà thơ lại muốn chơi màu sắc ở đây. Nhà thơ đã đối chọi ba màu vàng, đỏ và dương. Dương được hiểu như một màu xanh sậm, màu xanh nước biển, màu của bầu trời đang chuẩn bị để đi vào tối. Người ta có xanh lá cây (xanh lục, xanh lá) và xanh dương. Khi diễn tả, trong câu nói thường ngày và trong văn chương, có những tác giả viết (hoặc nói) là màu lá (cây), màu lục. Họ biến những từ lá (cây) và lục, đang là những bổ từ làm rõ nghĩa cho xanh, thành ra những từ chính để chỉ màu xanh lá cây. Nếu lá (cây) có thể được dùng thay cho xanh lá cây, thì dương tại sao lại không có thể được dùng (trong một phút đắc ý hay xuất thần đầy nét sáng tạo của nhà thơ) để thay cho xanh dương (xanh màu đại dương, màu nước biển). Trong sự chơi chữ xuất thần này, dương chợt biến từ mặt trời ra thành biển. Câu thơ được viết bằng chữ quốc ngữ chứ không phải bằng chữ Hán, nên ý nghĩa của nó được mở rộng một cách tự do cho cả người sáng tác lẫn người thưởng ngoạn.
Trong phần mở đầu của bài thơ Cảm Thu, Tiễn Thu của mình, Tản Đà đã đưa ra một cái nhìn tổng quát và rất rộng về cảnh quan, về cảm thức, tình cảm chung của ông đối với khung cảnh trước mắt và trong tâm tưởng. Cái cảm thức chung về mùa thu, trên các mặt thiên nhiên địa lý ấy, ảnh hưởng lên tâm thức ông khiến, sau đó, ông đã nghĩ đến thân phận và định mệnh của nhiều tầng lớp người trong xã hội:
Từ vào thu đến nay,
Gió thu hiu hắt,
Sương thu lạnh,
Giăng [Trăng] thu bạch,
Khói thu xây thành.
Lá thu rơi rụng đầu ghềnh,
Sông thu đưa lá bao ngành biệt ly.
Nhạn về én lại bay đi,
Đêm thì vượn hót, ngày thì ve ngâm.
Lá sen tàn tạ trong đầm,
Nặng mang giọt lệ âm thầm khóc hoa.
Sắc đâu nhuộm ố quan hà,
Cỏ vàng, cây đỏ, bóng tà tà dương.
Nào người cố lý tha hương,
Cảm thu, ai có tư lường hỡi ai? (…)
Sắc đâu nhuộm ố quan hà. Quan hà, nghĩa là cửa ải và sông, gợi nhắc đến cảnh chia ly. Nhà thơ nhìn và tưởng về những cảnh tượng khắp trời đất trong mùa thu (thu của đất trời, thu của lòng người, và thu của đời người) mà cảm và thương xót cho các kiếp sống. Ông cảm nhận bao cảnh đất đai, sông nước. Trong mùa thu. Cỏ vàng, cây đỏ, bóng tà tà dương. Đó là những hình ảnh và màu sắc đã ghi dấu ấn trong tâm hồn thi sĩ.
Trở lại cái màu, cái chất dương trong ý thơ. Nó có thể là (màu) mặt trời pha với màu sông, biển. Màu vàng (có khi là vàng sẫm, hay vàng chói, như cái màu vàng mặt trời lung linh thiên địa của Van Gogh khi ông ở xứ Arles) đang biến hoá và biến chất, từ vàng sẫm, vàng chói, vàng óng sang vàng cam vàng hườm, rồi chuyển hoá, pha vào mầu xanh của sông biển, của đại dương thăm thẳm. Mặt trời hóa ra biển lớn. Ánh sáng hóa thành sắc màu. Và kìa, một cái bóng chênh chếch xanh (tà tà dương). Dương của mặt trời, dương của đại dương của biển cả, tất cả đang bồng bềnh và chập chờn trong cảm thức. Chênh chếch xanh. Trạng từ chênh chếch nếu được dùng như thế thì thật là tuyệt diệu. Mặt trời đang pha vào màu biển. Hay cả bầu trời đang sẫm lại, tối lại, có thể được ánh chiếu, được pha với màu của đại dương, sông nước. Sự chơi chữ, vì được tăng lên nhiều cấp như vậy, khiến cho cả câu thơ mang đậm nét ấn tượng trong tâm trí người đọc. Cảnh cỏ vàng cây đỏ bóng tà tà dương, bây giờ, như được vẽ ra với họa pháp của bậc thầy Monet.
Burgo Marina at Bordighera (Claude Monet, 1884)
Les Villas à Bordighera (Claude Monet,1884)
Và cuối cùng, bây giờ, tôi lại xin phép đề nghị thêm một cách nhìn khác, có thể còn lạ và… (hy vọng) đẹp hơn nữa. Cách nhìn này vẫn bảo đảm được thẩm mỹ cấu trúc của câu thơ, không làm gẫy đổ sự cân bằng của ba vế. Về mặt cú pháp cũng như về mặt hình tượng.
Hãy xem vàng, đỏ và dương là ba động từ. Cách phân nhịp vẫn là cách mà tôi đã đề nghị: Cỏ vàng / cây đỏ / bóng tà tà dương. Tà tà vẫn đi chung với nhau và là trạng từ. Điều khác duy nhất trong cách nhìn này là ba tính từ vàng, đỏ và dương biến thành ba động từ. Câu thơ lúc ấy sẽ gọn, sắc và mạnh hơn nữa. Cái buồn, cái đẹp, sẽ xót xa, vò xé hơn. Cỏ và cây đang vàng lên, đỏ lên. Dương, động từ, ở đây, sẽ được hiểu theo nghĩa là cháy lên, rực lên. Và như thế, lúc này, cái rung động của ta có cháy lên không? Cỏ vàng lên một nỗi đớn đau trong gió mùa se sắt. Cây đỏ úa lên trong sắc thu. Và bóng (của mặt trời) cháy lên cái ánh sáng hắt hiu của buổi chiều đang ngả. Ba mệnh đề. Ba động từ. Mạnh, đối chọi, và thê thiết buồn.
Tại sao tôi lại dám cho vàng, đỏ và dương là ba động từ?
Sự suy nghĩ, lý giải và phân tích của tôi có gốc rễ trong những câu thơ cổ ngày xưa. Trong thơ Đường.
Ta hãy ngậm ngùi đọc lại bài Hành Cung của Nguyên Chẩn.
Liêu lạc cố hành cung / 寥落古行宮
Cung hoa tịch mịch hồng / 宮花寂寞紅
Bạch đầu cung nữ tại / 白頭宮女在
Nhàn tọa thuyết Huyền Tông / 閒坐說玄宗
Thường, người ta nghĩ tịch mịch hồng, ở câu số hai của bài thơ, là một danh ngữ (noun phrase), trong đó hồng là danh từ, tịch mịch là tính từ; hay như một ngữ tính từ (adjective phrase), trong đó hồng là tính từ, tịch mịch là trạng từ. Như Trần Trọng San đã nghĩ. Và như nhiều người khác đã nghĩ như thế. Còn tôi, tôi muốn nghĩ khác. Tôi muốn nghĩ theo lối nhìn và phân tích của Đỗ Bằng Đoàn và Bùi Khánh Đản, qua đó, tịch mịch hồng là một ngữ động từ (verb phrase), trong đó hồng là động từ và tịch mịch là trạng từ, bổ nghĩa cho hồng. [Hồng, ở đây, là động từ, như chữ “hồng” trong câu thơ Hoàng Mai kiều thượng tịch dương hồng của Nguyễn Du, đã được phân tích trong bài Mấy Suy Nghĩ Thơ của tôi].
Nghĩ như thế thì câu thơ tự nhiên sinh động hẳn lên biết bao. Câu thơ xao động, mang chứa trong nó một linh hồn đầy nước mắt: Hoa ở trong cung nở đỏ lên một cách tịch mịch. Tịch mịch hồng là như thế. Nó không hẳn chỉ là cái màu đỏ bất động của đóa hoa kia. Nó có một linh hồn. Nó xao xuyến. Chữ hồng ấy, nó nở, và hồn ta xúc động ngẩn ngơ.
Hoa không chết lặng. Hoa nở đỏ một nỗi thảm sầu trong lòng ta. [14]
Bóng tà tà dương. Bóng nắng chênh đi, mềm đi, nhẹ đi (tà tà) cho chiều thêm võ vàng màu quan tái. Cái bóng nắng kia thoi thóp. Nó có cái hơi thở của nó. Của thiên nhiên trong câu thơ. Trong tâm hồn và trong trái tim người ngắm cảnh.
Rất hiếm khi hồng có thể được xem, được dùng như một động từ (với nghĩa là làm cho đỏ, nở đỏ lên…) Cũng thế, làm sao có thể nhìn dương như một tính từ hay động từ, như ta đã thử bàn.
Nhưng trong văn thơ nói riêng và trong sự sáng tạo nói chung, cái gì cũng có thể xảy ra. Nó xảy ra trong một quy luật thẩm mỹ riêng của nó. Miễn là chúng ta có một trái tim để rung cảm và có một con mắt để nhìn thấy.
Sự sáng tạo, như thế, có khi ở trong một cái nhìn bậc hai. Hay trong một cái nhìn phân nhánh. Một thí dụ khác nữa về cách nhìn ngữ pháp:
Phu tử vấn thương nhân hồ bất vấn mã.
(Nguyên văn trong Luận Ngữ là: 廄焚 子退朝 曰 傷人乎 不問馬
Khải phần Tử thối triều viết thương nhân hồ bất vấn mã.
Trong những cổ bản chữ Hán, các câu văn không dùng chấm câu. Vì thế, ý nghĩa của câu, trong một số trường hợp, có thể giải thích thế này hay thế khác. )
Vậy, câu viết gọn lại ở trên (Phu tử vấn thương nhân hồ bất vấn mã) có nghĩa là gì?
Nên hiểu là: Phu tử hỏi có ai bị thương không, không, (bấy giờ mới) hỏi (đến) ngựa.
Hay nên hiểu là: Phu tử hỏi có ai bị thương không, không (quan tâm để) hỏi (về) ngựa.
Vậy thì, sau khi ở triểu về, thấy đám cháy, cái quan tâm của Phu tử là ở người trước, ngựa sau; hay cái quan tâm ấy chỉ nhắm vào người?
Nhìn cách nào cũng có cái đúng của nó. Cho dù, để nhấn mạnh đến lòng nhân của Phu tử, người ta thường có khuynh hướng nghiêng về ý sau.
Một thí dụ khác. Ta hãy đọc lại hai câu thơ của Lý Bạch (nói về cảnh bạn ông là Uông Luân tiễn ông ra đi). Ông nghe tiếng hát tiễn trên bờ:
Hốt văn ngạn thượng đạp ca thanh
Bất cập Uông Luân tống ngã tình
Đạp ca thanh là gì? Có phải là tiếng vừa giậm chân vừa hát (đạp: giậm chân) như các soạn giả quyển Thơ Đường, nhà xuất bản Văn Học Hà Nội (1987), đã hiểu không? Tiễn bạn đi tại sao lại phải giậm chân trên bờ thình thịch như thế? Hay lại có nghĩa là tiếng hát bài “Đạp ca” (một điệu từ). Còn Uông Luân tống ngã tình? Là tình ta tiễn Uông Luân (cụm từ Uông Luân tống (tiễn Uông Luân) bổ nghĩa cho cụm ngã tình (tình ta). Hay nên hiểu cho đúng là tình của Uông Luân tiễn ta (cụm Uông Luân tống ngã (Uông Luân tiễn ta) bổ nghĩa cho tình). [15]
Một thí dụ nữa về sự sáng tạo. Sáng tạo của người làm thơ, hay sáng tạo của người đọc thơ.
Hãy đọc lại hai câu thơ này của Nguyễn Du:
Cổ tự mai hoa hoàng diệp lý
Tiên triều tăng lão bạch vân trung
(Thăm chùa Thiền Tông, Nguyễn Du)
Ta nên hiểu hai câu thơ này như thế nào?
Hiểu là:
Hoa mai ở ngôi chùa cổ, trong đám lá vàng
Vị sư già triều trước, giữa cõi mây trắng
Hay nên hiểu là:
Cây mai ở ngôi chùa cổ nở hoa trong đám lá vàng
Vị sư triều đại trước già đi giữa cõi mây trắng
Vấn đề ở đây được đặt ra ở chỗ, mai hoa có phải là hoa mai không? Hay lại là cây mai nở hoa (hoa, biến thành động từ). Tăng lão có phải là vị sư già không? Hay lại là vị sư già đi (lão, biến thành động từ). Quan trọng là ở cách ngắt đoạn. Hai câu thơ ấy, nếu mỗi câu được ngắt đoạn là 3 / 4 thì sẽ khác xa về mặt ý nghĩa so với khi chúng được ngắt là 4 / 3. Ngắt 3 / 4 như thế là nhìn hoa và lão như những động từ:
Cổ tự mai / hoa hoàng diệp lý
Tiên triều tăng / lão bạch vân trung
Khi nhìn hoa và lão như động từ, ta thấy cả thế giới như bị đảo lộn. Câu thơ càng trở nên đẹp và sinh động biết bao. Ta nhìn thấy sự xao động của thiên nhiên và bước đi của thời gian. Nguyễn Du càng trở nên đáng yêu hơn nữa. Và làm sao ta biết được là Nguyễn Du, khi viết những câu thơ trên, đã không dùng hoa và lão như những động từ? [16]
Người Anh, Mỹ cũng có thể biến những tính từ white, red… thành động từ whiten, redden. Người Pháp biến những tính từ blanche, rouge, jaune… ra động từ blanchir, rougir, jaunir… Nhưng chính cái rõ rệt trong sự thay đổi phần tiếp vĩ ngữ của các từ này đã làm giảm mất cái kỳ ảo đáng yêu của ngôn ngữ, cái hay và cái bất ngờ của sự sáng tạo hay sự nhìn thấy. Như trong những thí dụ mà ta vừa thử phân tích. Tất cả những điều mà tôi vừa trình bày ở trên không nằm trong sự tiêu chuẩn hóa của các quy luật. Chúng nằm trong sự rung động của trái tim và trong mắt nhìn của mỗi người thưởng ngoạn.
Tôi không khẳng định rằng trường hợp của bóng tà tà dương giống y hệt như trường hợp của những câu thơ trên. Cách lý giải về kết cấu của cụm từ bóng tà tà dương trong bài này, cũng như trong bài Mấy Suy Nghĩ Thơ của tôi, chỉ là sự thử tiếp cận với cái bất ngờ, trên một căn bản khả hữu của quy luật ngôn ngữ và của sự sáng tạo. Sự lý giải đó cũng dựa trên những sự kiện đã xảy ra trong ngôn ngữ, trong thao tác ngôn ngữ của các nhà văn, nhà thơ. Cùng lúc, nó cho phép tôi bảo vệ sự thẩm mỹ cần thiết của cái đẹp câu thơ trong hình ảnh, trong rung cảm, và trong cấu trúc. Tôi nghĩ, khi chúng ta chia sẻ sự rung cảm của mình với những người khác, và khi chúng ta tiếp nhận sự chia sẻ của người, kinh nghiệm của chúng ta sẽ được nhân lên. Cái kinh-nghiệm-được-nhân-lên ấy sẽ cho chúng ta một chiếc kính vạn hoa để nhìn vào đời sống, nhìn vào văn chương. Cánh bướm của cái đẹp, của sự sáng tạo, chấp chới xuân hạ thu đông trong đó.
Bùi Vĩnh Phúc
(II, 1994
Xem lại & nhuận sắc/bổ sung, III, 2025)
Chú thích cho Phần 2
[9] Những luật về ngôn ngữ mà ta thử đưa ra trong bài, chẳng hạn về cách dùng với những từ “ăn” hoặc “rất”, là những luật tổng quát. Chúng có thể bị phá vỡ trong một số trường hợp ngoại lệ. Như đối với luật về từ/khái niệm “ăn”. Trong văn chương, và thậm chí trong ngôn ngữ thường ngày, người ta có thể nói là “Tàu ăn than” (nhớ cảnh “tàu hoả” phải chạy máy bằng than như trong một cảnh của phim “Doctor Zhivago” lúc băng qua cánh đồng đầy tuyết trắng); hay “Một lần cho tởn tới già / Đừng đi nước mặn cho hà ăn chân”; hay cách viết biểu tượng như “Ăn thành phố”, “Ăn hải cảng”, v.v.. Dù sao, chính những ngoại lệ làm nên giá trị của quy luật. Và, trong văn chương, sự sáng tạo nhiều khi là ở việc phá vỡ quy luật để tạo nên cái mới, nếu cần thiết.
[10] Đặng Đình Hưng là bố của nhạc sĩ/nghệ sĩ Đặng Thái Sơn, (người đoạt) giải dương cầm thế giới tại cuộc thi piano quốc tế Frédéric Chopin lần thứ X (tháng Mười,1980) ở Warszawa (Ba Lan)]. Đây là lần đầu tiên giải piano quốc tế được trao cho một người châu Á,
[11] Xin xem thêm bài “Về Tính Vũ Đoán trong Viết, Đọc, và Thẩm Thức Văn Chương”, của Bùi Vĩnh Phúc, tại http://phannguyenartist.blogspot.com/2017/09/bui-vinh-phuc.html
[12] Trong đa số các ngôn ngữ Ấn-Âu (Indo-European), chẳng hạn như trong tiếng Anh, từ để chỉ nhân loại, con người nói chung là man (số nhiều là men), hay mankind. Man, từ tiếng Anh cổ-đại mann, cũng để chỉ một người đàn ông. Ở những xã hội xưa, người ta coi (vai trò của) đàn ông là quan trọng, nên từ ấy và ý nghĩa của nó đã được dùng trong bối cảnh xã hội và trong khung suy nghĩ vừa nói. Nhưng ý thức xã hội dần dần thay đổi theo sự thay đổi của những xã hội, người ta có thêm từ để chỉ người nữ. Woman, women. Cái dấu ấn ngôn ngữ, phản ánh một lối nhìn vẫn còn đó; nhưng cách người ta nhìn nó trong thời đại mới đã khác đi. Trong tiếng Việt, từ thanh niên là một trường hợp tương tự. Ngày xưa, từ ấy được dùng để chỉ chung những người tuổi trẻ, tuổi xanh. Nay, nó thường được dùng để chỉ những người tuổi trẻ phái nam. Để chỉ những người phái nữ khoảng cùng lứa tuổi ấy, người ta thường dùng thiếu nữ hay thanh nữ.
(Dĩ nhiên, man và thanh niên, trong một số ngữ cảnh, vẫn được dùng theo nghĩa gốc; nhưng trong những ngữ cảnh có hàm ý đối lập phái tính, nó chỉ được dùng theo nghĩa thu hẹp của nó.)
[13] Đàn bà, đàn ông thì rõ quá rồi. Chúng là một đơn vị từ. Và thường được dùng như một danh từ tập hợp. Thí dụ: Đàn bà là những bông hoa biết nói! Nhưng con trai và con gái thì cũng thế. Chẳng hạn: Con trai (thì) hay nghịch; con gái (thì) hay khóc!
Khi nói, áo đàn ông (hay áo con trai) thì ta nên hiểu là áo (của) đàn ông, hay áo (của) con trai. Đàn ông, con trai, trong trường hợp này, vẫn là danh từ. Áo, quần, trong tiếng Việt, không hề có phái tính. Nó không thể là đực, cái hay trống, mái gì cả; bởi vậy, đàn bà, đàn ông, con trai, con gái, nếu chúng đi với những từ đại loại như áo, quần, v.v., thì chúng cũng vẫn là danh từ. Ngay cả trong trường hợp dễ dãi, ta không cho là cụm từ áo con trai có hiểu ngầm từ của (chỉ một liên hệ sở hữu) chen vào, thì con trai, trong trường hợp ấy, vẫn là một danh từ trong bản chất. Nó chỉ được dùng như tính từ trong cụm đó mà thôi. Như trong cụm tiểu luận văn học. Văn học, trên căn bản, vẫn là một danh từ; nó chỉ được dùng như tính từ trong cụm ấy.
Như thế, ta không thể bảo rằng đàn ông, đàn bà, con trai, con gái (hay nói tắt là trai, gái) là những từ không khu biệt.
[14] Theo tìm hiểu của tôi, ít nhất có gần 20 bản dịch ra các thứ tiếng như Anh, Pháp, Đức bài thơ Hành Cung của Nguyên Chẩn. Đa số đều nhìn “hồng”, một cách bình thường, như một tính từ. Có những bản dịch, vì một lý do nào đó, tìm cách lướt qua, bỏ hẳn chữ “hồng” đi, không dịch nó. Chỉ nhấn mạnh vào ý “hoa nở”. Dù sao, có hai bản dịch, một của John C.H.Wu trong The Four Seasons of T’ang Dynasty, và một của Paul Jacob trong Vacances du Pouvoir, dịch theo hướng cho “hồng” là một động từ. Câu dịch của C.H.Wu: The flowers in utter loneliness blush (“Blush”, “đỏ lên”, “rực hồng lên”. Động từ “blush” khiến ta nghĩ về những đoá hoa như những người con gái còn xuân đẹp). Câu dịch của Paul Jacob: Dans le palais rougit, seule, une fleur. “Rougit” (trong ngữ cảnh này, cũng mang nghĩa “đỏ lên”, “rực hồng lên” như động từ “blush”), từ động từ nguyên mẫu “rougir”, ở đây, được dùng theo lối đảo trang. Mệnh đề chính là “Une fleur rougit”; từ “seule” và trạng ngữ (adverbial phrase) “Dans le palais” đều đứng vai trò bổ từ/bổ ngữ cho động từ ‘rougit”.) “Hồng”, trong “Cung hoa tịch mịch hồng”, như thế, có thể là tính từ hay động từ. Nhìn cách nào cũng có cái lý và cái ý của nó. Như đã nói, tôi nghiêng về cách nhìn nó như một động từ. Để thấy được cái sống động của cảnh và cái sáng tạo của chữ và nghĩa.
[15] Xem Trần Văn Tích, Tu Từ Học…Y Khoa (Văn Học, số 72 & 73, tháng 2 và 3, 1992)
[16] Xem Đỗ Quý Toàn, Tìm Thơ Trong Tiếng Nói, nxb Thanh Văn, California, 1992.
Về bài thơ Thăm chùa Thiền Tông này của Nguyễn Du, hai câu thơ được trích dẫn ở đây, chỉ là hai câu thơ được truyền tụng. Và, thật ra, chúng khác so với bản in trong các sách văn học. Sự khác biệt này nằm ở câu thứ ba, câu thực đầu tiên, với “Cổ tự…” Ngoài ra, bài thơ này thường được gọi tên là Vọng Thiên Thai Tự. Dù sao, chính cái khác biệt (hoặc sai lạc) ấy, phần nào, hoặc từ một góc độ nào đó, cũng làm cho bài thơ có cái nét đặc biệt riêng. Có dịp, tôi sẽ bàn kỹ lại sự khác biệt về mặt ý nghĩa, và một vài khía cạnh liên hệ khác, của hai câu thơ này trong toàn bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du.
bài đã đăng của Bùi Vĩnh Phúc
- Tạp chí Ngôn Ngữ ấn bản đặc biệt: BÙI VĨNH PHÚC • Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương - 24.03.2026
- Nói chuyện Ăn trong Đời sống, Tâm thức, và Ngôn ngữ Việt - 19.02.2026
- Chiều muộn. Ánh chiếu trên một dòng sông / Evening. Light Over a River - 30.12.2025
- cho đi lại từ đầu - 13.11.2025
- Phỏng vấn nhà nghiên cứu, phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc (về chuyện Đọc và Viết & về Văn Học Hải Ngoại) – kỳ 2/2 - 29.08.2025
- Phỏng vấn nhà nghiên cứu, phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc (về chuyện Đọc và Viết & về Văn Học Hải Ngoại) – kỳ 1/2 - 28.08.2025
- Hãy ngước mặt và thả bay đi những cơn mưa - 01.08.2025
- Lift Up Your Face and Let the Rain Fly Away - 01.08.2025
- Về vấn đề ngôn ngữ và sự sáng tạo của nhà văn, nhà thơ (phần 1/2) - 24.04.2025
- Mấy Suy Nghĩ Thơ - 10.04.2025
- Trên đường đi tìm đoá hồng thất tung - 07.01.2025
- Mùi trần gian và hương hoa huệ trắng trong thơ Lê Đình Bảng - 16.08.2024
- Và khi về ngồi dưới những gốc nho biển - 28.06.2024
- Nói Chuyện Đọc và Viết & Cái Sống, Thân Phận, Hiệu Ứng của Chữ - 09.05.2024
- mất tích và thời gian trong ngôn ngữ & cấu trúc động của Ai - 26.04.2024
- 9 Khuôn Mặt . Chín Phong Khí Văn Chương - 12.03.2024
- Thanh Tâm Tuyền (1936 – 2006) – ‘cái tôi ẩn mật…’ 3-4 (kỳ chót) - 09.02.2024
- Thanh Tâm Tuyền (1936-2006) – kỳ iii (‘Cái Tôi ẩn mật…’ 1-2) - 26.01.2024
- Thanh Tâm Tuyền (1936-2006) – kỳ ii [.4.5.] - 19.01.2024
- Thanh Tâm Tuyền (1936-2006) – Kỳ I [.1. 2. 3.] - 12.01.2024
- Lối Về Của Nước của Trần C. Trí- Bùi Vĩnh Phúc Giới Thiệu - 20.06.2023
- Dịch Thuật (Văn Học) trong Bối Cảnh Toàn Cầu Hóa / Một Số Chiến Lược Diễn Dịch & Những Hệ Hình Mới (*) - 15.04.2022
- Bùi Bích Hà, Một Mình Trong Nỗi Nhớ - 19.07.2021
- Một Cách Nhìn về Mười Ba Năm Văn Chương Việt Ngoài Nước (1975-1988) - 22.09.2020
- William Saroyan & kịch “Trái Tim Tôi Trên Miền Non Cao” - 02.12.2019
- Vũ Khắc Khoan & Samuel Beckett: Nghệ thuật, như một cái cớ - 05.11.2019
- Bùi Vĩnh Phúc: Trả Lời Phỏng Vấn Chuyên Đề về Kịch của Da Màu - 16.10.2019
- Những Bóng Mây của Một Thời Lưu Lãng - 25.04.2019
- Trả Lời Nhà Văn, Dịch Giả Đinh Từ Bích Thuý - 31.12.2018
- Đọc Kiều của Trương Vĩnh Ký, nghĩ về ngôn ngữ Việt & một vài khía cạnh biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa trong tiếng Việt (kỳ 4 - hết) - 28.12.2018
- Đọc Kiều của Trương Vĩnh Ký, nghĩ về ngôn ngữ Việt & một vài khía cạnh biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa trong tiếng Việt (kỳ 3) - 27.12.2018
- Đọc Kiều của Trương Vĩnh Ký, nghĩ về ngôn ngữ Việt & một vài khía cạnh biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa trong tiếng Việt (kỳ 2) - 26.12.2018
- Đọc Kiều của Trương Vĩnh Ký: Nghĩ về Ngôn Ngữ Việt và Một Vài Khía Cạnh Biến Đổi Ngữ Âm, Ngữ Nghĩa trong Tiếng Việt”* (kỳ 1) - 25.12.2018
- Truyện & Tiểu luận của Phùng Nguyễn qua cái nhìn Thi pháp học Văn hoá - 21.11.2018
- Về Lượng Tử, Tiếng Chim Hót, Văn Chương, và Con Người (kỳ 2/2) - 04.01.2018
- Về Lượng Tử, Tiếng Chim Hót, Văn Chương, và Con Người (kỳ 1/2) - 03.01.2018
- Dẫn Độ & 6 bài thơ khác - 07.12.2017
- Chùm thơ Bùi Vĩnh Phúc - 01.11.2017
- Viết và Đọc: những nẻo đi về - 03.10.2017
- Nói Chuyện Thơ Người Việt Ngoài Nước - 06.09.2017
- Như Chiếc Rìu Đập Vỡ Mặt Băng ( Tựa cho tuyển tập Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại ) - 11.07.2017
- Đọc, giữa những ảnh xạ của phê bình (phần 2) - 30.06.2017
- Đọc, giữa những ảnh xạ của phê bình (phần 1) - 29.06.2017
- NHỮNG ĐÓA HOA PHẤT PHƠ DỊU DÀNG TRONG GIÓ - 27.01.2017
- Bùi Bảo Trúc / giữa ma-trận của Ngôn Ngữ & Cuộc Đời - 29.12.2016
- Mario Vargas Llosa: ngọn lửa cháy sáng của tiểu luận và những giấc mơ - 08.07.2016
- Bùi Vĩnh Phúc: Vài Suy Nghĩ Nhỏ Về Văn Và Chữ Việt, Trong Và Ngoài Nước, Kể Từ 1975 - 02.05.2016
- Từ Những Chùm Hoa đến Phục Sinh của Những Mùa Đời - 08.02.2016
- Phùng Nguyễn, bên ngoài lưới trần gian - 05.01.2016
- Hãy ngước mặt và thả bay đi những cơn mưa - 25.12.2015
- Tiễn Võ Phiến - 05.10.2015
- Nghĩ về Võ Phiến và cuốn Văn Học Miền Nam, Tổng Quan - 02.10.2015
- Ẩn Dụ, một thế giới mở - 15.06.2015
- Cái Đẹp của Ngôn Ngữ & Nét Hậu Hiện Đại trong Khả Thể (*) - 06.03.2015
- Về nhận định của nhà phê bình Vương Trí Nhàn - 29.12.2014
- Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam (1954 – 1975): Phẩm Tính và Ý Nghĩa (*) - 12.12.2014
- Và vó ngựa chập chờn như mắt ai xa - 16.09.2014
- Về những khí hậu & mưa nắng riêng (Mấy suy nghĩ từ một cuộc truyện ngắn, một cuộc sẻ chia) - 02.05.2014
- Truyện Ngắn, Mỹ Học của Cái Vụt Qua - 01.04.2014
- Nguyễn Xuân Hoàng: những bước đi trần gian/những nhịp đập thời gian - 26.08.2013
- Nhớ Nguyễn Mộng Giác. Và tưởng nhớ một thời văn - 16.08.2012
- Hãy thử dán lại những hạnh phúc cũ (*) - 26.01.2012
- Một sổ thông hành để đi vào trái tim đời - 28.07.2011
- Mấy Tưởng Khúc với/về Phạm Công Thiện - 14.03.2011
- Dịch và... dịch: một thoáng nhìn - 30.12.2010
- Những Giấc Mơ Trộn Lẫn... - 24.11.2010
- Cao Xuân Huy, một ngọn gió đã bay xa (*) - 17.11.2010
- Nhân vụ Trái Phá & Tình Yêu, bàn về chuyện chữ nghĩa, câu cú, dịch thuật, và phê bình - 20.10.2010
- Tình Yêu & Con Tim trong Tình Sầu của Trịnh Công Sơn: một thoáng dư ba (góp ý với Đinh Từ Bích Thúy và Thái Kim Lan) - 20.04.2010
- Trên những đường bay của chữ - 02.11.2009
- Về liên hệ giữa người quan sát, thiết bị đo và vật được quan sát - 22.08.2009
- Về Tính Vũ Đoán trong Viết, Đọc, và Thẩm Thức Văn Chương - 18.08.2009
- Vấn đề thẩm thức một tác phẩm nghệ thuật - 12.08.2009
- Nghệ Thuật Ngôn Ngữ Trong Ca Từ của Trịnh Công Sơn - 21.04.2009
- Trên Những Lớp Sóng Của Mùa Biển Động - 27.03.2009
- Nỗi Băn Khoăn Của Nguyễn Mộng Giác (*) - 25.03.2009
6 Comments To "Về vấn đề ngôn ngữ và sự sáng tạo của nhà văn, nhà thơ (phần 2/2)"
#1 Comment By Long Nguyen On 04/05/2025 @ 7:29 pm
Tà tà, thường thường, thanh thanh
Từ đôi tiếng Nôm (dạng điệp vận) trong truyện Kiều khá nhiều. Có những từ mượn thẳng luôn chữ Hán không cần chế ghép để làm thành từ Nôm. Thường thường 常常, thanh thanh 清清, tà tà 斜斜 nằm trong số đó. Đọc vài trang đầu Truyện Kiều cũng có thể nhặt ra không ít: thường thường, tà tà, dàu dàu, sè sè, nao nao, thanh thanh, hiu hiu, ào ào, rành rành …
Có điều thú vị là gần như hầu hết từ đôi ngày xưa trong Truyện Kiều vẫn còn mang nghĩa và được người đời nay xử dụng lại không khác nghĩa mà Nguyễn Du đã dùng. Cũng có các từ hiện nay không còn hoặc rất ít được dùng, như: Sè sè nấm đất bên đàng, hoặc: Nao nao dòng nước uốn quanh. Các từ đôi điệp vận mượn thẳng từ gốc Hán có thể dùng nghĩa giống như người Hoa xử dụng nhưng cũng có thể mở rộng hơn trong cách nói cách viết của ngôn ngữ người Việt. Thí dụ:
. 常常: Thường thường tiếng hoa là kinh thường, thông thường (frequently, usually, often); tiếng Việt là thông thường (usually), thói thường lẽ thường (common sense), bình thường (normaly).
. 清清: Thanh thanh tiếng Hoa trong trong (clean, clear); tiếng Việt mùi vị nhạt nhạt thanh thanh, kiểu dáng trông thon thả thanh thanh.
. 斜斜: Tà tà tiếng Hoa nghiêng nghiêng lệch lệch (slanting, sloping) 斜風細雨 tà phong tế vũ – lất phất mưa phùn, 歪歪斜斜 oai oai tà tà – run rẩy nguệch ngoạc ; tiếng Việt tà tà nghĩa là từ từ, chậm chậm, thong thả, bóng xế xế, hướng chênh chếch.
Tà dương 斜陽 là từ gốc Hán. Tuy vậy, khi phiên dịch sang tiếng Việt thì có rất nhiều từ Nôm tương đương đồng nghĩa. Tà dương = xế chiều, bóng tà, bóng chiều, buổi chiều, chiều tà, chiều hôm, bóng xế, nắng chiều.
#2 Comment By Bùi Vĩnh Phúc On 09/05/2025 @ 12:14 am
Trong thao tác làm việc, để xét một từ trong một văn bản chữ Nôm là một từ Nôm được ông cha ta chế tác, dựa trên chữ Hán, hay là một từ Hán Việt được mượn thẳng nguyên dạng từ tiếng Hán, và đọc theo âm Việt (nên gọi là từ Hán Việt), ta dựa theo những tiêu chí sau: 1/ Từ ấy là chữ gốc Hán, dùng trong một/các văn bản viết bằng Hán văn cổ (có thể của cả các tác giả Trung Hoa lẫn Việt Nam). 2/ Được vay mượn nguyên dạng từ chữ Hán của Trung Hoa. Và 3/ Thường có nghĩa cố định, có thể tra cứu được trong các từ điển Hán Việt hiện đại, và ý nghĩa của nó trong văn bản Nôm cũng tương tự như thế.
Ta tạm thử xét ba từ “tà tà, “thường thường” và “thanh thanh”. Các định nghĩa được đưa ra ở đây nằm trong nhiều từ điển Hán Việt hiện đại được phổ dụng và có thể có trên mạng.
• Tà tà 斜斜. Có nghĩa là ‘nghiêng, chéo, xiên xiên’, hay chỉ ánh nắng buổi chiều phai phai, nhạt nhạt đi. Tôi đã có dịp trình bày mấy câu “Xuân vị lão / Phong tế vũ tà tà” (春未老 風細柳斜斜) của Tô Đông Pha trong “Vọng Giang Nam – Siêu Nhiên Đài Tác”, có nghĩa là “Xuân chưa muộn / Gió nhẹ, liễu la đà”, hay “Mùa xuân như vẫn còn nguyên, vẫn chưa già / Gió nhè nhẹ liễu nghiêng nghiêng”.
Một thí dụ khác. “Điệp chướng hiểu mai yên vũ / Hốt tác phi hoa vô số / Chỉnh chỉnh phục tà tà” (疊嶂曉埋煙雨 忽作飛花無數 整整復斜斜) trong “Như mộng lệnh – Tuyết trung tác”, một bài từ của Tô Tường, thời Nam Tống. Nó có nghĩa là “Mưa mù núi xa ẩn hiện trong buổi sớm mai / Bỗng hoá ngàn hoa bay loạn / Khi rơi thẳng, lúc lại bay nghiêng”.
Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du có hai câu lục bát: “Tà tà bóng ngả về tây / Chị em thơ thẩn dan tay ra về ( bản Nôm là 斜斜䏾我𧗱西 / 姉㛪他矧扛𢬣𠚢𧗱). Hai chữ “tà tà” của Nguyễn Du lấy nguyên dạng hai chữ “tà tà” trong các bản thơ cổ như đã trình bày ở trên. Nghĩa của nó cũng là “nghiêng nghiêng, xéo (không thẳng), chênh chếch”. Từ “tà tà” là trạng từ, bổ nghĩa cho động từ “ngả”. Bóng chiều ngả chênh chếch, nghiêng nghiêng. Còn trong câu sau, trạng từ “thơ thẩn” bổ nghĩa cho động từ “dan tay”, là nắm tay, dắt tay nhau.
Ta còn có thể thấy từ “tà tà” này trong các cụm như “tà tà phi điểu” ( 斜斜飛鳥, Chim bay nghiêng, lượn qua lượn lại), hay “nhật tà tà” ( 日斜斜, Mặt trời nghiêng bóng, hay Ngày tàn, Chiều rủ bóng ). Còn từ “tà tà”, theo nghĩa là “thong thả”, “thư thái, thoải mái, không lo ngại gì”, như trong “sống tà tà”, “đi tà tà”, “chơi tà tà”, “uống tà tà”, “say tà tà”, v.v., như đã có dịp nói, là một từ Nôm được Việt hoá sau này, với một nét nghĩa khác so với nghĩa của từ “tà tà” Hán-Việt.
• Thường thường 常常. Có nghĩa là “luôn luôn, trung bình, không có gì trội hơn”; “bình thường”; “thói chung”; “lâu mãi”; “nhiều lần”; “tiếp nối luôn, không dứt”. Chẳng hạn trong bài “Độc chước” của Nguyễn Văn Giao, một danh sĩ Việt Nam thế kỷ XIX: “An đắc hữu tửu thời / Thường thường hữu tri kỷ” (安得有酒時 / 常常有知己 Ước sao khi có rượu thì thường thường có luôn cả bạn tri âm”. Trong Truyện Kiều, ở ngay phần đầu giới thiệu gia thế nhà họ Vương, có câu: “Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung” ( bản Nôm là 家資擬拱常常堛中). Hai từ “thường thường” ở Truyện Kiều và ở trong bài “Độc chước” là một, và cùng mang nét nghĩa chung là “bình thường” hay “thường như thế”. Chữ “thường” đứng riêng cũng có những nghĩa như đã thử liệt kê, nhưng cấu trúc đôi sẽ mang nghĩa mạnh hơn. Đối với nét nghĩa “nhiều lần” hay “lâu mãi” thì trong tiếng Việt ta thường nói, chẳng hạn, “Anh ta thường hay chơi trò nghịch ngợm”, hay “Cô ấy thường buồn”. “Cây thường xuân” 常春 (danh pháp khoa học là Hedera helix) sở dĩ được gọi tên như thế vì cây luôn giữ được màu xanh quanh năm, bất kể mùa đông hay hè.
• Thanh thanh 清清. Chữ ‘thanh’ 清 có nghĩa là “trong sạch”; “xinh đẹp, tú mỹ” (như trong “mi thanh mục tú”, mày xinh mắt đẹp); “trong” (chẳng hạn để nói về nước); “sạch” (chẳng hạn để nói về phẩm cách); “mát” và “sáng” (như trong 清風明月 ‘thanh phong minh nguyệt”, gió mát trăng thanh/sáng); “lặng, thanh vắng” (như trong 清夜 “thanh dạ”, đêm trong lành, yên tĩnh); “ít, không nhiều” (tđ Đào Duy Anh). Trong tiếng Việt, nói về “mùi vị nhạt nhạt thanh thanh” là chỉ vào cái vị nhẹ, mát, ít gia vị của món ăn. Còn nói “Cô ấy có nét thon thả, thanh thanh” thì thường là muốn khen cô ấy trông đẹp đẽ, cao quý, “xinh đẹp, tú mỹ”, dáng người gọn, không “to lớn, đậm đà”. Trong Truyện Kiều có câu: “Khác màu kẻ quý người thanh” (chữ Nôm ‘người thanh’ là 𠊚清 , người đẹp đẽ, cao quý). Còn trong câu hát của bài “Ngày Hạnh Phúc” của Lam Phương, “Trời hôm nay thanh thanh, gió đưa cành mơn man tà áo” thì “thanh thanh” vừa chỉ màu xanh nhẹ của bầu trời, vừa chỉ vẻ tươi mát, trong lành của khung cảnh thiên nhiên, tức là nó có thể ôm luôn hai nghĩa “xanh xanh” 青青 và “mát mẻ, trong lành” 清清.
Trong bài Thú Thanh Nhàn (Bạch Vân thi tập) của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ta có câu “Trăng thanh gió mát là tương thức”, hai chữ Nôm “trăng thanh” cũng được viết là 𦝄 清.
Trong tác phẩm Chinh Phụ Ngâm (征婦吟) của Đặng Trần Côn viết bằng Hán văn, có nhiều câu thơ, đoạn thơ rất đẹp, gây ấn tượng và được nhiều người biết. Ta có thể kể đến hai câu thơ này:
Thanh thanh lưu thuỷ, bất tẩy thiếp tâm sầu
Thanh thanh phương thảo, bất vong thiếp tâm ưu
(Nước trong vắt chảy mãi, cũng chẳng rửa được nỗi sầu trong lòng thiếp.
Cỏ thơm xanh ngát, vẫn chẳng làm thiếp quên nỗi lo lắng trong lòng. )
清清流水,不洗妾心愁
青青芳草,不忘妾心憂
Hai câu thơ này được Phan Huy Ích (có thuyết cho là của Đoàn Thị Điểm) dịch thành:
Nước trong chảy, lòng phiền chẳng rửa
Cỏ xanh thơm, dạ nhớ khó quên
Cũng nên để ý, hai từ “thanh thanh” trong hai câu sóng đôi này khác nhau. Từ trong câu trên để chỉ sự trong trẻo của nước ( 清清 ); từ ở câu dưới để chỉ sự xanh ngát của cỏ ( 青青 ).
Như thế, cả ba từ “tà tà”, “thường thường’ và “thanh thanh” đều có thể được tìm thấy trong cách nói Việt, trong các câu thơ Nôm, và trong các văn bản chữ Hán. Chúng cũng có thể được tra cứu trong các từ/tự điển Hán Việt. Nghĩa của các từ này, trong cả các văn bản Hán và Nôm, là như nhau, và là nghĩa mà ta đã trình bày và phân tích ở trên. Bởi thế, theo các tiêu chí về mặt thao tác để xác định văn bản và ý nghĩa, cả ba từ này đều là những từ Hán Việt, dù chúng nằm trong các văn bản Nôm cổ hay Việt ngữ hiện đại.
Sở dĩ ba từ này, và một số từ khác có dạng tương tự, dễ bị nhầm lẫn với các từ Nôm, hay Việt, vì chúng được dùng khá nhiều trong các văn bản Nôm, và cũng được cấu trúc theo dạng láy đôi, giống như những từ láy (theo dạng đặc biệt là láy đôi, mà ngữ pháp Việt Nam có thể gọi là “từ lặp”). Cũng nằm trong dạng từ láy, nhưng những “từ lặp” không phải là những từ điệp vận (tức láy vần, như ‘tần ngần’, ‘lơ thơ’, ‘tù mù’, v.v.), hay từ láy phụ âm đầu (như ‘ngơ ngác’, ‘thủng thẳng’, ‘húng hắng’, ‘chằng chịt’, v.v.). Còn ‘dàu dàu’, ‘sè sè’, ‘nao nao’, ‘hiu hiu’, ‘ào ào’, ‘rành rành’, v.v., là những từ lặp trong tiếng Nôm, tiếng Việt.
Dù sao, điều quan trọng là tất cả những tiếng, những từ Hán Việt được ôm ấp và gìn giữ trong lời ăn tiếng nói Việt, trong ngôn ngữ Việt, chính là tiếng Việt, chữ Việt. Chúng mang đường nét, âm điệu Việt. Và chúng có thể có những thang độ Việt hoá khác nhau, mặc dù vẫn là từ Hán Việt. Cùng với những từ ngữ Việt khác, chúng đã là một phần máu thịt và tâm hồn của con người Việt, của văn hoá Việt. Nhận biết, yêu thương và gìn giữ tất cả những điều ấy là niềm hãnh diện, đồng thời cũng là trách nhiệm, của mỗi một chúng ta.
bvp
#3 Comment By Long Nguyen On 10/05/2025 @ 10:31 pm
Cảm ơn nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc đã đọc và phân tích giải nghĩa thêm. Truyện Kiều tự thân là truyện Nôm lục bát của Việt Nam do Nguyễn Du viết thì cách hành văn tuân theo cách nói cách diễn tả của tiếng Việt. Và những tác phẩm nào viết bằng chữ Hán của văn sĩ Trung Hoa hay văn thi sĩ Việt Nam thì họ theo cách viết cách diễn tả của tiếng Trung Hoa (cổ hoặc kim).
Còn sự giao thoa nhau giữa hai ngôn ngữ thì tự nhiên bởi vì từ và tiếng Việt Nam (Nôm) vốn vay mượn từ chữ Hán của Trung Hoa không ít. Thử so sánh vài trường hợp từ đôi tiếng Nôm (dạng điệp vận) mươn thẳng chữ Hán, và cách dùng của chúng trong Truyện Kiều, so với cách dùng chính những từ đó của người Trung Hoa, thường thường, tà tà, thanh thanh.
Có nhà viên ngoại họ Vương
Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung
. 常常, thường thường là bình thường, normal, middle class, tĩnh từ phụ nghĩa cho gia tư gia cảnh. Nó trở thành tiếng Nôm, từ Nôm. Cũng từ này được dùng trong văn chương Trung Hoa chữ Hán thì nghĩa không hẳn như vậy. Thử xem 常常 được người Hoa dùng như dưới đây:
– 是病也,江南之人,常常有之 (trích, Hàn Dũ đời Đường, Tế Thập Nhị Lang Văn), “thị bệnh dã, Giang Nam chi nhân, thường thường hữu chi”, là bệnh vậy, người ở Giang Nam, thường thường có như thế. Thường thường ở đây là trạng từ nghĩa là thông thường, thường hay, frequently, usually, often, phụ nghĩa cho động từ hữu 有 có.
Trường hợp tương tự cho các từ tà tà và thanh thanh được dùng trong Truyện Kiều tiếng Nôm của Nguyễn Du.
Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dan tay ra về
. 斜斜, tà tà, tà tà bóng ngả về tây, cái bóng mặt trời đi xế xuống chân trời về hướng tây. Thật ra mặt trời chẳng chuyển động hay bị ngả nghiêng gì cả. Do trái đất tự quay từ tây sang đông nên mặt trời chuyển động biểu kiến hướng ngược lại. Và chuyển động này xảy ra trong cảnh thiên nhiên được thấy một cách từ từ thay đổi tình trạng bóng tối theo từng giờ. Thành ra câu thơ có thể hiểu dễ dàng là bóng mặt trời lặn về hướng tây từ từ. Tà tà trạng từ bổ nghĩa cho động từ ngả. Còn nếu muốn diễn tả sự nghiêng nghiêng chênh chếch của bóng sáng thì từ Nôm cũng không ít: chiều tà, bóng xế, bóng tà, xế chiều.
– 春未老風細柳斜斜 Xuân vị lão phong tế liễu tà tà (Tô Đông Pha), mùa xuân chưa hết, gió thổi nhẹ nhành liễu lung lay. Câu thơ của TĐP diễn tả sự đung đưa qua lại của nhành cây liễu rũ, weeping willow tree branches. Ngoài ra, chữ 斜 tà đọc theo âm quan thoại TQ là “xié” nghe nhẹ hơn chữ “tà” của VN. Trong truyện Kiều cũng có hình ảnh tương tự như vậy và Nguyễn Du đã diễn tả rất thơ mộng: lơ thơ tơ liễu buông mành.
Bước dần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
. 清清, thanh thanh cũng vậy, từ Nôm, trong truyện Kiều đã có các nhà văn VN chú nghĩa là phong cảnh xinh xinh, a pretty scenery, (Nguyễn Quảng Tuân chú là xinh xắn).
– 清清流水,不洗妾心愁 (Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn) Thanh thanh lưu thủy, bất tẩy thiếp tâm sầu. Trong trong nước chảy, không rửa sạch được nỗi buồn của thiếp. Hán ngữ chữ thanh 清 bộ thủy nên diễn tả tính của nước. Ở đây “thanh thanh” rất khó được hiểu nghĩa là “xinh xinh” của phong cảnh như tiếng Nôm trong truyện Kiều.
Tóm lại từ đôi (dạng điệp vận 2 chữ giống nhau) tiếng Nôm trong truyện Kiều có khá nhiều. Chúng có thể tạo thành bằng cách chế ghép từ chữ Hán như sè sè 茌茌, chúng cũng có thể mượn thẳng chữ Hán nhưng đọc khác âm như dàu dàu 油油 từ Hán dầu dầu, Hoặc chúng mượn thẳng chữ Hán và đọc như chữ Hán Việt như tà tà 斜斜, thanh thanh 清清. Ấy là chưa kể vô số từ đôi (dạng không điệp vận) khác: đau đớn, vững vàng, đầy đặn, sắc sảo, mặn mà, xấp xỉ, ngổn ngang, thơ thẩn, … Và đại đa số chúng vẫn còn được người Việt đời nay nói và viết với ý nghĩa giống như thời Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều thơ (Việt) Nôm vậy.
Cảm ơn quý vị đã đọc.
#4 Comment By Bùi Vĩnh Phúc On 23/05/2025 @ 3:53 am
Tôi xin phép đưa một vài nhận xét về góp ý của độc giả Long Nguyen. Mong sự chia sẻ, thảo luận này có ích.
• Từ Hán Việt trong tiếng Việt, văn Việt là những từ bắt đầu du nhập vào tiếng Việt chủ yếu từ thời Bắc thuộc, phát triển trong thời Đường – Tống (từ thế kỷ thứ VII đến tk thứ XIII), đặc biệt trong giai đoạn Nho giáo chi phối văn hóa (thế kỷ X –XIX), và thường thông qua con đường văn viết. Có những từ Hán Việt đã đi vào ngôn ngữ và văn hoá Việt từ rất lâu đời, chẳng hạn hai từ “khinh” 輕 và “đầu” 頭. “Khinh” một người nào là xem nhẹ người ấy, không xem trọng họ. “Khinh”, tiếng HV, có nghĩa là “nhẹ”, như trong “bom khinh khí” (hydrogen bomb), hay “khinh tội” (misdemeanor /tội nhẹ), để đối với “trọng tội” (crime, felony /tội nặng). Từ “đầu” cũng thế (chẳng hạn trong “cái đầu”, “dân đầu gấu”, “đầu xanh tuổi trẻ”, “đầu lĩnh” 頭領 = “thủ lĩnh” 首領). Ta có thể nghĩ “đầu” là một từ Việt. Thì đúng là thế! Như truy ngược từ nguyên, ta biết đó là một tiếng Hán Việt có gốc từ một từ Hán cổ. Trong ngôn ngữ Việt, “khinh” và “đầu có một thang độ Việt hoá rất cao, nhất là từ “đầu”. Nó gần như đã được Việt hoá hoàn toàn, và, trong một số trường hợp, có thể được xem như một từ thuần Việt. Các từ HV có những thang độ Việt hoá khác nhau.
Các từ “tà tà”, “thường thường” và “thanh thanh”, như đã được tôi trình bày trong những chia sẻ trước, đều có hơn một nghĩa. Các nghĩa này được xét tuỳ vào ngữ cảnh.
• Hãy xét câu thơ “Bước dần theo ngọn tiểu khê / Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh” của Nguyễn Du. Chữ “thanh thanh” ở đây có thể được dùng để chỉ phong cảnh hữu tình, đẹp đẽ. Đó cũng là một nét nghĩa của chữ “thanh” 清, hay “thanh thanh” 清清, trong chữ Hán. Còn trong câu thơ Chinh Phụ Ngâm, “Thanh thanh lưu thuỷ, bất tẩy thiếp tâm sầu” 清清流水,不洗妾心愁, thì “thanh thanh” có nghĩa là “trong trẻo”, “trong mát”, “trong vắt”, “trong trong”. Nước trong chảy vẫn không tẩy rửa được nỗi muộn phiền trong lòng thiếp. Nhưng, trong chữ Hán, “thanh” 清 không chỉ có nghĩa là “trong”, dù nó chứa bộ “thuỷ”. Nó không nhất thiết chỉ nói cụ thể về “nước”, như tôi đã có dịp trình bày trong bình luận trước. Nó còn có thể nói về (phẩm cách hay đời sống, lối sống của) con người, về phong cảnh thiên nhiên, về không gian (mát, nhẹ, sáng, yên tĩnh), về vị nhẹ, thanh, không đậm mùi gia vị của thức ăn. Về cái nét đẹp đẽ, thon thả, của nhân dáng con người. Vân vân. Chữ “thanh” này cũng có thể được ghép với một từ gốc Hán khác để làm thành một từ ghép, như “thanh tịnh” 清淨, “thanh trọc” 清濁 /”trọc thanh”, đục trong (Gẫm việc đời mà ngắm kẻ trọc thanh. Này này sĩ mới hoàn danh / “Kẻ Sĩ”, Nguyễn Công Trứ). Tất cả các nghĩa của từ “thanh” 清 (mở rộng ra là “thanh thanh”) đều là nghĩa được ghi của chữ Hán trong các từ/tự điển HV. •• Chỉ riêng về nghĩa “lặng, yên tĩnh, thanh vắng” của từ này thì hai từ/tự điển của Viện Hán Nôm và của Trần Văn Kiệm mới cho là cũng được dùng như một từ Nôm. ••
• Về từ “tà tà” 斜 斜, liên hệ đến “mặt trời”. Dĩ nhiên, mặt trời “chẳng chuyển động hay bị ngả nghiêng gì cả”. Đó là do cái bóng của nó tạo hiệu ứng ấy. Khi ta nói “Mặt trời nghiêng bóng”, đây là một cách nói có phần ẩn dụ. Phải, mặt trời không nghiêng. Nó vẫn ở đấy, tròn đầy, cháy nóng và sáng. Nhưng với chúng ta – những kẻ ngụ cư trên mặt đất – ánh sáng của mặt trời đi qua thời gian, và trong buổi chiều muộn, nó đưa đến một cái bóng dịu nhẹ, một nét chếch lệch, đổ dài. Cái bóng đó đổ dài, nghiêng đi, chếch đi. “Tà tà bóng ngả về tây” là vậy. Ta gọi đó là “chiều tà”, là “bóng xế”, “bóng chiều”. Trong Truyện Kiều, câu thơ “Bóng chiều như giục cơn buồn…” đã khơi gợi một trạng thái, một nếp gấp hai. Đó là “Faltung/Zweifalt”, nói theo ngôn ngữ Heidegger. “Bóng” là dấu vết của ánh sáng. “Buồn” là phản hồi nội tâm của kẻ sống trong bóng. Bóng chiều. Ở đây, ánh sáng không còn là hiện tượng quang học thuần túy. Nó vừa là ánh sáng, vừa là cái để mất đi. Chính trong cái dáng đổ dài của bóng chiều, mặt trời lộ ra bằng sự khuất bóng của nó.
Câu “Xuân vị lão / Phong tế liễu tà tà” (春 未 老 / 風 細 柳 斜 斜) của Tô Đông Pha cũng vậy, như đã trình bày. Nó có nghĩa là “Xuân chưa muộn / Gió nhẹ, liễu la đà”, hay “Mùa xuân như vẫn còn nguyên, vẫn chưa già / Gió nhè nhẹ liễu nghiêng nghiêng”. Nhành liễu không ngay hay thẳng tắp. Không đứng yên. Nó la đà, nghiêng nghiêng, đong đưa trước gió.
•• Từ “tà tà” 斜 斜, theo nghĩa nghiêng nghiêng, chênh chếch, như vừa trình bày, là từ Hán Việt. Còn từ “tà tà” theo nghĩa là chậm rãi, thong thả, từ từ, thư thái, không lo ngại gì, v.v., viết là 鈄 鈄 , được từ/tự điển của Trần Văn Kiệm và The Nom Foundation xem là chữ Nôm. Hai chữ “tà” này hơi khác nhau. “Tà” (nghiêng, chếch) viết với bộ “đẩu” 斗 , có âm Hán Việt là “tà” (hay “gia”), và âm để đọc trong văn bản Nôm cũng là “tà”, với thí dụ là “Chiều tà”. Tức là nó được mượn nguyên từ, cả âm và nghĩa, trong chữ Hán. “Tà” (chậm rãi, từ từ) viết với bộ “kim” 金 , có âm Hán Việt là “đẩu”, và âm Nôm là “tà”, với thí dụ là “Cứ tà tà” (on a go-slow). Đây là hiện tượng giả tá (vay mượn âm mà không giữ nghĩa) trong việc tạo tiếng Nôm. Lấy một chữ Hán có sẵn để dùng với âm khác, bất kể nghĩa gốc Hán. Còn câu “Tà tà bóng ngả về tây” của Nguyễn Du được viết trong bản Nôm là 斜斜䏾我𧗱西. “Tà tà” 斜斜 ở đây, như thế, có nghĩa là nghiêng nghiêng, chênh chếch. Và nó là từ Hán Việt, được mượn thẳng cả âm lẫn nghĩa từ chữ Hán. ••
• Câu: “Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung” ( bản Nôm trong Truyện Kiều là 家資擬拱常常堛中). Từ “thường thường” ở đây (cấu trúc đôi của từ “thường” 常), ngoài nghĩa có thể hiểu là “bình thường”, “trung bình”, nó còn có thể có nghĩa là gia cảnh nhà họ Vương thường là như vậy, không giàu có hay nghèo khổ gì. Có thể có lúc lên lúc xuống chút ít, nhưng thông thường thì gia cảnh là thế, ở “bậc trung”. Từ “thường thường” 常常 đó là từ mượn thẳng trong văn bản Hán cổ. Cũng như trong câu thơ “Đăng nhân thủ tuế thường thường tục” (燈因守歲常常續) của Nguyễn Phi Khanh, chỉ cảnh ngọn đèn vẫn thường được nối bấc, thắp sáng mãi. Đèn cùng thức với người suốt đêm trừ tịch.
Như tôi đã chia sẻ ở một bình luận trước, “thường” hay “thường thường” 常常 có thể có nhiều nghĩa. Nó mang những nghĩa như “luôn luôn, trung bình, không có gì trội hay đặc biệt hơn”; “bình thường”; “luôn, hay, thường, vốn”; “thói chung”; “lâu mãi”; “nhiều lần”; “tiếp nối luôn, không dứt”. Có thể thấy chữ “thường” hay “thường thường” này trong rất nhiều văn bản Nôm hay Hán của các tác giả Việt Nam, mang chứa những nghĩa vừa nói. Chẳng hạn như trong hai câu thơ “Cũng trong hai chữ chung tình / Sao người thường bấy mà mình quái thay” trong truyện Nôm “Mai Đình Mộng Ký” của Nguyễn Huy Hổ. Hai câu thơ trên phản ánh sự đối lập giữa cái “thường” của người đời và cái “quái” của chính bản thân tác giả trong cách cảm nhận về tình cảm và cuộc sống. Cụm “thường bấy” 常 閉 có nghĩa là “bấy lâu nay [người đời vẫn] bình thường” [Còn sao ta lại quái khác thế này]. Hay hai câu thơ “Pháp thân thường trú (trụ) / Phổ mãn thái hư” 法身常住 / 普滿太虛 trong “Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca”, một bài thơ dài theo thể cổ phong, của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Bài thơ sử dụng văn hóa Phật giáo, từ ngữ mang tính triết lý sâu sắc và mỹ học thiền. Hiện ta cũng có động từ kép “thường trú” và “danh từ kép “thường trú nhân”.
•• Từ Hán Việt “thường” 常 (dùng theo cấu trúc đôi là “thường thường” 常常) viết với bộ “cân” 巾, có những nghĩa như ta đã nói. Trong văn bản Nôm, nó cũng được viết và đọc y như thế. Nếu trong trường hợp được xem là từ Nôm, theo từ/tự điển của Trần Văn Kiệm và của Viện Hán Nôm, nghĩa của nó sẽ bị giới hạn, thu gọn lại để chỉ là “bình thường”, “thói thường”, “không có gì đặc biệt” (và chính từ Hán Việt “thường” cũng đã bao hàm những nghĩa này). Nhưng, về mặt chữ Nôm, “thường” 常 còn có nghĩa là “sàn nhà” (theo từ điển của Hồ Lê), và âm đọc cũng là “sàn”. ••
• Thêm một ghi chú nhỏ: Các từ mà ta bàn như “tà tà”, “thường thường”, “thanh thanh”, hay những từ tương tự như “buồn buồn”, “chán chán”, “nghèo nghèo”, “nản nản”, “(nói) bô bô”, v.v., có cấu trúc điệp từ. Hai chữ giống nhau được lặp lại. Ngoại trừ ba từ đầu “tà tà”, “thường thường”, “thanh thanh”, mà ta đã bàn, là từ Hán Việt có cấu trúc đôi, các từ còn lại được xem là “từ lặp”, hay “từ trùng lặp”. Nó là một dạng của từ láy, hay từ lấp láy, trong tiếng Việt. Từ “điệp vần” không phải là từ trùng lặp (lặp lại hoàn toàn một chữ), mà chỉ là từ “láy vần”, như “lật đật”, “(khóc) ti tỉ”, “lơ mơ”. Một dạng từ láy khác là láy phụ âm đầu, như “nóng nảy”, “ngột ngạt”, “lờ mờ”, “lem nhem”, v.v.. Dạng láy này lại chia làm ba loại nhỏ: 1/ hai chữ đều có nghĩa, như “mệt mỏi”, “thở than”, “trầy trật”, v.v.; 2/ hai chữ đều không có nghĩa (trong nghĩa chung của từ), như “sớn sác”, “nhi nhô”, “ngầy ngật”, v.v.. Và 3/ một chữ có nghĩa + một chữ vô nghĩa (trong nghĩa chung của từ), như “sung sướng”, “khóc lóc”, “mê mẩn”, v.v..
• Một văn bản chữ Nôm, hoặc một văn bản chữ Việt hiện đại, dù ở bất cứ thể loại nào, cũng có những từ Hán Việt, ở một phần trăm và một thang độ nào đấy, nằm trong đó. Dù sao, như thế, không có nghĩa những từ HV nằm trong một văn bản Nôm, hay một văn bản Việt hiện đại, đều được xem là từ Nôm hoặc (thuần) Việt. Trải qua thời gian, từ HV, nhìn ở một góc độ văn hoá nào đó, hay từ góc độ tinh thần, đã trở thành chữ Việt, tiếng Việt, máu thịt Việt; nhưng về mặt lịch sử, về mặt văn bản học, từ nguyên học, về ngôn ngữ học lịch sử (historical linguistics), v.v., ta cần phân biệt rõ. Sự vay mượn từ ngữ, cách nói, v.v., giữa các dân tộc, các nền văn hoá, là một thuộc tính của con người, của ngôn ngữ nói chung. Các ngôn ngữ Ấn-Âu (Indo-European languages) cũng có những nét, những khía cạnh tương tự.
Xin cám ơn độc giả Long Nguyen và các bạn đọc.
bvp
#5 Comment By Long Nguyen On 24/05/2025 @ 8:54 pm
Từ đôi tiếng Nôm trong Truyện Kiều
Quả thật khi có dịp đọc lại Truyện Kiều, có nhiều điều tưởng là đã cũ mòn, bất ngờ lại nảy sinh vài chuyện mới khá thú vị. Tôi cảm ơn diễn đàn cùng quý ban Biên Tập Da Màu rất hào phóng để cho một người đọc như tôi có dịp đóng góp những ý kiến.
Từ đôi tiếng Nôm trong Truyện Kiều có vô số. Có thể nói đọc vài hàng thơ lại thấy có một từ đôi. Từ đôi có hai dạng, 1. Dạng hai chữ cùng mẫu tự nhưng không giống nhau: đau đớn, vững vàng, trang trọng, nở nang, sắc sảo, mặn mà, xấp xỉ, nô nức, dập dìu … 2. Dạng điệp vận hai chữ giống nhau: thường thường, tà tà, thanh thanh, nao nao, sè sè, dàu dàu, đầm đầm, hiu hiu, ào ào, rành rành, … Chỉ mới 125 câu đầu Truyện Kiều, tôi có thể nhặt ra khá nhiều từ đôi như thế.
Truyện Kiều viết bằng chữ Nôm, loại chữ đặc biệt của người VN trên căn bản chế ghép từ chữ Hán, hoặc chữ Hán đọc thành âm khác, hoặc chữ Hán đọc như âm Hán Việt nhưng theo nghĩa khác. Đau đớn 𤴬疸, chế ghép chữ đau 𤴬 (không có trong Hán ngữ) và mượn nghĩa chữ đản 疸 (bệnh vàng da) đọc thành chữ đớn. Trang trọng 莊重 mượn thẳng chữ Hán nhưng dùng theo nghĩa Việt Nam đàng hoàng nghiêm trang. Riêng những từ đôi điệp vận (hai chữ giống nhau) cũng được tạo thành theo nguyên tắc chung như trên. Thử đọc lại các câu thơ có từ đôi dạng điệp vận này xem sao:
Bước dần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
Sè sè nấm đất bên đàng
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh
Lòng đâu sẵn món thương tâm
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa
Thanh thanh 清清 mượn thẳng Hán Việt thanh thanh là trong trong, thành nghĩa tiếng Nôm xinh xinh. Sè sè 茌茌 chế ghép từ chữ sĩ với bộ thảo trên đầu, nghĩa sờ sờ, thấp lè tè. Đầm đầm mượn từ Hán Việt đàm đàm 潭潭 đàm là cái đầm nước, đọc khác âm thành đầm đầm tiếng Nôm là lệ ướt đầm đìa.
Thử phân tích thì như vậy, khi làm thành câu (nói, thơ, văn) thì lại cần vài yếu tố kỹ thuật, thói quen, hoặc kinh nghiệm khác nhau.
Bước dần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
Hai chữ “có bề” thật hay, nó làm cho hai câu thơ rất Việt (Nôm). Giả dụ không phải là hai chữ như vậy, Bước dần theo ngọn tiểu khê/Lần xem phong cảnh chỉnh tề thanh tao. Nghe có vẻ hơi bị Hoa nhiều hơn là Việt. Nhạc sĩ Xuân Tiên tác giả Khúc Hát Ân Tình, Mong Chờ, Lửa Rừng cho rằng cái khác nhau giữa nhạc VN và nhạc TQ, vốn gần nhau về âm giai ngũ cung, là nằm trong kỹ thuật tạo quãng, interval, cao thấp lập thành giai điệu melody đặc thù quen thuộc của nhạc Việt hay nhạc Hoa. Có lẽ nhà thơ Nguyễn Du văn tài hơn người chổ này.
Cảm ơn quý vị đã đọc.
https://nomfoundation.org/nom-project/tale-of-kieu/tale-of-kieu-version-1866
#6 Comment By Bùi Vĩnh Phúc On 27/05/2025 @ 10:45 pm
Chúng ta đã có dịp làm sáng thêm một số khái niệm, khía cạnh, và sự phong nhiêu, thú vị của tiếng Việt, chữ Việt (qua đó, cũng bàn thêm đôi chút về từ Hán, từ Nôm, âm Hán Việt, âm Nôm, v.v.). Từ đấy, ta nhận biết và yêu quý tiếng Việt hơn nữa.
Về dạng “từ láy” (hay “từ lấp láy”) trong tiếng Việt mà tôi đã có dịp trình bày trong chia sẻ, góp ý ngày 23/05/25 (mà đa phần là về từ Hán Việt), tôi xin ghi lại ở đây với một vài điều chỉnh cho rõ hơn:
“… Các từ mà ta bàn như “tà tà”, “thường thường”, “thanh thanh”, hay những từ tương tự như “buồn buồn”, “chán chán”, “nghèo nghèo”, “nản nản”, “(nói) bô bô”, v.v., có cấu trúc điệp từ. Đó là sự lặp lại hai CHỮ giống nhau. Ngoại trừ ba từ đầu “tà tà”, “thường thường”, “thanh thanh”, mà ta đã bàn khá kỹ, là từ Hán Việt có cấu trúc đôi, các từ còn lại được xem là “từ lặp”, hay “từ trùng lặp”. Nó là một dạng của từ láy, hay từ lấp láy, trong tiếng Việt. Từ “điệp vận” không phải là từ trùng lặp (lặp lại hoàn toàn một chữ), mà chỉ là từ “láy VẦN”, như “lật đật”, “(khóc) ti tỉ”, “lơ mơ”. Một dạng từ láy khác là láy PHỤ ÂM ĐẦU, như “nóng nảy”, “ngột ngạt”, “lỡ làng”, “sững sờ”, v.v.. Đó là nói về mặt cấu tạo của từ láy.
Về mặt ý nghĩa của từ láy, chúng ta có thể có các dạng sau: 1/ hai chữ đều có nghĩa, như “mệt mỏi”, “thở than”, “trầy trật”, v.v.; 2/ hai chữ đều không có nghĩa (trong nghĩa chung của từ), như “sớn sác”, “cọc cạch”, “ngầy ngật”, v.v.. Và 3/ một chữ có nghĩa + một chữ vô nghĩa (trong nghĩa chung của từ), như “sung sướng”, “khóc lóc”, “mê mẩn”, v.v.. Ngoài ra, ta còn có các dạng láy ba và láy bốn. Láy ba, như: (người) khoẻ khoè khoe, (khóc) tỉ tì ti, (bé) tẻo tèo teo, (biết) tất tần tật, v.v.. Láy bốn, như: lanh cha lanh chanh, lập cà lập cập, nhi nha nhi nhô, ngập ngà ngập ngừng, v.v.”
Từ và nghĩa. Chữ và “bóng chữ”, “vân chữ”. Âm vang, màu sắc và hình ảnh của tiếng và lời làm nên thế giới của ta. Như một con người Việt, chúng ta nằm gọn trong lòng và trong vòng tay ôm ấp của chữ nghĩa Việt. “Chữ” ở đây không còn chỉ là ký tự, mà là nơi âm vang của Tồn tại, là điểm nối giữa Con Người và Tồn Tại, giữa con người và hiện hữu nó.
Tôi nhớ đến hình ảnh những con người nắm tay và cùng hát ca, nhảy múa, trong bức tranh “La Danse”/“The Dance” của Henri Matisse, để ca tụng cuộc sống kỳ diệu. Cuộc sống — ở một góc cạnh nào đó — được kiến tạo bởi ngôn ngữ, những ký hiệu và màu sắc lẫn âm vang của nó, và tất cả những gì bao quanh và dính dự, liên đới với chữ và lời.
bvp