Trang chính » Biên Khảo, Đọc và Đọc lại Email bài này

Một thoáng mắt buồn

0 bình luận ♦ 31.08.2011
jeanmakela-zen_thumb.jpg

 

jeanmakela-zen

Suy Thiền (Zen Meditation) (họa sĩ: Jean Makela)

 

“Mắt Buồn” là một trong những bài thơ được tuyển chọn và được đánh giá là bài thơ hay nhất trên thi đàn hiện đại. Thơ ca và tư tưởng Bùi Giáng tôi đọc khá nhiều nhưng thú thật chẳng hiểu là bao. Khi nghe bài thơ “Mắt Buồn” được đánh giá cao tôi thật sự háo hức muốn tìm hiểu ý nghĩa gì hàm ẩn trong bài thơ mà hay thế.

Mắt buồn

 

“Dặm khuya ngất tạnh mù khơi”
–Nguyễn Du

 

Bóng mây trời cũ hao mòn
Chiêm bao náo động riêng còn hai tay
Tấm thân với mảnh hình hài
Tấm thân thể với canh dài bão giông
Cá khe nước cõng lên đồng
Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một giêng
Ta từ tháng chạp quay nghiêng
Ấm trang sử lịch thu triền miên trôi
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con.

–Bùi Giáng

Đọc đi đọc lại nhiều lần tôi chẳng hiểu Bùi tiên sinh muốn gởi gắm tâm sự gì trong đôi mắt? Tôi chưa gặp Bùi Giáng nhưng qua hình ảnh, chân dung và những người bạn đã từng sống với ông kể lại, ông có hai đặc điểm nổi bật đó là bàn chân to bạnh giao chỉ và cặp mắt rực sáng lạ thường. Nhìn vào chân dung tôi ấn tượng nhất là đôi mắt sáng quắc, cái nhìn như xuyên thủng thấu tận ruột gan. Thật ra tôi cũng không muốn đề cập đến chân dung của ông, nhưng qua bài thơ “Mắt Buồn” tôi có ngay sự liên tưởng về đôi mắt để tìm hiểu ý nghĩa của bài.

Mười bốn câu thơ lục bát gởi gắm và chia sẻ tâm sự buồn của ông qua ánh mắt chăng? Đọc từ đầu tới cuối tôi chỉ thấy hai câu kết là có sự xuất hiện của đôi mắt mà thôi.

Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con

Các văn nhân thi sĩ cũng đề cập hai câu thơ này rất nhiều, nhưng tôi chỉ thấy sự ca ngợi thôi, chẳng thấy ai bình giải ý nghĩa hai câu thơ có liên quan đến mắt buồn mà Bùi Tiên Sinh đã kết lại bài thơ. Trịnh Công Sơn cũng mượn hai câu thơ này để chuyển tải tâm sự.

Còn hai con mắt khóc người một con
Còn hai con mắt một con khóc người…

Và không biết ý Trịnh Công Sơn có trùng ý với Bùi Giáng hay không? Hay họ Trịnh cũng chỉ mượn hai câu thơ này để chuyển vận một ý khác. Điều này tôi cũng chào thua.

Trở lại bài thơ “Mắt buồn” đọc đi đọc lại tôi không hiểu bài thơ muốn nói gì. Nhớ lại lời Bùi Giáng nhắc nhở “vấn đề không dễ hiểu như tinh thần trưởng giả học giả quan niệm, cái gì cũng đòi dễ hiểu – Đó là tính kỳ dị kỳ khu của người không thể biết chuyện kỳ bí. Bóng lãng đãng nhị bội. Bàn tay trưởng giả không thể ghì ôm vớ vào trong đâu được.” Thật vậy, lối học và lối đọc của trưởng giả, học giả cái gì cũng đòi hiểu, nhưng hiểu là sao? Anh hiểu giống như anh biết dò theo con suối ra khỏi rừng, anh hiểu như trồng lúa trồng rau. Anh hiểu như làm bài văn bài toán vân vân…. Hiểu như vậy thì có học có hiểu. Có học là thu vào trong não óc, truyền trao chữ nghĩa những con số cộng trừ, những câu chữ loằng ngoằng nối đuôi. Ôm một mớ bong bong vô tích sự chờ ai hỏi câu gì đốp lại câu đó, ai đố cái gì thì phong phóc trả lời ngay. Hiểu là vậy ư? Nhưng Bùi Giáng lại khác. Đối với ông như vậy là không hiểu gì cả mà đó chỉ là cuộc chơi thi tài trí nhớ mà thôi, ông thì nghĩ ngược lại càng học càng không hiểu. Thật tình, lối nói này của Bùi Giáng cũng làm tôi mỏi mệt ngao ngán. Hình như thơ văn của ông rặt theo thể loại nghịch suy, đầy dẫy lối nói cà ngẳng cà tàng, không đầu đuôi trên dưới.

Tôi để bài thơ “Mắt buồn” lưu chảy trong tôi, tôi không suy nghĩ, không buồn tìm hiểu, bài thơ cứ qua qua lại lại trong cái đầu rỗng tuếch, đến tôi không mời đi tôi không tiễn, cứ như vậy một hôm ngồi nhìn ra đường, cộ xe um sùm người qua kẻ lại, bỗng dưng tôi đọc lên “Dặm khuya ngất tạnh mù khơi.” Câu thơ của cụ Du mà Bùi Tiên Sinh đã ghi ngay dưới tựa đề “Mắt Buồn.” Tôi sững người. Ôi! Bùi Giáng ông thật là thánh triết, ông thật sự là kẻ thong dong trời phương ngoại. Đôi mắt tôi cay cay, tôi chợt hỏi. Ta về đâu nhỉ, người qua kẻ lại đang đi về đâu nhỉ? Ôi hãi hùng dặm khuya! Ôi hãi hùng mù khơi ngất tạnh! Tôi thấy mắt buồn đang dáo dác nhìn quanh. Tôi thấy mắt buồn đang tràn lung linh đầy kỷ niệm, đang rạo rực náo nức chuyện thần tiên và mắt buồn thật buồn nhìn lại hai bàn tay trắng xóa.

Bóng mây trời cũ hao mòn
Chiêm bao náo động riêng còn hai tay

Tôi, một lữ khách một bóng ma vô định, tôi nhìn tôi bằng thân với thể bằng hình hài với tuổi và tên, đó là những gì mà tôi biết, những gì định hình định thể cho tôi. Tôi đã cố gắng làm hết chuyện của tôi dưới gầm trời nắng mưa cơm áo, nhưng nào định phận có tha thứ cho ai. Cuộc dâu bể cứ trôi xộc vào bức bách tường lũy kiên cố mà tôi đã kiên trì dựng lập, rồi cái lạnh tê cóng của hư vô lầm lũi bước vào. Ôi! Sao linh hồn và nhận thức lại nấp trong tấm hình hài mong manh đến thế? Ai, ai bày ra cuộc chơi chông chênh quá. Ai bày cuộc đời mạo hiểm thế ni? Chuyện này ông Giáng biết rõ mười mươi.

Tấm thân với mảnh hình hài

Tại sao tấm thân rồi lại mảnh hình hài? Ông Giáng muốn nói gì đây? Thật vậy, cái ngôn ngữ đa đoan đã hướng hồn ta về một nẻo, xuôi ta về cuối tận hôn mê, thế mà ta cứ nói rằng ta tỉnh táo lắm lắm, ta là thân là hình hài ấy ấy là tuổi tên là danh phận tót vời. Ông Bùi ngộ thật, ông vẽ chỗ này ra nghe rối thật, tấm thân cứ nói tấm thân tại sao nói hình hài vô đây? Thì cũng như bàn tay có úp có ngửa có nắm có xòe. Để phân biệt để định dạng cái gì của bàn tay. Bỗng dưng một thành ba thành bốn, chụp lấy cái ba cái bốn rồi quên rằng cái một ngu ngơ. Có trời đất thánh thần hoặc có con ma nào bảo chìa tay ra mà ông lại nắm với xòe. Sự quên bẵng bàn tay là cố tật của tri thức, của sự toan tính lăm le bảo quản hình hài. Hình hài là sự phản chiếu của tấm thân đã bị ngộ nhận thành hình và thể, ý niệm đã trượt dài đánh mất nguyên tính của thân và đã biến chiêm bao mộng mị thành cuộc dâu bể, thể, náo động.

Tấm thân thể với canh dài bão giông

Một sự thật đớn đau đang trùm xuống bờ mê cõi mộng, con mắt buồn liêu xiêu thấy một thành hai thấy gà hóa cút, ngồi giữa quê hương mà dáo dác đường về. Càng tăng tầm học hỏi càng nghiêm túc tư suy thì càng thêm sa mạc nỗi đau xé lòng. Là do đâu vậy? Câu hỏi là thực thể hiện sinh, là nắng đổ lửa trên đầu, là mưa dập dồn tơi tả lá gió và linh hồn tuyệt vọng giữa hư vô. Heidegger thốt lên rằng “cuộc sống chân chính thiết tha nằm trong tuyệt vọng.” Thật vậy. Chỉ ngay lúc tuyệt vọng chới với mới hiểu ra rằng:

Cá khe nước cõng lên đồng
Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một giêng
Ta từ tháng chạp quay nghiêng
Ấm trang sử lịch thu triền miên trôi

Ông Giáng lại dùng dụ ngôn “cá khe nước cõng lên đồng” để muốn nói lên điều gì? Cá theo nước lên đồng là chuyện quá hiển nhiên có gì phải suy luận? Nhưng hình như ông Giáng muốn hỏi rằng “nếu không có nước khe làm sao cá lên đồng cho đặng?” Sự có mặt của cá ở đồng là do có nước khe, nước khe đóng vai trò cực kỳ quan trọng cho sự hiện thể của cá trên đồng. Nhưng nghiệt thay khi nói đến cá đồng con người lại không nhất thiết quan tâm đến “nước khe.” Sự hiện hữu của cá đồng có thật sự là cá đồng khi không kèm theo nước khe? Có thật sự là có thế giới có cuộc đời khi không có tôi? Có thực là thế giới ôm tôi vào lòng hay tôi ôm thế giới vào lòng? Ông Giáng đáp: “Đôi bên cùng góp phần vào cuộc phôi dựng mộng song đôi.” Đây có thể là đạo lộ duy nhất mà xưa nay những bậc hiền triết đã dùng ngôn ngữ để truy nguyên thế giới biểu tượng, trong quá trình định thức số phận con người. Sự mổ xẻ tư duy triết học tràn đầy trong sử lịch. Nhưng thật oái oăm vì tác dụng của ngôn ngữ đã được nhìn nhận như dụng cụ làm béo bở cho tư tưởng, và tư tưởng càng ngày càng thấy mình mang dấu ấn tiên phong chinh phục thực tại. Đây là một trong những sai lầm mà Bùi Tiên Sinh đã cảnh báo “nếu kẻ học cứ nằng nặc đo đếm, chưa suy tư chân chính mà đã vội vồ nuốt lý luận ồn ào thì bậc thánh đành thở dài im lặng, thà lặng lẽ và mang tiếng dốt còn hơn trả lời trên bình diện náo động, làm tan vỡ TÍNH THỂ SUY TƯ.  Do đó việc giáo huấn là điều cao nhã và cũng chênh vênh lắm thay.”

Ngôn ngữ thi ca thường không vào thẳng vấn đề mà tùy ở độ rung cảm của thi nhân ngân lên những giai điệu dao động cõi lòng. Sự giao cảm là đặc tính của thi ca, khi TÍNH THỂ SUY TƯ TAN VỠ cũng là lúc thời gian xuất hiện, thời tính bắt đầu chuyển dịch phập phù theo “mắt buồn” và bắt đầu xuất hiện sự hoang mang nhung nhớ mà Bùi Tiên Sinh đã vận vào bằng giai điệu.

Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một giêng
Ta từ tháng chạp quay nghiêng
Ấm trang sử lịch thu triền miên trôi

Một chiếc then cài của sử lịch, của thời gian đặt đâu đó trong dòng biến dịch lại chính là nguyên nhân của sự hiện hữu vô thường. Chiếc then cài bên tả hay hữu, bên này hay bên kia, nước khe hay cá đồng???… Một động tác cuối cùng của chính bạn để bắt đầu một cuộc hành trình:

Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng những lời hẹn hoa
Bỏ người yêu bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời

Sự phát hiện về thời tính lại làm nên một dòng chảy lặng lờ thơ mộng, sự phát hiện ngôn tính làm tàn úa rụng rơi những bóng hình ma quái dị và trả lại cho con tâm một niềm đam mê tư lự, một cuộc thánh tẩy bằng điệp khúc nhấn nhá gởi lại trăng gió cho đời, gởi con sóng tình cho những lời hẹn hoa bướm.

Sự ra đi là trở về với vĩnh cửu, sự ra đi là trở lại với chính mình, một cõi riêng ấy chỉ còn lại ta với ta:

Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con.

Và đây sự chuyển động ngoạn mục của cuộc hiện sinh trả lại cho chính bạn sự tròn đầy thể dụng, một cõi lòng man mác rực sáng đầy thông cảm yêu thương và thông tri cho đời bằng những giọt nước mắt pha lê ngập xóa nỗi tủi buồn nhân thế.

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)