Trang chính » Biên Khảo, Quan Điểm Email bài này

Cường quốc… tặng thơ

 

 

Nói Việt Nam là “cường quốc thơ” thì e là sẽ có nhiều người nghi hoặc nhưng chỉ cần chêm vào chữ “tặng” thôi thì e con số phản đối chẳng có bao nhiêu bởi bằng chứng cứ là ăm ắp, rành rành. Và như thế, như là công dân của “cường quốc tặng thơ,” chúng ta cũng nên xét lại hành trạng của Kiều Nguyệt Nga để gột rửa những tiếng oan đã đổ lên đầu Lục Vân Tiên.

Hơn một thập niên trước, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – lúc còn là Phó Chủ tịch Hội Nhà văn – đã khẳng định trên tờ Văn hóa & Thể thao rằng Việt Nam là một cường quốc thơ, không của thế giới thì ít ra cũng là của Châu Á, vấn đề là phải tổ chức dịch thuật để thế giới biết thế nào là sức sáng tạo Việt Nam. [1] Nghe qua đã thấy luận cứ này có gì đó mơ hồ về mặt logic bởi nếu chúng ta đã là cường quốc thơ, thế giới đã chen chân xin thơ về dịch để thưởng thức và học hỏi từ lâu rồi chứ? Mà, chưa kể, hơn mười năm đã trôi qua, nhà thơ đã lên chức chủ tịch, vậy mà cái dự án khẳng định vị thế cường quốc thi ca kia vẫn chưa đâu vào đâu khiến giới hoài nghi cứ mang ra chế nhạo, xem nó cũng từa tựa như “cường quốc sắc đẹp” mà những kẻ sống với bề ngoài cạn cợt hay phởn lên theo các cuộc thi hoa hậu huyên náo, màu mè.

Đó là “thơ” nhưng còn cái sự “tặng thơ”? Hãy nghe một nhà báo tả oán, dẫn lời nhà thơ Hữu Thỉnh, tiền nhiệm của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều:

“Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Liên hiệp các hội văn học-nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, chia sẻ: ‘Cả nước tính ra có hàng nghìn câu lạc bộ thơ, nhưng có bài thơ nào hay, có sức sống lâu dài không? Khó vô cùng! Tôi rất chịu khó đọc thơ của các câu lạc bộ nhưng phải thú nhận là không có thơ hay đâu.’

Chia sẻ của nhà thơ Hữu Thỉnh thực ra cũng là nỗi niềm của rất nhiều văn nghệ sĩ trên cả nước. Các nhà văn, nhà thơ vẫn hay nói với nhau: Gặp nhau tay bắt mặt mừng / Tặng gì thì tặng, xin đừng tặng thơ.” [2]

Ông Chủ tịch Hội Nhà văn đã “chịu khó” không đúng với phận sự của mình, nếu không nói là nhiều chuyện, vô duyên. Đã đạt đến một vị trí như thế hẳn ông chủ tịch hẳn phải hiểu rõ sự tách bạch văn học tinh hoa và văn học đại chúng, và đó là dấu hiệu của bất cứ một nền văn học lành mạnh nào. Nếu văn học và nghệ thuật tinh hoa có sứ mệnh dẫn dắt, hướng tới tương lai thì những tác phẩm đại chúng là để giải trí, cho nhu cầu trước mắt. Mỗi tầng bậc văn học có sứ mạng riêng mà, nói theo Lý Thường Kiệt, đã “tuyệt nhiên định phận tại thiên thư” nên, do đó, một nhà thơ ở vị trí như ông Hữu Thỉnh không nên bỉ thử, chê bai các nhà thơ câu lạc bộ thì, đến lượt mình, những nhà thơ hàng câu lạc bộ cũng không nên làm phiền, trách cứ cái sự hẩm hiu, không được ai để mắt của mình.

Một nhà thơ đã đạt đến vị trí như thế hẳn phải biết là, để đánh giá thành tựu nghệ thuật của giai đoạn văn học, giới phê bình đương thời hay hậu thế bao giờ cũng chỉ nhắm vào những đỉnh cao của thời kỳ đó. Bây giờ chúng ta có các “câu lạc bộ thơ” thì các thế hệ trước có các “tao đàn,” “thi xã” rồi “thi văn đoàn” và khi đánh giá những giai đoạn văn học đã qua, đã có ai mất thì giờ mổ xẻ thành công hay thất bại của các hội nhóm văn chương như thế? Nói về thành tựu của nền thơ ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạn 1975-1974 người ta chỉ nói đến những nhà thơ hàng đầu như Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Nguyên Sa, v.v., chẳng ai nhắc đến tác phẩm của những nhà thơ hàng huyện và hàng tỉnh trong muôn vàn các “nội san” hay “đặc san” tỉnh lẻ, chưa cần nói đến các sản phẩm hàng xã, hàng phường.

Trong một khía cạnh khác, những nhà thơ đại trà như thế lại xuất hiện trong trầm tư của Pierre Kirillovich Bezukhov, một nhân vật đáng mến trong Chiến tranh và hòa bình của L. Tolstoy. Pierre quan niệm rằng, trong đời sống, bất cứ ai trong chúng ta cũng đối mặt với sự bất an nào đó; và nếu những người lính đứng trong chiến hào đợi giờ xông lên lao vào cái chết thường tìm cái gì đó để làm hay để suy nghĩ nhằm quên đi cái không khí bất an đang trùm lấp thì, trong đời sống, từng cá nhân cũng tìm việc gì đó để làm: người thì uống rượu, người thì đánh bài, người thì chơi bời, kẻ thì làm thơ, v.v.

Như thế thì giới cần quan tâm đến “hàng nghìn câu lạc bộ thơ” hơn phải là ai đó với những vai trò xã hội khác hơn chứ không phải là ông Chủ tịch Hội Nhà văn. Như những cán bộ tuyên huấn, chẳng hạn: dân chúng mà thi nhau làm thơ – thơ gì cũng được, từ vịnh cái bông hoa đến vịnh chiếc xe Lexus, miễn là đừng xoáy vào những điều nhạy cảm của xã hội – thì việc quản lý và định hướng cái đầu người dân nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Hay như những nhà xã hội học và hình phạm học, chẳng hạn: “nhàn cư vi bất thiện,” nên khi các câu lạc bộ thơ rộ nở như thế, con người càng bận bịu với chữ và vần điệu hơn, càng ít sa đà vào chỗ cờ bạc, gái trai, hút xách hơn. Nghĩa là xã hội sẽ yên hơn.

Xã hội sẽ yên hơn nhưng lại nảy sinh một thứ phiền toái khác, do cung vượt cầu. Thơ, làm ra, phải được công nhận nên, do đó, phải tặng. Người ta tặng thơ là để khẳng định và để vươn lên trong tư cách của một nhà thơ. Hàng xã thì muốn vươn tới địa vị của thơ hàng huyện, hàng huyện thì lăm le vươn lên hàng tỉnh, hàng tỉnh thì mót máy tầm cỡ quốc gia. Thế là họ tặng. Tặng và tặng, tặng đến mức bội thực khiến người được tặng phải ngán ngẩm, thành vè: “Tặng gì thì tặng, xin đừng tặng thơ.”.

Tôi cũng từng bị tặng như thế, có lúc đều đều hàng tuần và, thậm chí có giai đoạn hàng ngày trên email với hậu ý nhận xét điều gì đó, viết cái gì đó để giới thiệu, trình làng. Thường, những người tặng thơ như thế hằng nuôi ảo tưởng rằng họ cũng là một Xuân Diệu, Nguyễn Bính hay Nguyên Sa bởi thơ mình có khác nào thơ của những người đi trước. Cũng hoa lá, cây cành. Cũng gió heo may lá vàng rơi lả tả. Cũng bến đợi và đò đi, cũng mây trắng bay bay phủ kín trời thương nhớ. Cũng tà áo trắng cổng trường, cũng nắng lụa vàng, cũng thân trai tình lỡ làng lận đận góc trời viễn xứ, v.v. Vậy mà sao thơ họ hẩm hiu quá, chẳng mấy ai để mắt, ngó ngàng.

Nhưng nếu muốn được NHƯ Xuân Diệu, Nguyễn Bính hay Nguyên Sa thì, đầu tiên, họ phải KHÁC với Xuân Diệu, Nguyễn Bính hay Nguyên Sa; tức phải loại trừ những hình tượng mà người trước đã khai thác đến mức tuyệt đỉnh, tận cùng. Khi viết nên những bài thơ giông giống như thế, họ đâu hề sáng tác mà chỉ đơn thuần để giọng thơ của những Xuân Diệu, Nguyễn Bính hay Nguyên Sa từng ngấm vào bộ máy cảm thụ của của mình tuôn ra như một thứ phản xạ, một công thức. Để là một Xuân Diệu hay Nguyễn Bính của hôm nay thì thơ của họ phải khác lạ so với thời của mình, như chính Xuân Diệu hay Nguyễn Bính từng khác thế trong cái thời của họ qua việc làm mới ngôn ngữ và làm mới cả hiện thực.

Trước Nguyễn Bính đã có ai từng viết nên một câu lục bát đầy chất điện ảnh như “Anh đi đấy, anh về đâu? / Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm” ( “Cánh buồm nâu”). Cái cảnh ra đi, người con gái nhìn theo cánh buồm màu nâu xa dần, nhỏ dần để cuối cùng không còn nhận ra cái sắc màu quen thuộc nữa trước khi nó tan loãng trong cái mênh mông của biển cả. Câu thơ mà như khung cảnh trên màn bạc Hollywood lúc chung cuộc khi nhân vật chính, trên con thuyền hay trên lưng ngựa xa dần, nhỏ dần, rồi mất hút trên đại dương, trên hoang mạc mênh mông hay trong núi rừng thăm thẳm. Trước Xuân Diệu, đã có ai đưa con người vươn lên vị thế ngang hàng với đất trời qua hình ảnh “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” hay “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!” (“Vội vàng”)? Và trước Nguyên Sa, đã có ai nhìn ra những khía cạnh thẩm mỹ trong con chó ốm và con cá ươn đến độ mang đắp vào da thịt người yêu: “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm / Như con mèo ngái ngủ trên tay anh / Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình / Để anh trách sao chả là nước biển”?

Ngày nay chúng ta xem những vần thơ lãng mạn của Xuân Diệu như là tinh hoa của tiếng Việt nhưng hãy nhớ rằng, khi mới vừa xuất hiện, những vần thơ ấy đã tạo nên những làn sóng chỉ trích, xem đó là một thứ ngôn ngữ lai căng, thứ thơ gì mà “ngô nghê” như là dịch Pháp văn: “Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm.” Như thế, chính sự táo bạo, sự dám thách thức đám đông bảo thủ để “lai căng” qua việc nhập cảng những tinh hoa của ngôn ngữ khác của những nhà thơ như thế đã làm tiếng Việt giàu thêm. Nguyễn Du đã làm tiếng Việt hay hơn với Truyện Kiều ăm ắp điển cố Trung Hoa. Những nhà Thơ Mới, những cây bút Tự Lực Văn Đoàn đã làm giàu tiếng Việt khi thách thức cái số đông đương thời của mình với những ý tưởng mới, những kỹ thuật viết mới.

Tài hoa là một, những nhà thơ nhà văn như thế có thể để lại tên tuổi của mình bất kể sự khắc nghiệt của thời gian khi làm giàu có thêm tiếng mẹ qua việc táo bạo làm mới ngôn ngữ và làm thay đổi mối quan hệ giữa con người với với hiện thực hay, nói cách khác, đã tái tạo hiện thực và, qua đó, giúp chúng ta nhìn cái thế giới quen thuộc của mình khác đi, đẹp hơn, lấp lánh hơn, và ý nghĩa hơn. Nghĩa là, nếu muốn được như Xuân Diệu, Nguyễn Bình hay Nguyên Sa trong tư cách là nhà thơ, thì phải học hỏi sự táo bạo, sự sáng tạo và đi trước chứ không phải là sao chép đến nhão nhoẹt những kỹ thuật hay hình tượng mà họ đã khai thác, sử dụng.

Như đã nói ở trên, để cổ xúy sự phát triển của văn học thì những tác giả đứng ở vị trí như Hữu Thỉnh chỉ có thể cổ xúy những nỗ lực khai phá trong ý hướng nói trên chứ không nên bỉ thử, chê bai các nhà thơ hàng câu lạc bộ bởi đó không phải là việc của ông. Nhưng, ở một mặt khác thì, đến lượt mình, những nhà thơ hàng câu lạc bộ cũng không nên làm phiền, trách cứ cái sự hẩm hiu, không được ai để mắt của mình.

Trong khía cạnh này, chúng ta có thể xem lại thái độ của nhà văn Úc Morris West (1916- 1999), người mà, trước năm 1975, người đọc ở miền Nam đã làm quen qua hai bản dịch Trong và ngoài tình yêu từ nguyên tác The Devil’s AdvocateÔng Đại sứ, từ The Ambassador. Đây là nhà văn có tác phẩm bán chạy hàng đầu của nước Úc với 30 tiểu thuyết, ba vở kịch, trong đó nhiều tác phẩm đã được dịch sang 27 thứ tiếng và dựng thành phim, thành kịch. Thí dụ như cuốn The Devil’s Advocate nói trên, là tác phẩm best-seller đầu tiên, xuất bản vào năm 1959; khai thác những câu chuyện bên trong Vatican qua vụ điều tra một hồ sơ thánh tử đạo đã mang lại cho tác giả hàng triệu đô la, và riêng tác quyền để dựng thành phim, vào thời đó, đã lên đến 250.000 đô la. Morris West viết đúng bóc những điều mà độc giả chờ đợi mà lại viết rất nhanh, nhanh đến độ chỉ hơn một năm sau cái chết của ông Ngô Đình Diệm, đã cho ra mắt tiểu thuyết The Ambassador về bàn tay của viên đại sứ Mỹ trong chính biến này.

Thành công như thế nhưng Morris West ý thức rất rõ về mình như là một “story-teller,” một người kể chuyện thuần túy, dẫu đôi khi cũng pha vào những câu chuyện của mình chút đỉnh triết lý “sương sương,” Morris West tự xem tác phẩm của mình là những sản phẩm giải trí bởi ông không góp phần đổi mới văn học, không đưa ra một kỹ thuật viết mới nào, càng không đưa ra một quan niệm nào mới về mỹ học: vì nhận thức rất rõ về mình như thế nên khi được một nhà báo tán tụng như là một “tài sản quốc gia,” Morris West đã gạt ngang: “Bull-shit.” [3]

Morris West, trong khía cạnh này, khác xa với rất nhiều công dân “cường quốc tặng thơ” của chúng ta, những người làm thơ chỉ để giải trí hay thù tạc với chút xíu triết lý sương sương nhưng lại không ngớt ấm ức với thân phận hẩm hiu của mình bởi không ai chú ý, không ai ghi nhận để từ đó sinh ra sân si hay oán hận với giới phê bình, xem đó như là một bè lũ “văn phiệt” đã kỳ thị và trấn áp mình trong tư cách một nhà thơ hay một nhà văn.

Không được ai chú ý thì tự gây nên sự chú ý và đó, có lẽ, là lý do chính khiến đất nước chúng ta trở thành một “cường quốc tặng thơ.” “Tặng gì thì tặng, xin đừng tặng thơ,” khi mà sự tặng thơ trở thành trò phiền toái, phiền đến độ phải bật thành vè, chúng ta cần phải thấu hiểu và giải oan cho Lục Vân Tiên, người mà, suốt bao nhiêu năm qua, đã bị chê là thiếu lịch lãm, quê mùa.

Trên đường về kinh dự thi Lục Vân Tiên đã ra tay cứu giúp Kiều Nguyệt Nga đang sa vào tay đạo tặc và, chính từ cái cảnh chạm mặt người đẹp này Lục Vân Tiên đã bị chúng ta cười cợt, chê bai. Nhưng hãy tưởng tượng chúng ta trong cảnh gấp gáp ấy trong khung cảnh hiện đại, trên đường đi thi hay đi phỏng vấn xin việc hay, “sang trọng” hơn, là trên đường gặp đối tác kinh doanh để ký hợp đồng, mà gặp một biến cố tương tự? Nguyệt Nga rút cây trâm cài đầu trao Vân Tiên đền ơn khiến anh ta bị chúng ta cười qua phản ứng “ngơ mặt chẳng nhìn.” Nhưng nếu những Nguyệt Nga không cài trâm hiện đại bày tỏ sự cám ơn tương tự với cái vòng vàng tên tay, dây chuyền vàng trên cổ hay những xấp đô la trong xách tay, liệu chúng ta sẽ phản ứng như thế nào? Vân Tiên “ngơ mặt chẳng nhìn” thì Nguyệt Nga chuyển sang món quà tinh thần:

“Đưa trâm chàng đã làm ngơ,
Thiếp xin đưa một bài thơ giã từ.”
Vân Tiên ngó lại rằng ừ:
“Làm thơ cho kịp bấy chứ chớ lâu”

Chúng ta cười Vân Tiên qua lối ứng xử cù lần nhưng liệu, trong cái cảnh tưởng tượng nói trên, đang nôn nóng vì công việc mà còn bị kỳ nèo nán lại để làm thơ tặng, chúng ta sẽ phản ứng như thế nào? Liệu chúng ta có hối thúc, bảo rằng xin lỗi tôi đang vội, có làm thơ thì làm sao cho gọn, cho nhanh; hay phải bảo rằng lúc này chưa nhận thơ được, hãy chờ lần khác nếu có duyên?

Ứng xử như thế nào là chọn lựa riêng của từng cá nhân nhưng, dẫu sử dụng ngôn ngữ lịch sự và nhã nhặn bao nhiêu đi nữa theo cách trên, chúng ta cũng khá hơn gì Vân Tiên. Giữa chúng ta và Tiên là cả một khoảng cách thời gian dài với những bước tiến lớn lao trong giao tế xã hội và bất cứ lời lẽ nhã nhặn nào để thúc giục hay chối từ cũng không khiến chúng ta khá hơn chàng trai quê mùa ấy.

Nhưng nếu Vân Tiên không đáng trách thì cả chúng ta, chúng ta cũng không đáng trách. Có trách chăng, là trách Nguyệt Nga xưa trong trang truyện thơ của Đồ Chiểu và những Nguyệt Nga hiện đại, nam hay nữ, những kẻ lúc nào cũng có thể tặng thơ, kể cả tặng không phải nơi và không phải lúc!

 

 

Tham khảo:

1. https://thethaovanhoa.vn/nguyen-quang-thieu-vn-la-mot-cuong-quoc-ve-tho- 20120201084338836.htm

2. https://ct.qdnd.vn/van-hoa-xa-hoi/xin-dung-tang-tho-523201

https://www.sggp.org.vn/tang-gi-thi-tang-xin-dung-tang-tho-post502461.html

3. Hoàng Ngọc-Tuấn, “Moris West và những bí quyết của một nhà văn best-seller,” in trong Văn học hậu hiện đại qua thực tiễn sáng tác và góc nhìn lý thuyết, Văn Nghệ, California, 2002, trang 157-170.

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)