Không có quán mà chỉ có những chiếc ghế mây loại nhỏ đặt xung quanh hai chiếc bàn tròn dưới một tán cây trùm xuống như một chiếc ô rất gây ấn tượng. Còn ngôi nhà ở bên kia đường mà lần thứ nhất đi dạo qua, đánh mắt nhìn vào anh chỉ thấy một cô gái mảnh khảnh. Con đường nhỏ nhựa trải đã lâu năm tróc lên nham nhở dưới những bước chân khoan thai của anh hoá ra là con đường cụt. Dẫn xuống thị trấn nghỉ mát Tam Sa dưới đây những bậc đá khấp khểnh, quanh co khiến anh cảm thấy rất ngại trong lúc này. Anh đành chậm rãi quay lại.
– Mời anh vào xơi nước!
Cô gái đã ra đứng ở bên cửa từ lúc nào và khi thấy anh vòng lại đon đả mời. Anh ngước mắt nhìn lên, cô gái còn rất trẻ với búp tóc ngắn buộc lọn ra phía sau ngồ ngộ như đầu đót của cây chổi quét vôi. Thoáng một giây lưỡng lự. Rồi bốn mắt gặp nhau. Đôi mắt của anh đã độ tuổi bốn mốt, nhưng vẫn còn đầy sức hấp dẫn với tròng mắt to đen và đôi mi dài, cong như mi con gái. Còn đôi mắt hơi lồi, một mí của cô không thật đẹp song lại có ưu thế của sự trẻ trung.
– Quán có những thứ giải khát gì, hả em? – Anh đã bị đôi mắt trẻ trung đó khuất phục.
– Bia, nước chanh, nước cam… thứ gì cũng có. – Cô tủm mỉm cười mời chào.
– Em cho anh một ấm trà nóng được không?
– Sao lại không? Cô tinh nghịch hỏi lại.
Rồi sau đó, bên chén trà, giữa buổi sáng không có khách, cô bắt chuyện:
– Hà Nội mấy ngày nay có nóng lắm không?
– Nhiệt độ không cao nhưng hầm hập như trong lò bánh mỳ… Năm nay thu về muộn. Đã cuối tháng tám rồi. – Anh vừa than thở như tâm sự, vừa xoay chiếc chén trong tay, tránh nhìn vào đôi mắt đầy sức cuốn hút trẻ trung trên khuôn mặt nhẹ nhõm của cô gái – Gia đình em ở trên này à? – Anh hỏi lại cô.
– Không! Ở dưới chân núi cơ – Cô e ấp đáp.
– Thế cửa hàng này của ai?
– Của một người bà con. Em chỉ trông hộ. Hôm nay gia đình có giỗ…
– Em có hay lên đây không?
– Mỗi năm em lên đây chừng hai tháng… Vào mùa hè.
– Em học lớp mười mấy rồi?
– Em mà còn học lớp mười mấy à? – Câu trả lời của cô làm cho câu chuyện bớt đi vẻ trầm trầm của sự lục vấn.
– Thì cũng chỉ thế chứ thế nào! – Anh nhìn vào cánh tay để trần mảnh khảnh của cô và đáp bừa.
Cô phá ra cười ngặt nghẽo, đôi môi hơi dày có phần bợt bạt bây giờ anh mới nhận thấy khiến lòng anh nao nao. Nhưng rồi anh lấy lại được thăng bằng nhờ đôi hàm răng trắng bóng đều đặn và tươi tắn.
– Em đã bước vào Đại học năm thứ tư rồi đấy anh ạ!
– Thế à? Thế mà anh trông em… – Anh vụng về đáp lại không hết câu. Sự vụng về đáng yêu của một kẻ thật thà có cái duyên dáng riêng.
Rồi cả hai cùng im lặng. Sự im lặng rất lâu thường thấy ở những cặp mới làm quen với nhau. Đôi môi bợt bạt của cô khiến anh chợt nghĩ về thời sinh viên của mình với những bữa cơm độn ngô chỉ có rặt "bom bi" và "dây thừng". Những bữa ăn mà sau đó rất ít người muốn đứng dậy mặc dù bụng đã nằng nặng nhưng luôn nao nao cảm thấy thiếu một cái gì đó rất cơ bản, cần cho sự sống của con người. Đó là chất prôtit. Sinh viên thời nào cũng thế với đủ các thứ thèm: thèm ăn, thèm ngủ, thèm yêu. Chắc chắn cô bé ngồi trước mặt anh cũng không thoát khỏi quy luật nghiệt ngã đó.
– Anh đi nghỉ một mình à? – Cô chợt hỏi làm cắt ngang dòng suy nghĩ của anh.
– Không, với một anh bạn nữa. Anh ấy giờ đang lên lễ trên chùa Bà Chúa Ngàn.
– Sao anh không đi? Chùa ở ngay lưng núi phía sau này thôi mà!
– Đi được nửa chừng thì anh bỏ về. Không thấy phấn khởi lắm!
– Chắc anh không tin vào chuyện lễ bái?
– Nếu như ở mỗi người có một lá số đã được định trước rồi như người ta thường nói thì lễ bái phỏng có ích gì?
– Nhưng em thấy ở anh… không vất vả lắm! Mà ngược lại… Trông rất "phong độ", an nhàn, sung sướng nữa là khác.
– Ồ!… Anh cười phá lên – Nhìn bề ngoài ai cũng có nhận xét như em. – Anh chợt thấy lúng túng với tấm thân hơi trường đã bắt đầu phát phì của mình đầy ắp trên chiếc ghế mây kiểu xa lông nhỏ xíu. – Nhưng như câu châm ngôn thường nói "Trong héo ngoài tươi" mà em! Nó cũng giống như căn bệnh cao huyết áp của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ấy. Cái vỏ bề ngoài thì thật hồng hào khoẻ mạnh…
– Em không tin! – Cô gái cũng cười, khuôn mặt nhẹ nhõm hơi nghiêng. Túm tóc như đầu chổi quét vôi cũng nghiêng nghiêng theo.
– Tin hay không là tuỳ em!… Nhưng em có muốn anh chứng minh không?
– Tất nhiên là em không phản đối! Nhưng anh đừng có mà phịa đấy nhé!
– Quê anh ở ven nội. – Anh bắt đầu kể – Buổi sáng ngày anh chào đời có một con trâu mộng đi qua ngõ và… bĩnh ra đấy một bãi cực lớn – Giọng anh rất nghiêm trang, không hề hài hước một chút nào nhưng cũng làm cô bật cười, – có người bảo đó là điềm lành. Người thì hoài nghi. Song khổ một nỗi là từ đó, ngày nào cũng thế, dù đánh đuổi thế nào cũng có một chú tương ra bằng được cái của quý ở đúng chỗ ấy. Cuối cùng các cụ nhà anh phải bít lối đó lại, mở cổng ra hướng khác. Ít lâu sau, có một ông thầy Tàu đi qua nghe chuyện, ông phán: "lành thì có lành, song thật tiếc… Thằng bé sau này lớn lên ước gì, được nấy, cơ mà cái sự được ấy bao giờ cũng muộn màng. Thậm chí sự muộn màng làm cho tất cả trở thành vô nghĩa". Gặng hỏi gì, ông cũng không chịu nói thêm.
– Thế sau này, anh nghiệm ra có thấy đúng không? – Câu chuyện của anh đã có sức cuốn hút cô gái, thậm chí còn làm cô hồi hộp nữa.
– Đúng! Đúng cả trăm phần trăm mới đau chứ!
– Anh cho một vài thí dụ xem nào?
– Thí dụ ư? Thiếu gì? Em có biết loại xe máy Babetta không?
– Có! Xe của Tiệp, chạy đầy ngoài đường. Anh cứ làm em như con ngố ấy!
– Không phải loại đời mới bây giờ đâu. Mà loại đời cũ cao lênh khênh, không có lấy một mẩu lò xo giảm xóc, chạy trên đường cứ nhẩy tưng tưng cơ.
– Thế thì sao?
– Thế mà có thời anh đã mê mẩn… đến mức bị nghi là kẻ cắp đấy! Hôm đó, anh thấy một chiếc xe như thế dựng ở trước cửa một ngôi biệt thự của nhà một ông lớn nọ, chả là hồi ấy xe babetta chỉ bán phân phối cho những vị có chức có quyền, thấp nhất cũng từ cấp cục, vụ, viện… Chả hiểu ma xui quỷ khiến thế nào mà sau hàng chục phút ngắm nghía đến mê mẩn, anh đã đưa cả hai tay ra mà vuốt ve, sờ mó vào xe như vuốt ve sờ mó người yêu trong một giấc mơ tuyệt đẹp. Hết nhè nhẹ lên tay vặn quá ga, lại bóp thứ phanh xem sự ăn nhả nặng nhẹ thế nào? Giữa lúc ấy, cánh cổng ngách xịch mở, và người ta đã bắt quả tang anh như bắt một thằng ăn cắp đang hành sự… May mà trước đó chưa có tiền án, tiền sự gì. Ấy thế mà bây giờ…
– Bây giờ thì sao? Họ lại lục vấn ra à?
– Không, thế mà mới năm rồi, gom góp tất cả những thứ có thể gom góp được, anh cũng lên được một chiếc đời mới, mầu đỏ ớt hẳn hoi. Nhưng khổ một nỗi khi mình có babetta thì thiên hạ đã phóng cúp vèo vèo từ lâu rồi… Chả thế mà trước hôm lên đây, từ trong ngõ phóng ra, chả hiểu lúng túng thế nào mà lại xô vào bọn trẻ bới rác. May có một đứa tỏ ra hiểu biết, phán quyết thế này: "Ồ, đồ ba bét nhè ấy mà. Có vứt đi cũng không ai thèm nhặt. Thôi biến đi!" Chứ không cũng rầy rà to.
– Anh chỉ được cái giỏi bịa. – Cô gái vừa nói vừa cười phá lên.
– Thì em bảo là chứng minh lời ông thầy Tàu mà lị.
– Thế anh kể tiếp chuyện khác xem nào?
– Đó là về vật chất, hay nói cho văn vẻ là giấc mơ đời thường. Còn mặt tinh thần…
– Mặt tinh thần thì sao? – Mặc dù đã bảo anh phịa nhưng cô gái vẫn thích nghe tiếp chuyện của anh.
– Có thời anh ước mơ trở thành nhà thơ…
– Thảo nào! – Cô gái khẽ "à" lên một tiếng – Ngay từ đầu, em đã đoán anh phải là người tầm cỡ như nhà văn, nhà báo chẳng hạn.
– Em có muốn nghe anh kể tiếp không?
– Thì em có cản trở gì đâu! – Cô nhìn anh bằng ánh mắt của kẻ bắt đầu bị đam mê.
– Hơn hai chục năm ròng, anh đã có thơ in trên các báo và tạp chí. Và niềm ước mơ cháy bỏng nhất là được in một tập thơ riêng. Anh đã làm tất cả, chỉ thiếu một nước như Câu Tiễn nếm phân Ngô Phù Sai nữa thôi. Còn thì đã đi gõ hết cửa các nhà xuất bản… lạy lục… van xin, chỉ một cái cười nhạt khác ý của biên tập viên đã khiến anh sợ hãi, thất vọng đến thót tim lại. Ngày đó… người ta in thơ theo kế hoạch… in theo sự phân phối cho những vị có chức có quyền, chứ thá mình… – Giọng anh vẫn giữ được cái vẻ hài hước, cười cợt như lúc đầu.
– Nhưng, cuối cùng thơ anh cũng phải được in chứ? – Cô sốt sắng ngắt lời anh.
– Đúng! Nhưng không phải em đoán đúng mà ông thầy Tàu đoán đúng. – Anh cười phá lên và nói tiếp. – Sau hai mươi năm anh xếp hàng thì cơ chế xuất bản đã đổi khác. Bây giờ thì thơ hay, thơ dở, thơ làng nhàng đều được in tuốt. Miễn là có tiền. Sang thì một cây, hèn thì vài ba chỉ cũng xong. Trong cái núi thơ ngổn ngang ấy, sự xuất đầu lộ diện của anh bị đè bẹp ngay. Hai ngàn cuốn thơ… cuối cùng chỉ còn cách… bắc lên cân, bán như bắp cải trúng vụ.
– Thế anh không còn giữ lại tập nào à?
– Để làm gì?
– Để tặng em… chẳng hạn. – Cô nhìn thẳng vào mặt anh khiến anh lúng túng.
– Thôi em hãy quên chuyện thơ với thẩn ấy đi! Anh nói đùa đấy mà!
– Lúc đầu anh bảo nói thật em tin là đùa. Còn bây giờ anh nói đùa, em lại tin là thật đấy!… Và em muốn anh kể tiếp… Có người bảo: "Đen bạc thì đỏ tình". Anh đã lận đận về xe máy và thơ… chắc vế thứ hai phải thuận lợi hơn. – Dường như cô đã nhuốm vẻ hài hước của anh nên cũng đã biết pha trò rất đúng chỗ.
– Em thích nghe thật à? – Anh hỏi một cách nghiêm chỉnh.
– Thích chứ!
– Vẫn theo mạch cũ chứ hay sang chuyện khác.
– Thế nào cũng được! Tuỳ anh!
– Thế thì lại theo mạch cũ,… – Anh im lặng một lát rồi tiếp tục. – Cô bé vừa là hoa khôi, vừa là diễn viên xuất sắc nhất của đội kịch nhà trường. Suốt những năm học cấp ba, anh mê mẩn cô ta đến phát sốt, phát rét lên. Một mối tình đơn phương đến thảm hại và cách giải toả duy nhất là thỉnh thoảng, sau giờ tan học, anh giả vờ tụt lại để được lẽo đẽo theo nàng mà chìm đắm vào những suy tưởng, ước ao.
– Nhưng cuối cùng, theo lời đoán của ông thầy Tàu anh cũng lấy được chị ấy chứ? – Bây giờ thì cô đã tỏ ra biết đùa thực sự, hỏi chen vào.
– Đời, từ cổ đến kim, mấy ai lấy được người mình yêu. – Anh ra vẻ trầm ngâm, triết lý.
– Thế anh vẫn ở vậy à?
– Không. Đúng tiêu chuẩn nhà nước quy định: Một vợ và hai con. Giá như được như em hỏi thôi ít ra cũng làm cho ba người đỡ khổ.
– Anh nói gì, em không hiểu? – Lần này thì cô có vẻ hoang mang.
– Cũng là nói đùa vậy thôi, chứ chuyện vợ chồng nhà anh thì vui lắm, cưới nhau cả chục năm mà "em vẫn ở đầu sông, anh cuối sông". Sau phải đúng chính cái "mẹo" mà báo chí đã từng nêu là "giả vờ ly dị nhau". Con cái đùn tất cả về cho bố để có cái hộ khẩu Hà Nội đã. Còn mẹ thì tính sau. Nhưng cuối cùng thì ông thầy Tầu vẫn tính đúng. Đến khi "tái hồi Kim Trọng" xong thì câu "mười yêu hộ khẩu rõ ràng thủ đô" trở nên lỗi thời, xí nghiệp vợ anh mới chuyển về bị cơ chế thị trường làm cho phá sản. Tự dưng thành người thất nghiệp. Thế là mọi chuyện trở thành công cốc, công cò cả.
– Còn cô người yêu thuở thiếu thời? Chả lẽ ông thầy Tầu lại tính sai à?
– Vẫn cứ chính xác mới tài chứ! Khi anh là sinh viên, mài đũng quần trên ghế đại học thì cô ta tạt ngang ra làm diễn viên. Một diễn viên có hạng mà nói tên ra là em hiểu ngay. Nhưng chuyện này, xin em đừng bắt anh phải đi đến tận cùng, kể tên cô ấy ra làm gì. Mấy năm sau, sân khấu đi vào ngõ cụt, nàng nhàn rỗi quá nên phát phì ra. Song lại không ù lì mà ngược lại thích mơ mộng làm thơ nữa mới chết chứ. Và chính thơ đã là nhịp cầu nối anh với cô ta. Không có bài thơ nào mới làm cô ta không đưa đến nhờ anh đọc và sửa giùm. Rất nhiều lần, trong "căn hầm Đờ Cát" nóng và chật như nêm cối của anh chỉ có hai người. Anh đã cố mường tượng lại "mảnh tình" thuở xưa để gây men cảm hứng mà không nổi. Cuối cùng, trước lúc tuyệt giao, cô ta đã mắng anh là "đồ bị thịt"… Thế nào. Chuyện anh kể thế đã đủ chưa? – Dừng một phút sau, anh mới hỏi.
– Anh kể chuyện hay quá! Thật cả trăm phần trăm mà cứ như bịa ra ấy. – Cô đăm đăm nhìn anh, đôi mắt một mí trẻ trung long lanh sáng. Và bàn tay trái, ngượng nghịu vuốt ngược những sợi tóc ngắn xoã xuống trước cái trán phẳng phiu. Còn nhiều người khác, toàn chuyện bịa mà kể cứ như thật để… lừa nhau.
Nhận xét của cô làm anh sửng sốt, đột nhiên anh muốn đứng dậy để ra về. Anh chưa hiểu được cô nhưng ngược lại cô lại hiểu rất rõ anh, có phần vừa mến thương, vừa cảm phục nữa. Bởi thế cô muốn anh ngồi lại.
– Ồ, đi đâu mà vội anh! – Anh kể từ nãy chắc khát nước… để em đi lấy bia… Em muốn uống với anh mà! – Rồi không chờ anh trả lời, cô đứng dậy, băng sang kia đường.
Cô muốn tìm hai chiếc ly chân cao. Nhưng dường như sợ anh biến mất nên cô tỏ ra rất vội vàng. Và sự vội vàng làm cô rối trí. Thành thử cô muốn nhanh lại hóa ra chậm.
Trời đang nắng vàng, thứ ánh nắng dịu dàng có phần run rẩy của vùng núi cao đột nhiên tắt lịm. Trong chớp mắt như có cánh cửa tủ lạnh khổng lồ bị mở tung và sương mù, khí lạnh ùa vào thung lũng. Từng vạt sương bay táp vào ngực vào mặt anh tạo nên cảm giác đê mê, mát dịu. Anh nhìn xuống, những biệt thự, nhà nghỉ, khách sạn cùng các lều quán mọc vô tội vạ dưới kia bị dìm dưới đáy biển sương dày đặc. Giữa lúc đó cô xuất hiện trở lại với những hộp bia và hai chiếc ly cao chân. Anh muốn giúp đỡ cô. Nhưng những vạt sương mù huyền ảo đã khiến anh căn nhầm vị trí, lẽ ra phải đỡ những hộp bia ở phía trên anh lại chụp nhầm cả hai bàn tay cô gái. Cô không rụt lại. Anh cũng không dám thả ra sợ cả hai cùng buông tất sẽ gây nên sự đổ vỡ, cuối cùng cả bốn tay cùng đặt xuống mặt bàn.
– Sương mù, sương mù đột ngột thế anh có ngạc nhiên không?
– Sáng qua, mới đặt chân lên đây, anh thật ngỡ ngàng, còn hôm nay thì đã quen rồi. Lại cảm thấy thích thú như đang được cùng Lục Tiểu Linh Đồng đóng phim Tây Du Ký ấy!
– Không có sương mù, xứ này không thành khu nghỉ mát anh ạ! – Rồi cô mở bia rót ra hai chiếc ly.
– Họ chưa kịp nâng cốc, như một cơn gió lốc, mấy chiếc cúp phóng rất nhanh đột ngột phanh kít lại giữa đường. Đám thanh niên đem theo cái ồn ào, xô bồ vào quán với những lời yêu cầu tới tấp. Cô tỏ ra nhanh nhẹn, chỉn chu trong sự phục vụ. Nhưng tất cả điều đó không giấu được sự miễn cưỡng, lẫn sốt ruột muốn được nhanh chóng ngồi xuống bên anh. Những chàng thanh niên, vốn sành ăn chơi cũng đã phát hiện ra điều đó. Như để khiêu khích, xen lẫn với sự ganh tỵ, họ hết yêu cầu cô thứ này đến thứ khác. Mỗi lần như thế, cô đều đưa mắt nhìn anh như thể mong anh thông cảm và thứ lỗi cho. Anh mỉm cười, gật đầu, lòng cảm thấy lâng lâng sung sướng.
Hết đợt khách này sang đợt khách khác. Dường như giờ này, những người đi lễ Bà Chúa Ngàn từ sáng sớm tinh mơ đang lục tục ra về. Và họ cũng muốn tìm một chỗ nghỉ chân. Anh nghĩ mình không nên quấy rầy và chiếm chỗ trong quán hàng của cô nữa. Lần này thì anh dứt khoát đứng lên. Trước khi tạm biệt cô, anh kín đáo đặt bốn tờ năm ngàn dưới hai hộp bia đang uống dở.
– Anh còn nghỉ ở đây lâu nữa không? – Biết không thể giữ được anh thêm, cô hỏi.
– Sáng sớm mai đã "Hạ Sơn" rồi! Anh cố pha trò theo kiểu Tây Du Ký.
– Về Hà Nội, anh đến trường em chơi nhé! Cô thì thào.
– Nhất định rồi! – Anh đáp vẻ quả quyết.
Những bậc đá quanh co, khấp khểnh dẫn xuống thị trấn nghỉ mát lúc này không làm anh ngần ngại nữa.
Anh cố thẳng lưng, ngẩng đầu giữ vẻ bình thản bước xuống. Nhưng không cưỡng lại nổi, anh bắt buộc quay đầu lại. Trái tim anh chợt xao xuyến lạ lùng khi đôi mắt phát hiện ra cô trông ngóng theo anh.
Thằng bạn, người đạo diễn chuyến đi nghỉ của anh vẫn chưa về. Điều đó khiến anh thấy dễ chịu. Anh nhấc bổng, chiếc xa lông gỗ lim nặng trịch ra ban công. Lòng xốn xang những cảm giác kỳ lạ. Lần đầu tiên trong đời anh gặp may mắn chăng? Không thế thì sao! Một cô gái trẻ măng lại có thể thông cảm với số phận trớ trêu của cuộc đời anh qua những mẩu chuyện anh chỉ cốt kể cho vui. Đó là anh chưa kịp giãi bầy vì sao anh lại đặt chân lên thung lũng đầy sương mù này. Nếu kịp kể ra, chắc cô còn cảm thông hơn nữa – cũng vẫn là những câu chuyện đời thường về phân phối nhà và đi thực tế nước ngoài mà thôi.
Ôi, các ước mơ được ra nước ngoài để mở rộng tầm nhìn anh cũng đã từng ấp ủ cả chục năm trường. Có lần, vào cuối 1978, anh đã cầm hộ chiếu và lên tầu liên vận quốc tế. Nhưng tầu vừa chuyển bánh thì có một chiếc commăngca cộng với một chiếc môtô ba bánh của ngành nội vụ đuổi theo. Họ đã kịp lên biên giới trước anh nửa giờ. Với lệnh dừng chuyến đi khẩn cấp, anh đã được triệu hồi về Hà Nội. Hơn một năm sau, qua câu chuyện rất thân tình với một cán bộ tổ chức anh biết, tại quê nhà, một kẻ ghen ghét với gia đình anh đã viết thư tố giác rằng: "Bố anh từng làm chỉ điểm, gây ra cái chết thảm thương cho ba du kích". Đến lúc nội vụ được xác minh thì đoàn đi thực tập đã về nước được ba tháng.
Lần thứ hai, anh được đền bù thì lại vướng vào việc "ly hôn giả" phải gác lại.
Lần thứ ba mới diễn ra cách đây mấy chục hôm. Cơ quan đồng thời có một chỉ tiêu phân phối nhà và một chỉ tiêu đi thực tập ở nước ngoài. "Lộc bất tận hưởng" nên anh chỉ được phép chọn một. Thằng bạn học cùng thời với anh ở trường Tổng hợp khuyên: "Cậu nên chạy suất đi Tây. Tớ đã đi rồi sẽ đạo diễn cho cậu tất cả hàng đi, hàng về. Có tiền, khắc mua được nhà. Thế là nhất cử lưỡng tiện". Hắn bé loắt choắt, mặt rỗ huê, trán thấp và tóc lưa thưa, so với anh hắn như sự tương phản của phần đối cực. Nhưng bù lại hắn có cái miệng "tép nhảy" rất có duyên và một bộ óc thực tiễn vĩ đại.
Mang danh nhà văn mà không có tác phẩm nào,
song những tập truyền thống viết cho các ngành đã đem lại cho hắn những món lợi kếch xù để xây nhà cao cửa rộng. Tuy thế về mặt "danh chính, ngôn thuận" hắn
cũng chỉ có một buồng như "căn hầm Đờ Cát" của anh ở tầng trệt cơ quan. Nếu anh chọn việc đi nước ngoài, căn hộ khép kín hai buồng chắc chắn sẽ rơi vào tay hắn. Ai cũng rõ đây là đợt phân phối nhà bao cấp cuối cùng. Nhưng nghe nói bùi tai, anh đã chấp thuận theo phương án của hắn.
Hôm anh cầm hộ chiếu có hàng chữ ĐI CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, không phải anh mà là hắn mở bia chiêu đãi cả cơ quan. Ngày giờ bay chỉ còn chờ sự sắp xếp của ngành hàng không. Nhưng nào có ai học được chữ ngờ, cuộc chính biến tháng tám ở Liên Xô diễn ra quá mau lẹ đã chôn vùi niềm hy vọng cuối cùng của anh. Ngay cả cơ quan mời anh cũng không còn tồn tại nữa thì anh bay qua bên đó mà làm gì?
Mấy ngày liền, anh lặng đi vì bất lực. Vì cảnh
"xôi hỏng, bỏng không". Để xoa dịu và an ủi anh, thằng bạn cố tri đã xoay hai vé của nhà nghỉ Công đoàn và đích thân đưa anh lên đây bằng chiếc cúp đời 81 chót chét
của hắn.
Cuối cùng lời tiên đoán của ông thầy Tầu vẫn chính xác, khi anh có hộ chiếu "đi các nước XHCN" trong tay thì phe XHCN đã không còn, anh sẽ nói với cô ấy khi kể xong chuyện vừa rồi vào lần gặp gỡ sắp tới tại Hà Nội. Rồi anh mỉm cười một mình – Và cảm thấy dường như mình trở thành một người khác. Không, nói chính xác hơn là từ lúc tạm biệt cô, cuộc đời anh như sang một trang mới. Mọi ước ao đời thường cũng như ước mơ tinh thần cao cả trước đây, từ giờ phút này trở nên vô nghĩa. Anh sẽ làm lại từ đầu, làm lại tất cả. Bắt đầu từ việc đến thăm cô. Có thể là một tuần đến mười hôm, anh sẽ đến trường gặp cô một lần… Sẽ không có chuyện đụng chạm về thể xác. Ngay đến cả những chiếc hôn hoa lá cũng không. Chỉ là hai người bạn thông cảm với những nỗi niềm sâu kín tâm tình với nhau. Rồi anh sẽ lại làm thơ. Những bài thơ chỉ để tặng riêng cô nhưng lại có ý nghĩa khái quát đối với tất cả mọi người. Anh biết điều này thật khó, bởi anh đã ở độ tuổi bốn mươi rồi. Sự mòn mỏi, già cỗi dường như đã thường trực trong anh. Nhưng anh hy vọng, sự trẻ trung của cô sẽ truyền cho anh cảm hứng sáng tạo mới.
Và đột nhiên, rất đột nhiên anh cảm thấy biết ơn thằng bạn cố tri của mình. Rõ ràng là nhờ có sự đạo diễn của hắn anh mới lên được đây và được gặp cô…
Gần bốn giờ chiều thằng bạn mới xuất hiện. Anh chưa kịp nói với hắn câu nào, nhưng vốn là thằng nhanh nhạy, chỉ ngắm anh vài chục giây, hắn đã thốt lên, giống hệt lời một nhân vật của Nam Cao.
– Tiên sư cái anh mũi lõ giỏi thật! Một trăm năm trước đây mà đã biết mò ra cái ổ sương mù này làm chỗ thư giãn thần kinh! Trước khi đi tôi đã nói rồi, ông cứ lên đây, chỉ vài ngày là thấy khác ngay!
Anh mỉm cười như thể đồng tình càng làm hắn hứng chí. Vẫn giọng "tép nhảy" hắn động viên anh:
– Xứ ta rồi sẽ khá! Rất khá! Sắp tới sẽ là nơi hội tụ của bốn biển, năm châu. Trước hôm lên đây, mình đã chứng kiến một cái điềm ở một bà bán hàng rong trên vỉa hè thế này: "Hê lô sư phò – Bà ta nói với một người mua nước ngoài – Sư phò măng dê nải chuối này rất là khơ ra sô!"
Rồi hắn cười phá lên. Anh thì vẫn mỉm cười.
– Từ đền Bà Chúa Ngàn tớ lao xuống Thác Bạc – lần Vàng. Khoái lắm! Ông không đi thật phí!… Nhưng không sao! Bây giờ thế này! – Hắn nói như ra lệnh: Chờ tớ tắm một lát! Rồi sau đó hai đứa sẽ ra quán Hương rừng! Bỏ mẹ nó cái suất cơm nhà nghỉ này cũng được!… Thế nhé!
Quán Hương rừng thật xứng với tên gọi với những món đặc sản từ cầy hương đến sóc bay lại được các đầu bếp chế biến rất khéo. Cạnh bàn hai người, có ba gã thanh niên chỉ nhấm nháp chậm chạp rượu suông – dường như họ không phải là khách mà là nhân viên của cửa hiệu thì đúng hơn, quả đúng như thế! Chúng cho anh và thằng bạn nếm đủ các vị "Sơn hào", một tên lom khom rất lễ phép đến hỏi nhỏ:
– Ở đây còn có quầy "Em ơi!", các anh có muốn "xài" không ạ!
– Biết chúng tao là ai mà mày dám mời món ấy! – Thằng bạn anh, mắng phủ đầu.
– Dạ biết chứ ạ! Gã vừa xoa tay vừa đáp.
– Biết thế nào?
– Dạ!… Biết các anh là khách đặc biệt nên phải mời… thứ cao cấp ạ!
– Có trẻ không?
– Dạ!… Rất trẻ ạ! Mới ngoài hai mươi thôi ạ!
– Có đẹp không?
– Dạ!… Ngon mắt lắm ạ!… Vả lại còn…
– Còn gì nữa?
– Dạ lại còn rất trí thức, có học nữa ạ!
– Đưa ra đây ngắm xem thế nào?
Vừa đưa miếng thịt cầy vào miệng nên anh ớ ra chỉ biết nghe lời đối đáp của thằng bạn với tên ma cô.
Tên đưa người đứng thẳng dậy và quay lại phía sau. Hắn vỗ tay hai cái kèm với mấy tiếng huýt gió. Từ hành lang dài được chắn bằng những tấm phên nứa dẫn tới một dãy nhà ngang ở mãi phía trong, có tiếng cọt kẹt cửa. Một cô gái được đẩy ra. Cô hơi cúi mặt. Mặc dù nhìn chếch nhưng với dáng vóc mảnh khảnh với búp tóc ngắn buộc lọn ra phía sau ngồ ngộ như đầu đót của cây chổi quét vôi khiến anh cũng nhận ra cô gái đó là ai? Cổ anh tắc nghẹn lại như bị bóp làm anh không thốt ra được lời nào. Trong khi đó, thằng bạn bé loắt choắt, mặt rỗ huê, trán thấp và tóc thưa, sự tương phản của phần đối cực với anh nhanh như một con chim cắt. Trước lúc chụp móng vuốt vào đôi vai gầy của cô, hắn còn quay lại cười cười, nói giọng tép nhảy với anh:
– Thế là có tư liệu để viết bài phóng sự "điếm núi" rồi! Cũng huề thôi! Không sợ "lõm" đâu!
Đầu anh choáng váng, toàn thân tê dại như bị điện giật. Ngoài kia trời vẫn sáng, nhưng trước mắt anh bỗng thấy hiện ra cuồn cuộn những đám sương mù hình thù như những cuộn dây thép gai đùn vào trong quán. Rồi bên tai anh nổi lên một tiếng thét thất thanh:
– Sư phò! Sư phò! Yêu quái! Yêu quái!…