Alexi Zentner ra đời ở Kitchener, Ontario (Canada), tốt nghiệp Cao học Văn chương, dạy ở đại học Cornell. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên The Atlantic Monthly và Narative Magazine. Ông được giải thưởng Narrative 2008 cho truyện ngắn “Trapline.” Truyện ngắn “Touch” (xin mạn phép đổi tựa đề thành “Ngoài Tầm Tay”) in trong tạp chí Tin House được hội đồng giải O. Henry 2008 bình chọn là truyện ngắn được yêu thích nhất. Zentner còn có hai truyện ngắn được lưu ý đặc biệt trong tập truyện giải Pushcart 2008.
Đám thợ thả gỗ xuống sông khá sớm, vào tháng Chín, những thân cây cụt đầu bị nhồi nhét dồn dập xuống sông, trôi xa mút tầm nhìn của tôi và đám trẻ con. Bố tôi, là trưởng toán, đứng trên đầu dốc nơi được dùng làm cầu tuột cho gỗ trượt xuống sông, không ngừng quát tháo với đám thợ và vung vẩy cái bàn tay tật nguyền nhăn nhúm, hối thúc thợ thuyền hãy nhanh lên. “Toàn là tiền bạc đang nằm ở dưới sông đấy, các chú,” ông lại quát, “đẩy tiếp, đẩy tiếp.” Mùa hè năm ấy tôi lên mười, trong trí nhớ của tôi, bố như người khổng lồ, mặc dù mẹ tôi bảo rằng ông không mấy cao lớn, chưa cao đủ để phải cúi đầu mỗi khi bước vào ngưỡng cửa của căn nhà do công ty cung cấp cho trưởng toán. Căn nhà có cái hàng hiên được che kín, nằm phía sau xưởng gỗ.
Ông đã từng “chạy nước” ngày còn trẻ, dùng sào đẩy gỗ ra khỏi vùng nước xoáy hay những chỗ có dòng nước chảy xiết, phân tán những thân cây đã bị dồn lại với nhau đến độ tắt nghẹn không trôi được, chịu trách nhiệm chuyển gỗ bằng đường sông cả ba chục dặm từ Sawgamet đến Havershand. Khi đến nơi những thân cây cụt đầu này sẽ được chất lên xe lửa nhưng ông không cần phải đích thân hộ tống chúng: hoặc là chúng sẽ xuôi về hướng nam để người ta cưa thành từng khối gỗ dài hình vuông để làm đường rầy của xe lửa hay là chúng sẽ được chở đi hai ngàn dặm về hướng đông đến Toronto, và từ đó sẽ được xe vận tải chở đến Boston hay New York. Ở đây những thân cây khổng lồ này sẽ được cưa xẻ thành xà nhà hay được dùng làm khung nhà ở các thành phố xa lạ. Mỗi cuộc thả gỗ như thế mất nhiều ngày mới đến Havershand, bố nói. Những người thợ thả gỗ ngủ rất ít và vì thế luôn luôn mỏi mệt. “Cẩn thận, trông chừng bàn chân, các chú. Những thân cây đang xoay tít kia có thể nghiền nát hay ép các chú bẹp dí đấy.” Nước lạnh chìm ẩn dưới khối gỗ luôn luôn gọi mời. Đám thợ dựng lều ngay giữa những khối gỗ đan nhau chặt chẽ đến độ biến thành một nền gỗ vững chắc, như mặt đất, trên đó người ta có thể ngủ vài giờ, ăn vài miếng bánh bích qui nguội cứng còng và uống một tách trà.
Mặc dù có một bàn tay đã bị dập nát, bố tôi vẫn có thể đảm nhiệm một đầu của lưỡi cưa dài. Ông giữ phần đầu cưa của ông, bắt lưỡi cưa phải ca hát ngân nga xuyên qua xuyên lại khối gỗ, nhanh nhẹn chẳng khác gì những người thợ có đầy đủ hai bàn tay. Nhưng một người thợ gỗ chỉ có thể sử dụng một bàn tay sẽ không thể chống gỗ trên sông; khi đám thợ thả những thân cây xuống sông bố tôi đứng điều khiển công việc ở nơi vùng gỗ đan vào nhau, nơi đó những thân cây đã chèn cứng một cách an toàn, và tránh xa những khối gỗ đang lặn ngụp, ngăn ngừa sức phá hoại của gỗ và những khối cây nặng nề nằm ở mép ngoài.
Tôi không biết bố tôi có cảm giác thế nào về cái bàn tay tàn tật của ông, và tôi sợ không dám hỏi. Bố tôi không hề nói về những hiểm nguy của những dòng sông chảy xiết và dài vô tận, nhưng ở chỗ đốn cây, giữa rừng, ngày nào cũng có thể là một ngày cuối cùng – người ta đặt tay lên cán cưa đã nhẵn bóng, đẩy cái cưa chạy qua chạy lại, ca hát trong lúc làm công việc bình thường như việc nhà, như bà nội trợ đang nhồi bột – lúc ấy là lúc bọn thợ lơ đễnh nhất. Tôi biết nhiều người đã bị chết vì cây đổ, hay bị chảy máu đến chết chỉ vì một cái rìu cùn, dội ra từ khúc gỗ và cắm vào chân của họ, bị đè nát nghiến vì gỗ lăn ra khỏi xe, hoặc chết đuối khi thả gỗ dưới sông. Năm nào cũng có người chết hoặc trở nên tàn tật.
Hai năm trước lần thả gỗ ấy, vào ngày sinh nhật năm tuổi của Marie, em gái tôi, tôi đã hỏi mẹ tôi về bàn tay của bố.
“Mẹ rất mừng,” bà nói. Chúng tôi ngồi trên đầu dốc của đường gỗ trượt, nhìn ra hướng bờ sông, phe phẩy đuổi đám ruồi đen một cách tuyệt vọng. Bố đã đưa em vào rừng, nơi chỉ dành riêng cho đàn ông, làm quà sinh nhật tặng em.
“Mẹ mừng à?”
“Mừng vì chỉ có một bàn tay của bố bị hỏng thôi,” mẹ tôi trả lời và điều này cũng đúng.
Buổi sáng mùa hè hôm ấy, Marie đã mang phần ăn trưa của em vào chỗ cưa gỗ, tất cả được gói và cột lại trong một cái khăn tay: hai lát bánh mì có trộn lẫn trái blueberry, hai củ khoai tây luộc, khoai đèo vì bị đào lên hơi sớm; và một miếng thịt nướng nho nhỏ. Bố để em mang cái rìu của bố, vẫn còn bén và sáng ngời, bởi vì kể từ ngày bị tai nạn bố chưa dùng đến nó, và khi hai người rời nhà, tôi làm ràm đòi bố cho tôi cùng đi, đám trẻ trong vùng đã được đi giúp bố chúng nó ngày thứ Bảy và suốt cả mùa hè. Tôi đã đủ lớn để chặt bỏ những cành nhỏ, giúp chăm ngựa, và kiếm tí tiền tiêu vặt.
“Con đã đi nhiều lần rồi,” mẹ tôi nói, mặc dù bà biết là tôi chỉ được đi có hai lần vào ngày sinh nhật của tôi. “Chỗ ấy nguy hiểm lắm.” Chắc chắn mẹ đã nghĩ đến cái cảnh khúc gỗ cán lên bàn tay của bố tôi, đè nó bẹp dí đến độ nó chẳng cháy máu cho đến khi đám thợ đến cắt gỡ nó ra để giải cứu ông. Có lẽ tôi đã nhăn mặt phụng phịu, nên mẹ dỗ dịu dàng. “Tháng sau, vào ngày sinh nhật của con, con sẽ được đi.”
Hôm ấy Bố và em tôi về trễ, mặt trời mùa hè vừa mới lặn, Marie vẫn còn mang cái rìu của bố, lặng lẽ khóc, bước đi khập khiễng, máu rướm lấm tấm trên vớ của em khi chỗ phồng bị dộp da và chảy máu, bố tôi đi chầm chậm bên em. Mẹ tôi bước ra khỏi hiên nhà đến với Marie, nhưng em tôi tảng lờ, đi qua khỏi mẹ, leo lên ba bậc thềm bước vào cửa. Bố tôi lắc đầu.
“Con bé chẳng chịu để tôi bế nó.”
“Không cho cầm giúp cái rìu?”
“Tôi đã thử hỏi nó.”
“Rồi sao?”
Bố hôn Mẹ rồi lại lắc đầu. “Một ngày thật nhọc nhằn cho con bé. Sang năm nếu nó vẫn còn muốn đi thì nó sẽ được đi.” Mẹ tôi gật đầu và đi vào trong săn sóc chỗ phồng dộp của Marie, lo cho em ăn tối và cắt cho em một lát bánh.
Tuần sau, Charles Rondeau, đang mãi đốn cây nên không nghe tiếng kêu báo động của đám thợ, thế là ông bố Rondeau phải bế xác đứa con đẫm máu ra từ bụi cây. Charles chỉ lớn hơn tôi vài tuổi, và một tháng sau, khi tôi được tám tuổi, Mẹ mua cho tôi một bộ đồ com lê mới, để mặc đi lễ ngày Chủ nhật, vừa nóng bức vừa khó chịu, và bố tôi đi vào chỗ đốn gỗ một mình, không cho tôi theo.
Mặc dù cái chết của Rondeau làm mọi người buồn bã, năm tôi tám tuổi mùa gỗ rất thịnh, mùa đông đến trễ hơn mọi năm. Bố tôi cho thợ tiếp tục đốn gỗ cho đến tháng Mười. Khi gỗ được thả từ đường gỗ trượt xuống sông trời vẫn chưa đông giá.
Khi thân gỗ cuối cùng được thả xuống sông, bố tôi đứng giữa chỗ gỗ đan chặt vào nhau vẫy tay từ giã. Marie và tôi cùng với trẻ con các gia đình khác chạy dọc theo bờ sông chừng một hay hai dặm, hò hét với bọn thợ. Ba tuần sau, bố tôi, cũng như mọi người, từ Havershand quay về cười vui vẻ. Tất cả đều cởi áo khoác ngoài, vác trên vai những thanh sắt mũi nhọn dùng để làm sào chống gỗ, và kẹp dưới nách những gói quà nho nhỏ mua cho vợ con. Mùa đông năm ấy rất ôn hòa dễ chịu. Khi con sông đóng băng vào tháng Chạp, trễ nhất từ trước đến nay, Marie và tôi đều được quà là đôi giày trượt băng mới toanh. Giấy gói quà vẫn còn nằm trong hộp. Giáng sinh đã đến sớm hơn thường lệ.
Mặc dù chúng tôi thích được đi với Bố vào nơi đốn gỗ vào mùa hè, mùa đông lại vui hơn, bởi vì ít nhất chúng tôi được có bố trọn vẹn riêng cho chúng tôi. Ban ngày khi chúng tôi đi học, bố đến xưởng gỗ, mài cưa mài rìu, kiểm soát sổ sách giúp Pearl, người phụ tá của ông, chăm sóc ngựa. Bố về nhà trước khi chúng tôi về, ngồi trước lò buổi tối, cùng chúng tôi nghe mẹ tôi, cựu giáo viên của trường Sawgamet, đọc sách. Bố khắc một món đồ chơi bằng gỗ cho Marie – cái còi có hình dáng con ngựa – dùng cái tay bị dập kẹp khối gỗ lên bàn. Tuy nhiên, thường thường là bố kể chuyện cho chúng tôi nghe thay vì khắc đồ chơi.
Tôi biết, ở chỗ đốn gỗ bố là một người rất khác. Bố phải làm ra vẻ khó và nghiêm để đám thợ nể sợ bố, và đáp lại, đám thợ tiếp tục cho những lưỡi cưa ngân nga qua thân cây tươi còn xanh. Trong khi rìu của họ vạt gỗ thành hình dáng những đôi môi cười và cắt những nhánh nhỏ từ thân cây bị hạ xuống, hay khi họ quấn dây xiềng chung quanh thân gỗ, bố tôi băng qua rừng cây, quát tháo, nói chuyện, diễu cợt, phụ giúp những người thợ cưa gỗ, nếu cần. Bố bắt đám thợ làm việc chăm chỉ, và nhiều khi họ chống cự lại, bố về nhà đầy những vết bầm, một con mắt sưng vù nhắm kín, những đốt tay chỗ cung lại thành nắm đấm bị trầy trụa chảy máu. Bố bắt đám thợ phải vâng theo.
Ở nhà, Bố là người rất dịu dàng. Bố kể chuyện về Bố và đó là những câu chuyện có thật. Bố kể bụi mạt cưa đã mọc cánh và bay xuống áo của đám thợ như muỗi bay, chuyện một thân cây tự đứng dậy chạy trốn những lưỡi cưa bén ngót như thế nào. Bố kể chuyện chẻ toát một cái cây ra rồi thấy cả một vương quốc thần tiên, chuyện chỉ một nhát rìu của bố có thể hạ gục cả cánh rừng, chuyện gia đình của một cái cây bố tìm thấy đã quấn quít lấy nhau, vươn lên đến trời, kết lại thành bím bằng lòng yêu thương.
Câu chuyện chúng tôi yêu thích nhất, chúng tôi luôn xin bố lập lại, là chuyện bố đã thành công trong việc thuyết phục mẹ nhận lời kết hôn với bố. Lần cuối cùng bố kể câu chuyện này tôi nhớ là vào mùa xuân trước khi tôi lên mười.
“Người nào cũng bị mẹ đuổi đi ngoại trừ bố và Pearl Gasseur,” Bố nói.
“Già Pearl?” Marie cười khúc khích, nghĩ đến Pearl cũng như tôi nghĩ về ông ta, ở trên giữa đám gỗ trôi, mắt nhắm tít, tóc bạc mọc dựng đứng tua tủa trên đầu, cái áo lót màu vàng thòng ra khỏi tay áo.
Bố tôi đã kể câu chuyện này rất nhiều lần, đến độ Marie thuộc lòng từng chữ, nhưng em cũng như tôi, yêu mẹ lắm, nên em vẫn vỗ tay và cười nắc nẻ.
“Già Pearl? Già Pearl?” bố tôi reo to, hàm răng lấp lánh. “Già Pearl lúc ấy chưa già, bố nói ồn ào vui vẻ. “Già Pearl có thể nhận chìm bất cứ người nào và sẽ cười chế nhạo gã ấy trong khi già tiếp tục lăn gỗ.”
“Và Bà Gasseur sẽ thích chí kể các con nghe chuyện này,” mẹ tôi nói. “Bà sung sướng như những trái dâu mùa đông nhìn ông ấy dìm đám thợ xuống nước.” Mẹ tôi mỉm cười khi nghe thế. Mẹ luôn luôn giữ nụ cười trên môi.
Thi đua lăn gỗ ở Sawgamet là trò chơi truyền thống. Hằng năm cả làng cùng ra bến sông trước ngày thả gỗ. Họ mang theo mền và những giỏ chứa đầy thức ăn như gà, củ hành nướng và khoai tây, bánh mì, bánh blueberry, rượu dâu. Bố tôi – và trước Bố là ông Trưởng toán Martin – sẽ lăn ra vài thùng bia to tròn, và đám đàn ông sẽ dùng chân để lăn gỗ. Họ, mỗi người đứng một đầu, dùng chân lăn khối gỗ, ban đầu chậm rồi nhanh dần và nhanh hơn, dừng lại lăn theo hướng khác, cho đến khi một người, đôi khi cả hai người một lúc, lăn xuống nước lạnh trong tiếng reo hò cổ vũ của đám đông trên bờ.
“Pearl luôn luôn thắng cuộc kể từ khi bố có trí nhớ,” Bố tôi nói. “Ông ấy chưa bao giờ bị chiếm chỗ, nhưng lần ấy Bố cần phải thắng.” Bố vỗ lên cái bàn bằng gỗ thông đã sờn bằng cái bàn tay bị tật và nháy mắt với Mẹ. “Ồ. mẹ của con là một người rất khôn.” Bố đứng dậy và vòng tay ngang hông kéo Mẹ sát vào người và nhìn Marie với tôi qua vai của mẹ. “Mẹ vẫn khôn khéo như thưở nào.”
Rồi Bố hôn Mẹ, và tôi ngạc nhiên là má của mẹ đỏ bừng. Trước khi đẩy Bố ra Mẹ nói nhỏ cái gì đó vào tai Bố và Bố cũng đỏ mặt, ngập ngừng giây phút trong khi mẹ bưng đĩa ra khỏi bàn.
“Papa,” Marie nói, đòi nghe tiếp.
“Ô, nhưng mà con đã biết chuyện này rồi. Mẹ đã kết hôn với bố,” Bố nói, quay lưng lại và vẫy tay, “và các con ra đời.”
“Papa,” Marie lại nói, ve vẩy ngón tay như là một cô giáo.
“Bố phải kể cho đúng,” Tôi nói.
Bố cười và nghiêng người phía bên trên lưng ghế. “Mẹ không chịu lấy bố.”
“Nhưng mẹ ạ,” Marie hỏi, “tại sao mẹ không yêu bố?”
Bố tôi ngừng và nhìn mẹ tôi. Phần này không nằm trong câu truyện. “Tại sao em không chịu lấy anh?” Bố hỏi.
“Anh đã hỏi cưới tất cả mọi cô gái trong Sawgamet,” mẹ tôi trả lời.
“Nhưng anh chỉ hỏi cưới họ một lần,” Bố nói, lưng quay về phía Marie. “Còn mẹ của con thì bố xin cưới mỗi ngày. Tất cả những người đàn ông đã xin hỏi cưới mẹ, vài người trong số ấy đã có vợ, nhưng bố vẫn tiếp tục xin cưới. Hằng ngày và suốt ba năm ròng, Bố gọi cho mẹ lúc ấy đang đi trọ học ở xa, xin kết hôn với Mẹ.”
“Và mẹ luôn luôn từ chối.” Marie thò tay ra và ôm bàn tay có những ngón khô héo của bố trong đôi bàn tay nhỏ bé của em. Bố ngồi xuống cạnh em. “Mama,” em hỏi lại, “tại sao Mẹ không yêu Papa?”
“Mẹ luôn luôn yêu Bố, cưng ạ,” mẹ trả lời, rót nước nóng từ trên lò vào chậu rửa chén. Mẹ nghiêng người hướng về hơi nước nóng để nó xông ngang mặt. “Mẹ chỉ chưa biết đấy thôi.”
“Thế là Bố tiếp tục hỏi cưới mẹ, cho đến một ngày, mẹ thôi chối từ.”
“Thế mẹ nói gì?” Marie không thể tự ngăn mình.
“Mẹ nói là ngày nào mà Bố có thể cho Pearl trong cuộc thi lăn gỗ bị ngã xuống nước trước, là ngày đó mẹ sẽ đồng ý kết hôn với Bố.”
“Mẹ nghĩ là đây là một vụ đánh cuộc khá an toàn,” mẹ nói. “Bố của con dường như không thể nào giữ cho người của Bố được khô ráo.”
Bố tôi dựa người vào ghế và nhìn đăm đăm mặt trăng ngoài cửa sổ. Bố đã rút bàn tay của bố lại từ tay của Marie, và bố dùng những ngón tay của bàn tay còn nguyên chà sát lên mu bàn tay bị dập, như thể là nó đau nhức vậy.
Tôi muốn nghe về cuộc chiến thắng của bố, về cái năm mà khúc gỗ lăn quá nhanh đến độ Bố không nhìn thấy bàn chân của Bố như thế nào, và mãi cho đến khi bố nghe tiếng nước tung tóe, và tiếng la ó từ trên bờ sông, thì bố mới biết là bố đã dìm Pearl Gasseur xuống nước. Tôi muốn nghe Bố kể cái lạnh của nước lạnh khi bố từ trên khúc gỗ chúi xuống nước rồi bơi lên bờ, nước sông từ quần áo của Bố nhễu long tong khi bố tiến đến gần Mẹ. Tôi muốn nhìn cái nheo mắt Bố dành cho chúng tôi khi Bố nói ông linh mục, Cha Hugo, đang ngủ gục với ly rượu ở chỗ mấy thùng bia. Tôi muốn nghe Cha Earl, mới dọn đến Ottawa hôm trước theo đạo Anh và còn trẻ hơn Bố, đã thực hiện phép cưới ngay lúc ấy trên bờ sông Sawgamet. Rồi Bố sẽ phải kể lại cho chúng tôi nghe Bố đã phải đi chuyến thả gỗ ngay sáng hôm sau, và Bố đã, từ Havershand, chạy bộ về với vợ của ông như thế nào, tuy thế, tôi hỏi Bố. “Bố có nhớ tiếc công việc thả gỗ không? Bố có nhớ chuyến thả gỗ ấy không?
Bố nhìn tôi giây lâu, như thể ông không nghe câu hỏi của tôi, rồi Mẹ lên tiếng, “Con và Marie rửa mặt rửa tay chuẩn bị đi ngủ.”
Khi tôi đứng dậy ở chỗ bàn, bố ngăn tôi lại. Bố giờ bàn tay bị hỏng, những ngón tay cong queo như một cái vấu. “Bố nhớ lắm chứ,” Bố nói.
Bố đã chẳng có cơ hội kể chuyện nhiều, vài tuần sau đó, khi tuyết tan vừa đủ cho bọn đàn ông lấy cưa và rìu vào rừng, bố tôi lại đốc thúc họ làm việc chăm chỉ, như thể Bố biết mùa đông sắp đến sẽ khắc nghiệt như thế nào. Bố bắt họ làm việc từ hừng sáng cho đến tối không cho nghỉ ngày nào cho đến đầu tháng Chín, khi những thân cây được chất đống và xếp hàng bên cạnh xưởng gỗ.
Những khúc gỗ này phải được thả trôi sông, lẽ dĩ nhiên là để làm ra tiền, và cái mùa đông năm kia ông trưởng toán Martin vì đoán sai thời tiết và chần chừ quá lâu nên gỗ bị đóng băng trong lòng sông. Mùa đông ấy thật khổ vì không tiền và nợ đòi tưng bừng. Khi mùa đốn gỗ bắt đầu trở lại lúc vào xuân, tuyết vẫn còn đóng trên mặt đất, bố tôi bị dập tay ngay trong tuần đầu tiên, và cũng trong tháng ấy trưởng toán Martin chết khi một cái rìu đi lạc cắm trúng phía sau đầu của ông. Sau đó Công ty giao cho chức vụ trưởng toán cho Bố tôi.
Năm tôi mười tuổi, băng vẫn đóng trên hai bên bờ sông ngày bắt đầu thả gỗ, và đám thợ liếc nhìn bố tôi vẻ như thầm cảm ơn, biết rằng không mấy lâu nước sẽ đóng băng. Mùa đông đến sớm và dữ dội, làm bận tâm một số rất ít người vẫn còn nhớ lần đầu tiên Sawgamet trở nên khổ sở túng thiếu, cái thị trấn phồn thịnh trở nên tiêu điều và người ta đồn là những người tuyệt vọng đã ăn thịt lừa của họ để sống sót. Suốt mùa đông bị tuyết bao vây cũng không khổ bằng nghe những lời thì thầm to nhỏ là họ ăn cái thứ gì đó còn độc địa hơn thịt lừa.
Bố tôi hối thúc thợ thả gỗ xuống đường trượt, hò hét, giúp sức với họ khi họ cần có thêm người dùng sào đẩy gỗ và đến giờ ăn tối, cả hai linh mục, cha Hugo và cha Earl đều chúc phúc cho chuyến thả gỗ; đám đàn ông đã lên đường và những thân gỗ cũng đi theo cùng với họ.
Đám đàn ông từ Havershand trở về trong cơn tuyết đang rơi, lạnh nhưng cười hớn hở, mặt đỏ bừng và sẵn sàng đi bẫy thú và đi săn; đây là cơ hội cho họ mài lưỡi cưa lưỡi rìu, và bán một ít lông thú. Nhưng vào cuối tháng Mười, cái lạnh nuốt chửng chúng tôi, gió làm chúng tôi tuôn nước mắt, đóng thành băng ngay trên má chúng tôi lúc ấy. Đàn ông chất ba lớp gỗ dùng để đốt sưởi chung quanh nhà, và tiếng rìu chặt nghe thùm thụp luôn luôn. Các bà nội trợ giữ cho bếp lò cháy suốt ngày, nước rửa bát họ đổ ra ngoài đóng băng ngay khi nó chạm mặt đất.
Dòng sông đóng băng từ ngoài vào trong, những chỗ bằng phẳng và gần bờ trước, nhưng vào tháng Mười Một ngay cả chỗ nước chảy mạnh ở giữa sông, chỗ tiếp giáp rất nguy hiểm của sông Sawgamet và sông Bear, cũng đóng băng. Ánh sáng ban ngày nhạt dần, chúng tôi trượt băng trên sông sau khi ở trường về trong khi lửa đốt ngoài trời gần bờ sông thành những đống cháy thật to, để chúng tôi có chỗ sưởi ấm đôi tay. Bọn con gái chơi nhảy dây trong khi nhóm đàn ông kể cả những thằng bé chơi khúc côn cầu trên một khoảng băng rộng sạch không có tuyết mềm.
Chủ Nhật, trước khi ăn tối, chúng tôi thường xuống bờ sông. Tuy nhiên Chủ Nhật hôm ấy, mẹ tôi ở nhà để nướng bánh cho xong, vì thế chỉ có Bố đi với chúng tôi, mang theo giày trượt băng của bố và của Marie vắt ngang cây gậy khúc côn cầu Bố vác trên vai. Với cái lạnh này, đã làm vỡ cái hàn thử biểu của trường hồi tuần trước, ngay cả Bố cũng phải quấn cái khăn quàng quanh mặt. Mẹ đã quấn tôi và Marie không biết bao nhiêu lớp quần áo khiến chúng tôi xoay trở rất khó khăn. Thế mà cái lạnh vẫn xuyên vào người chúng tôi như nước thấm vào bên trong, vì thế chúng tôi nôn nóng bắt đầu trượt băng cho ấm người lên.
Phía dưới sông, chúng tôi ngồi trên những khối tuyết cứng ở bờ sông và bố tôi giúp Marie mang giày trượt băng. Bố thắt dây giày rồi cho em xuống phía sông. Lúc bố đang thắt dây giày của bố, Em trượt chầm chậm về cạnh của dòng nước, đi dần dần xa chúng tôi với những bước rụt rè, như một con hươu tuyết mới ra đời chân còn run rẩy. Mặt trời đã bắt đầu lặn, nhiệt độ sụt dần và trời trở nên lạnh hơn, nếu như chuyện này có thể xảy ra.
Tôi đang cắm cúi với đôi giày trượt băng của tôi và kéo dây giày cho chặt hơn, nôn nóng mang gậy và tham gia đám con trai đang chơi đánh khúc côn cầu bằng gậy móc, thì bất thình lình Bố nhảy từ đống tuyết dọc bờ sông, một chiếc giày vẫn chưa cột xong. Bố la hét gọi tên Marie, lưỡi giày ăn sâu vào nước đóng thành băng, bay lướt về hướng lớp băng mỏng nơi hai dòng sông gặp nhau. Chỉ có một lỗ nước đen ngòm nơi Marie đã làm thủng một lỗ băng và mất ngóm vào trong ấy.
Những người đàn ông khác cũng phóng theo bố, nhưng bố là người đầu tiên đến chỗ thủng, kêu hét tên em. Một đôi giây, bố dừng ở mép của chỗ nứt. Bất thình lình, chúng tôi nhìn thấy em – tất cả chúng tôi đều nhìn thấy em – sặc sụa, trồi ngụp, cố gắng lấy hơi lần cuối ở trên mặt của khoảng băng vỡ chừng bằng cái bàn, quá lạnh hay quá sợ đến độ không thể la hét được, và khi tôi đến gần mép nước, tôi thấy đôi mắt em tôi đang dán chặt vào bố tôi.
Bố phóng vào trong nước.
Rồi cả hai cùng biến mất.
Tôi đứng ngập ngừng ở cạnh hố, nhìn trân trối mặt nước, ngạc nhiên tại sao nó phẳng lặng quá. Pearl chộp vai tôi lay mạnh tay. “Đừng,” ông ta nói, giữ tôi lại và tôi chợt nhận ra là tôi đã chẳng nghĩ đến việc lao theo bố tôi.
Hố nước đen Marie đã mở ra bắt đầu đóng băng lại ngay cả lúc Pearl đang giữ vai tôi. Đám đàn ông kêu mang dây đến, nhưng rồi, không thể chờ, họ bắt đầu quàng tay với nhau. Pearl là người đầu tiên vào trong chỗ băng vỡ. Tôi có thể nhìn thấy nét thảng thốt trên mặt ông khi ông vừa chạm nước. Chỉ đâu chừng nhiều lắm là một phút đám đàn ông kéo ông ra khỏi nước, da trên bàn tay ông biến thành màu trắng vì lạnh. Ông không thể đứng khi người ta kéo ông lên, hai chân ông run bắn và trở nên vô dụng phía dưới ông.
Mặt trời dường như rơi ra khỏi bầu trời, mang hơi ấm theo với nó. Trong bóng tối, tôi chỉ lờ mờ nhìn thấy cái lỗ bắt đầu đóng băng trở lại như cái mồm há ra để ngáp bây giờ khép lại. Mặc dù đã quá trễ, hết người đàn ông này đến người đàn ông khác, với vào trong nước qườ quạng mò mẫm tìm bố tôi và Marie. Lúc mà người cuối cùng được kéo ra khỏi nước, băng hầu như đóng kín chung quanh chân ông ta, như thể dòng sông còn đòi ăn nữa.
Cha Earl là người đưa mẹ tôi xuống sông, và Mẹ tìm thấy tôi đang ngồi cạnh đống lửa nhóm trên bờ, cạnh những người đàn ông môi tím xanh run lập cập. Nhựa cây của những khúc gỗ bị đốt cháy sôi sục rồi nổ, bụi lửa bay tung tóe lên trời; vài mảng than cháy bay chơi vơi xuống sông trước khi chết ngấm trong đêm.
Sau đó, các bà vợ và mẹ của đám đàn ông, xúm xít lại thì thầm to nhỏ. Pearl ngồi cạnh tôi, đã thay quần áo khô nhưng đang khóc lặng lẽ, và rồi, cuối cùng, mẹ tôi và tôi đi về nhà.
Chút xíu ấm áp nào còn sót lại từ tháng Mười và tháng Mười Một đã hoàn toàn rơi rớt mất, và mặc dù lửa trong lò luôn luôn được giữ cho cháy, mẹ tôi và tôi phải mặc áo choàng ở trong nhà, đội mũ và đeo găng tay khi đi ngủ. Tuy là không có thi thể người chết, vẫn tổ chức đám tang, và sau đó mẹ tôi nói một đôi lời với những người đàn bà mang thức ăn, nói ít lời với bà Gasseur, với Pearl, đôi lời với Cha Hugo hay Cha Earl, người đến thăm chúng tôi cho dù chúng tôi không phải giáo dân của ông. Mẹ không nói chuyện với tôi, ngay cả khi tôi nâng cái rìu của Bố từ cái giá gỗ treo trên đà cửa làm bằng đá và mang nó ra phía sau nhà. Tôi chẻ củi mỗi buổi sáng, và tiếng rìu chạm vào gỗ dường như dài hơn lâu hơn, trôi bồng bềnh xuyên qua nhà rất lâu ngay cả sau khi tôi đi học về. Mỗi chiều tôi mài lưỡi rìu. Tiếng kim loại chạm vào đá làm mẹ tôi rùng mình.
Mùa đông trừng phạt chúng tôi vào tháng Mười Hai. Tuyết rơi nhiều, mái nhà của chúng tôi kêu răng rắc cho đến khi những cơn gió giận dữ thổi tạt bụi trắng xuống đất. Cũng những cơn gió này đã dọn sạch một mảng tuyết rất lớn trên sông Sawgamet, mãi rồi cũng đến lúc, giữa Giáng sinh và Tết Dương Lịch, mặt trời lại mọc và đám đàn ông cùng với trẻ con, quấn đùm quấn đụp chống cái lạnh, mang giày trượt băng, lại hướng xuống sông. Nếu không có tiếng gió quật và tiếng củi cháy lách tách trong lò, nhà chúng tôi hoàn toàn im lặng.
Tiếng gõ cửa nghe như tiếng súng.
Pearl đưa chúng tôi xuống sông, giúp mẹ tôi đi xuống những bậc tuyết cắt vào trong đồi bên cạnh đường gỗ trượt, nắm cánh tay mẹ lúc chúng tôi đi trên mặt băng đến chỗ những người đàn ông đứng thành vòng tròn. Mặt băng phẳng phiu và sạch sẽ sau một tháng trời bị gió bào mòn.
Bàn tay của bố và em không chạm vào nhau. Ngay cả xuyên qua lớp băng che phủ hai người, chúng tôi thấy rõ ràng có một khoảng cách lớn hơn chiều rộng của lưỡi rìu ngăn cách hai tay của Bố và một tay của Marie. Một tay có các ngón tay bị dập nát còn bàn tay kia có những ngón trơn tru trắng bệch, tất cả đều cố vươn, cố vói đến tay của Marie. Nước đóng băng giống như thủy tinh phía trên bàn tay của hai người, dày cứng khi chúng tôi cố nhìn chiều sâu, để thấy thân hình và khuôn mặt của hai người. Những đường nét mờ dần, chỉ còn thấy bóng tối, những đường nét màu tối sẫm.
Có người bàn nên lấy rìu, đập vỡ băng, nhưng mẹ tôi ngăn cản điều này như thể cố tránh không cho phép người ta kéo Bố và em tôi ra khỏi mộ phần của hai người, và khi họ lướt đi, rời xa chúng tôi, trên những đôi giày trượt băng của họ. Pearl sờ lưng tôi và hướng về phía bờ sông, để mẹ tôi và tôi đứng đó bên trên hai bóng ma. Khi mặt trời lặn xuống dưới đỉnh đồi, chúng tôi rời mặt băng và lủi thủi trở về, leo bậc thang, vịn vào cạnh đường trượt gỗ để giữ thăng bằng.
Sáng hôm sau, khi tôi thức giấc, mẹ tôi ngồi bên cạnh bếp lò, người lắc lư chầm chậm, nhìn những ngón tay lửa xuất hiện giữa những kẽ hở của kim loại. Tôi thay quần áo thật chậm chuẩn bị đi lễ, chờ cho mẹ quấn tóc lên, thay cái áo màu xám mẹ thường mặc đi lễ. Nhưng mẹ ngồi yên trên ghế.
Mãi một lúc lâu mẹ ngước lên rồi bảo tôi. “Thôi con đi đi.”
Tôi nghĩ đến lễ rửa tội, miếng bánh lễ tan trong mồm tôi như một mảnh nước đá, và rượu vang, được Cha Hugo pha loãng, nhiều nước lã hơn rượu đỏ như màu máu. Nhưng thay vì đến nhà thờ, tôi đi xuống sông, băng và tuyết nghiến rít rào rạo dưới đôi giày ủng của tôi. Trong nắng, dường như mùa đông đã bay đi, và tôi toát mồ hôi khi đi bộ chỉ một khoảng ngắn.
Tôi quì bên trên hai người, chờ cho bố và em cử động. Tôi đặt bàn tay lên mặt băng bên trên ngón tay của bố. Tôi tự hỏi không hiểu Marie có biết bàn tay của Bố gần bàn tay của em đến mức độ nào không. Tôi chờ cho có việc gì đó xảy ra, cho bố tôi rướn tới chút nữa và nối liền cái khoảng cách ở giữa Bố và Marie, nhưng chẳng người nào di chuyển. Cuối cùng, khi tôi nghe tiếng kêu hò của bọn trẻ con đang chạy xuống sông sau khi tan lễ nhà thờ, tôi đứng lên và trở về nhà.
Mẹ tôi chẳng hề rời ghế bên cạnh bếp lò. Mẹ tiếp tục run rẩy, ngay cả với tấm mền quấn chung quanh bà, ngay cả với hơi ấm của ngày hôm ấy, vì thế tôi cho thêm củi vào lò. Và rồi, khi những tiếng reo hò và nói cười từ dưới sông bay lên, tiếng gậy nện trên mặt băng, mẹ tôi giật mình với từng tiếng động. Đôi giày trượt băng của tôi được cột dính vào nhau treo trên một cái đinh rỉ sét đóng nửa chừng vào cây cột ở góc xưởng gỗ. Tôi sẽ lấy chúng xuống và ra sông, trượt lên trên mảng băng phía trên bố và Marie. Tôi nghĩ đến chuyện bào mòn lớp băng ấy, nhưng tôi không muốn phải trả lời câu hỏi của mẹ tôi là tôi đi đâu.
Tôi thức giấc giữa đêm, mường tượng nghe tiếng Marie đang gọi tôi. Bên ngoài cửa sổ, có cái gì đó không bình thường, như thể cả thế giới đang ở dưới nước cùng với bố tôi và Marie, và tôi chợt nhận ra là một màn mưa mỏng đang rơi, băng đóng trên cây, biến tất cả mọi thứ trên sông Sawgamet thành một dòng sông đóng băng. Tôi đến thăm chừng lửa cháy trong lò, nhớ đến mẹ tôi đang run rẩy, và tôi thấy cây rìu không còn máng bên trên đà cửa nữa.
Những bậc thang bên cạnh đường gỗ trượt rất trơn, và cơn mưa lấm tấm sáng như sao, không phải nước mà cũng chẳng phải đá băng – kim cương rơi từ trên trời xuống. Khi tôi xuống đến sông, mẹ tôi đang vung rìu. Băng chiếu sáng dưới chân Mẹ, như thể là con sông đã nuốt chửng mặt trăng, và âm thanh của cái rìu bổ vào mặt băng nghe vang vang trong trẻo, như kim loại va vào kim loại.
Tôi đi đến gần mẹ tôi và tưởng như con sông sẽ vỡ nát dưới lưỡi rìu bóng dầu bén ngót, còn băng sẽ dính cứng vào chân chúng tôi. Dòng sông sẽ nhận chìm chúng tôi và chúng tôi sẽ đóng băng cùng với Bố và Marie. Hoặc là bố tôi sẽ bước lên từ chỗ băng mở ra, mang theo Marie ở phía sau Bố, nắm tay em, và cả bốn chúng tôi sẽ đi về nhà, chúng tôi sẽ ngồi trước lửa và bố có thể kể cho chúng tôi nghe câu chuyện về loại cá làm bằng băng tuyết.
Mẹ tôi tiếp tục vung rìu, và giữa những tiếng nện binh binh của lưỡi rìu dội ra từ mặt băng, tôi nghe tiếng Mẹ khóc. Mẹ ngừng khi nhìn thấy tôi rồi quì sụp xuống run rẩy. Tôi quì xuống bên cạnh mẹ. Mặt băng vẫn phẳng lì và sạch bóng, như thể mẹ chưa bao giờ dùng rìu nện vào đấy, và khi tôi đặt bàn tay lên mặt băng tôi cảm thấy nó ấm, so với bàn tay tôi, như thể bánh mì lấy ra khỏi lò đang nguội dần. Rồi ánh sáng dưới dòng sông cũng biến mất, bỏ chúng tôi lại trên mặt băng, một lớp mưa mỏng bao trùm chúng tôi.
Vào nhà, Mẹ lấy chăn trùm cho tôi và hôn lên trán tôi. “Mẹ xin lỗi,” Mẹ nói, thật nhỏ nhẹ đến độ tôi không biết là mẹ có thật sự nói hay là tôi chỉ tưởng tượng.
Tôi lên giường nằm rồi ngủ thiếp đi tai nghe tiếng mẹ đang mài lưỡi rìu, tiếng mài nhịp nhàng của kim loại chà xát trên đá.
Sáng hôm sau, khi bà Gasseur, thường là người đầu tiên đi lễ cầu kinh buổi sáng, tìm thấy Cha Hugo chết cóng trên băng ghế ở ngoài nhà thờ, thoạt tiên bà không ngờ là ông đã chết.
“Tôi hỏi sáng nay đi bộ ông có khỏe không,” bà nói, “vì tôi đã vất vả với trận mưa băng, và khi ông không trả lời, tôi sờ tay ông.”
Tôi không nhìn thấy Cha Hugo, nhưng về sau Pearl bảo với tôi là trông ông giống như vẫn còn sống bên dưới lớp đá trong ngần bao phủ ông, tay vẫn còn cầm một cái ly dùng làm lễ rửa tội chứa đầy máu của Chúa. Đàn ông phải nhóm một ngọn lửa nhỏ trước nhà thờ, chờ cho lớp đá tan để kéo ông ấy ra khỏi băng ghế. Pearl cho là Cha Hugo có thể đã chết trước khi ông bị đông đá, nhưng với ly rượu vang ông không chắc là ông nghĩ đúng.
Người ta cố gắng đào một cái huyệt, nhưng ngay cả với những cái rìu nhọn bén đặc biệt cũng không đào được vì mặt đất cứng quá. Cha Earl đọc lời cầu nguyện trên thi thể nạn nhân rồi Cha Hugo bị để suốt mùa đông trong một cái nhà nhỏ bằng gỗ phía sau nhà thờ, được bao bọc cẩn thận trong nhiều lớp vải tẩm dầu.
Ban đêm, khi giá lạnh biến bầu trời trở nên trong trẻo đến độ những vì sao rất gần tay với, nhựa cây đông cứng trong cây, làm cây nứt nẻ vỡ ra như tiếng băng trên sông vỡ vụn. Rất nhiều ngày như thế đàn ông không thể đánh bẫy hay bổ củi, gió làm cháy da của họ, lạnh quá tay không thể cầm cán rìu. Suốt mùa đông năm ấy Cha Earl đến thăm mẹ tôi và tôi thường xuyên và có nhiều buổi tối ông ở lại dùng cơm. Ông là một người nhỏ thó. Trông ông giống như tôi lúc tôi mặc cái áo khoác của cha tôi, và tôi không thể nào hình dung ông đốn ngã một cái cây. Mẹ tôi bảo ông chẳng nhỏ thó đến thế trước khi vợ ông chết cùng với thai nhi trong bụng, một mùa đông trước khi tôi ra đời.
Một đêm, đáng lẽ là tôi đã ngủ, tôi nghe ông hỏi mẹ tôi bà dự định làm gì khi mùa xuân đến, khi công ty sẽ lấy lại căn nhà, vì họ sẽ đưa căn nhà thường dành riêng cho trưởng toán, cho hai vợ chồng ông Pearl.
“Tôi có thể đi dạy học trở lại,” mẹ tôi nói, dù chúng tôi đều biết là Sawgamet không cần thêm một giáo viên.
“Tôi có nhà,” Cha Earl nói, nhưng giọng ông lạc đi. Ông cố gắng tiếp tục: “Tôi biết, tuy chỉ mới có vài tháng nhưng nếu bà cho phép.”
Tôi không thể nghe câu trả lời của mẹ, nhưng chỉ vài phút sau tôi cảm thấy hơi lạnh vào từ cửa, và nghe tiếng then cài cửa. Và khi ông đến thăm chúng tôi sau đó cũng trong tuần, ông và mẹ tôi nói chuyện thời tiết, sách vở, kịch, về những chuyện đồn về người sẽ thay thế Cha Hugo như thể Cha Earl chưa hề bàn chuyện hôn nhân với mẹ tôi.
Đôi khi tôi nhìn thấy ông đi trên sông, tay ông cho vào túi, và có một lần, tôi thấy ông đi trên cái vòng tròn băng trong veo phía trên Bố và Marie. Ông dừng lại rồi quì xuống, đặt một bàn tay lên mặt băng cũng giống như tôi đã làm trong đêm có mưa đông thành băng.
Mùa lạnh rồi cũng bỏ đi khi tháng Năm đến, dòng nước nhỏ chảy ri rỉ dưới tuyết trở nên dòng chảy lớn đều, tiếng nước chảy là lời nhắc nhở trong gia đình tôi chuyện chia ly sắp đến. Con sông rên rỉ, và tiếng băng trở mình thay thế tiếng va chạm của giày trượt băng và gậy chơi côn cầu.
Buổi sáng, con sông bắt đầu mở ra, tôi lấy cây rìu từ trên đà cửa xuống.
Mẹ tôi đang may, ngước nhìn tôi, kéo kim chỉ xuyên qua vải quần của bố tôi, khâu vá lại chỗ sờn rách mà mẹ đã chẳng có thì giờ làm khi bố tôi còn sống, để dành cho tôi như thể tôi sẽ mặc chúng khi tôi lớn lên. “Con đi đâu thế?”
“Vào chỗ đốn cây,” Tôi chờ cho mẹ nói thêm nhưng mẹ tôi im lặng. “Mình cần tiền.”
Mẹ tiếp tục may, không nhìn tôi. Tôi muốn đi. Tôi phải đi. Pearl và bà Gasseur chưa thấy nói gì, nhưng đây là căn nhà của công ty. Bây giờ nó trở thành nhà của họ.
“Con không đi đâu cả,” mãi một lúc lâu mẹ nói.
Tôi rà ngón tay cái lên lưỡi rìu và xoay bàn tay vạt một chút móng tay cái. “Mẹ không thể ngăn con.”
Mẹ tôi đứng lên và đi về hướng tôi, và không nói một lời, mẹ tát tôi. Rồi, cẩn thận, mẹ lấy cây rìu đặt lên trên đà cửa trở lại.
Tôi quay người đi ra cửa.
Ở chỗ đốn cây, Pearl nhìn tôi một hồi lâu rồi đưa cho tôi cây rìu của ông. Tôi ngã cây, tỉa cành, và cảm thấy cái đau nhức quen thuộc giống như khi tôi bổ củi. Giờ trưa, Pearl cho tôi vài miếng bánh bích qui và chia sẻ vài ngụm nước.
Sáng hôm sau, mẹ tôi bảo tôi tắm rửa, và mặc bộ đồ Chủ Nhật, và sau đám cưới, thay vì đi vào nơi đốn cây, tôi giúp mẹ tôi và Cha Earl – ông bố dượng mới của tôi – mang tài sản của chúng tôi đến nhà ông.
Bàn ghế vật dụng thuộc về công ty, vì thế chỉ có quần áo của chúng tôi, sách vở của mẹ, nồi chảo, đồ chơi bố tôi khắc bằng gỗ, đôi giày trượt băng và gậy chơi khúc côn cầu của tôi được mang đi. Mẹ tôi bỏ lại những đồ của bố mà bà đã khâu vá. Cho Pearl, mẹ nói, nhưng tôi biết bà Gasseur sẽ chẳng giữ quần áo của người chết. Sau ba lần đi và về, chỉ còn lại vài lọ dâu ngâm nước đường và vài gói quần áo, Cha Earl vói lên đà cửa lấy cây rìu của Bố xuống.
“Đừng.” Ông ngừng lại khi nghe giọng tôi, tay ông sắp chạm đến cán rìu. Ông đứng qua một bên và tôi bước qua khỏi chỗ ông đứng. Cái rìu có vẻ nặng hơn ngày hôm qua. Khi tôi kéo nó xuống, lưỡi rìu chạm phải cái đà cửa bằng đá, tiếng ngân trong trẻo, như tiếng mẹ tôi chặt vào trong băng.
Nhưng âm thanh cuối cùng tôi nghe là giọng của mẹ tôi. “Từ bây giờ con không được đi đốn cây nữa,” mẹ nói.
Vài mùa hè sau – sau khi Pearl và bà Gasseur chết trong trận cháy đã tiêu hủy xưởng gỗ, và căn nhà của công ty – người ta thiết lập đường rầy xe lửa nối liền với Sawgamet, và tôi biết là tôi sẽ chẳng bao giờ có cơ hội tham gia thả gỗ như bố tôi. Tôi lủi thủi chơi một mình nhiều mùa hè, bên sông, câu cá và hái những trái blueberry mọc hoang.
Gần cuối mùa hè tôi đi dọc theo bờ sông chừng một giờ hay hai giờ, hướng về Harvershand, không chủ ý đến nơi nào, chỉ muốn xa rời Sawgamet. Những hòn đá đã không còn giữ hơi nóng khi mặt trời lặn, và tôi biết là lúc phải trở lại trường. Đó là năm cuối của tôi trước khi tôi vào trường dành cho tu sĩ ở Edmonton, là trường mà cha kế của tôi đã học.
Buổi ăn trưa hôm ấy, tôi ngừng lại lấy bánh mì ra ăn khi ngồi trên một tảng đá nhỏ, bàn chân tôi khuấy đong đưa trong một chỗ nước cạn gần bờ sông. Ăn xong, tôi nghiêng người xuống, lấy lên một hòn đá hình bầu dục từ trong nước, và ném nó vào chỗ nước sâu chảy xiết. Viên đá biến mất không để lại chút dấu vết nào, và khi tôi thò tay xuống lấy thêm một hòn đá nữa tôi nhìn thấy nó. Chiếc giày trượt băng.
Ngay cả khi lưỡi giày đã rỉ sét, chỗ da màu đen đã bị mòn nhiều chỗ, rõ ràng đây là chiếc giày trượt băng của trẻ con. Tôi săm soi nó trong tay, nước chảy ròng ròng lên chân tôi. Không có dấu trầy trên lưỡi giày, tôi cầm nó một hồi nhìn vào trong nước.
Tôi tự hỏi không biết bàn tay của bố và em có gặp nhau, không biết băng tan và sự tàn phá của mùa đông, có đưa bố và Marie lại gần với nhau, hay đẩy hai bố con xa nhau. Tôi muốn tin rằng bố tôi đã nắm được tay em tôi, và khi dòng nước chảy xuôi dòng Sawgamet, tay ông, cả hai bàn tay trở nên lành lặn, nắm tay em thật chặt, chống lại sức chảy của nước.
Tôi đặt chiếc giày trở lại vào trong nước và bắt đầu đi về nhà, nghĩ đến bố tôi ngày còn trẻ, từ Havershand đi về, sau khi thả gỗ, đi đến Sawgamet.
– Trích trong tuyển tập truyện ngắn The O. Henry Prize Stories: The Best Stories of the Year 2006 do Laura Furman biên soạn.
.