
Eric Hoffer (1902-1983)
LỜI GIỚI THIỆU
Có những thời điểm khi một cuốn sách xuất hiện, phân tích một trào lưu hay biến cố lịch sử với tầm nhìn thật chắc chắn và bao quát đến mức nó trở thành một tác phẩm kinh điển. Dĩ nhiên, kinh điển, bên cạnh những yếu tố khác, là loại tác phẩm phải giữ được phần nào sự mới mẻ ban đầu của nó với mỗi lần đọc lại, và phải tiếp tục có một ý nghĩa soi sáng liên quan mật thiết đến đề tài mà nó đá động đến. Kẻ sùng tín của Eric Hoffer là một nghiên cứu kinh điển về một hiện tượng tái diễn trong lịch sử loài người. Tác động và nét đương đại của nó không bị mất đi chút nào qua năm tháng. Có thể tiên đoán khá chắc rằng cuốn sách này sẽ được các thế hệ tương lai đọc để có thể hiểu rõ hơn, không những quá khứ của họ mà cả hiện tại của họ nữa.
Tuy chỉ có một khổ sách thật khiêm nhường, nó tập trung hiểu biết của một đời người đọc sách và suy tư về tính cách quá khích của các phong trào quần chúng trong lịch sử. Đấy là những phong trào mà, đầu tiên chỉ từ từ nhưng sau đó càng lúc càng tăng đà tiến, đã nuốt vào trong đợt sóng sôi động của nó những thiết chế của một xã hội. Chúng làm phân rã rồi tái hợp những tập tục đã củng cố vững chắc lại thành ra các định chế điều lệ. Chúng tạo ra những cơn khủng hoảng, những thời kỳ nguy cấp, cũng như những cơ hội, tất cả cùng nhau định nghĩa ra mỗi “thời kỳ rắc rối” của một xã hội.
Theo Hoffer, “phong trào quần chúng” – dù là tôn giáo, chính trị hay dân tộc – không phải là những ý niệm trừu tượng. Chúng kết tinh lại chung quanh các cá nhân lãnh tụ, người vừa đáp ứng cho các nhu cầu vừa truyền cảm hứng cho các hy vọng của con người. Khi các điều kiện xã hội đã chín mùi, những người này lôi kéo người khác, lôi kéo những người bổ khuyết cho họ về bên mình nhờ vào những khuynh hướng ý tưởng mà cả hai bên cùng ôm ấp, mặc dù với mức độ khác nhau. Chính trạng thái tinh thần này làm cho Hoffer quan tâm chủ yếu, và ông mổ xẻ nó không chùn tay hệt như một khoa học gia trước một mẫu vật sinh học. Đó là trạng thái tinh thần của “kẻ sùng tín”, kẻ được tuyển chọn, được nhập môn, được giác ngộ, là lực lượng tiền phong thực hiện công việc của Chúa, của Lịch sử hay của những Thế lực Chính nghĩa. Đó là trạng thái của người sẵn sàng tự hy sinh bản thân, nếu cần phải chết, vì lý tưởng nào cũng thế. Dù không tranh cãi gì về chuyện các lý tưởng đã từng thúc đẩy mỗi cái đều khác nhau, Hoffer tin và tìm cách thuyết phục độc giả rằng, mặc dù có khác biệt đấy, ở tận trong cùng, những người quá khích là anh em với nhau, họ cùng có một vai trò giống hệt trong mô hình tâm lý của hệ thống tín điều trong các phong trào quần chúng, và những vai trò này hoàn toàn có thể thay thế lẫn nhau.
Kết luận của những phân tích như một loại thuốc bổ ích dù đắng gắt của Hoffer chính là nhận định rằng sự khác biệt chính yếu giữa con người với nhau không nằm ở hình thức lý luận của tín điều, mà là cách họ giữ những tín điều ấy. Vực thẳm sâu nhất chia cách con người không phải là ý tưởng của họ về sự cứu rỗi, mà là mức độ trung dung, tỉnh táo của họ. Có người ôm chặt lấy những niềm tin của mình với sự xác tín cứng nhắc của những hạng người chuyên chế muốn bắt ép thực tại phải làm nhân chứng cho chân lý của họ. Người khác thực thi những niềm tin của mình với tinh thần thể nghiệm, theo kiểu chừng mực, thực chứng, tìm bằng chứng từ thực tại để chứng minh chân lý của mình. Có lẽ một cách nói khác về việc này là con người được chia ra làm hai loại: loại tìm kiếm sự cứu rỗi, trực tiếp hay qua ủy nhiệm, và loại hoặc cảm thấy không cần đến cứu rỗi gì cả, hoặc diễn giải nó như cuộc tìm kiếm không ngừng cách giải quyết từng vấn đề cụ thể. Kẻ sùng tín là kẻ tin vào những giải pháp toàn thể, mất kiên nhẫn với những kẻ thử nghiệm, mà họ lên án là loại xén tỉa vặt vãnh, cơ hội chủ nghĩa hay yếu tinh thần, sợ hãi cái giá của sự thay đổi xã hội từ gốc rễ.
Những quan sát và phân tích của Hoffer dóng lên một hồi chuông bi quan đặc biệt, hay thậm chí bi thảm. Theo ông, đa số nhân loại phải được coi như có khả năng trở thành những kẻ sùng tín. Nói như thế không phải theo cái nghĩa ngây thơ là trong mỗi con người chúng ta đều có chút bóng dáng của kẻ sùng tín, được kiểm soát bằng cách suy nghĩ hợp lý thông thường và sự hướng dẫn của kinh nghiệm. Hoffer tin rằng ngọn lửa của niềm tin quá khích âm ỉ trong phần đông con người, nhưng sẽ bùng cháy khi trải qua tình trạng phẫn chí thường xuyên. Trong thế giới chúng ta ngày nay, sự phẫn chí là một số phận không vượt thoát mà cũng không chịu đựng được của nhiều người; họ chỉ phá ra khỏi số phận này được khi đã tự đánh mất mình trong những lý tưởng, mục tiêu và phong trào to tát hơn bản thân mình. “Đó là vì đại đa số không thể chịu đựng nổi sự trống vắng và vô nghĩa của đời mình nếu không tham gia cuồng nhiệt hay đeo đuổi mạnh mẽ một cái gì để họ có thể tự đánh mất mình trong ấy”. Có thể đoán rằng những giá trị của cái mà Santayana gọi là xã hội lý tưởng – nghệ thuật, khoa học, triết học và tôn giáo – nằm ngoài khả năng của đa số, và những giá trị của tình bạn, gia đình và nghề nghiệp không đủ để nâng đỡ họ. Vì vậy, họ muốn tìm một niềm tin đích thực bao phủ lên tất cả, với những hạt giống luận thuyết từ đó rồi sẽ gặt hái được thái độ bất khoan dung và tính quá khích.
Tiến trình này bi thảm vì hai lý do. Thứ nhất, những đầu óc thật sự tự do và không ảo tưởng muốn vung thanh gươm lý trí chống lại những huyền thoại và giáo điều đang ngự trị thật ra “không đụng được tới gốc rễ của sự quá khích” khi họ chọc thủng hết thành kiến này tới thành kiến khác. “Bởi vì, khi bài xích những niềm tin và sự trung thành đang thịnh hành, những người chiến đấu bằng ngôn từ vô tình tạo ra trong quần chúng bị mất ảo tưởng một nỗi khao khát tín ngưỡng”. Nói cách khác, sự phê phán và chất vấn sẽ tự đánh bại chính mình. Chúng xói mòn đi cái xã hội mà sự tồn tại của nó chính là điều kiện cho chúng hoạt động.
Thứ đến, những phong trào quần chúng quá khích, tuy xung đột với tinh thần suy tư phê phán, lại là phương tiện cần thiết để kích thích dậy và cải tạo những xã hội trì trệ. Trên đời này chẳng có gì, như Hegel, người tán dương vĩ đại của lý trí, nhận xét, có thể thực hiện được nếu không có đam mê. Bởi vì con người là một sinh vật tìm kiếm lý do, nó phải tìm ra một thứ ý thức hệ nào đó mà lý trí hoá niềm tin của mình. Nhưng dòng suối của hành động chảy ra từ những mạch nguồn tăm tối của tín điều được nuôi dưỡng bởi đam mê, nên nói đến cùng, ý Hoffer là cả lý trí lẫn trí tuệ đều không làm được, mà chỉ có một niềm tin quá khích mới ngăn chặn, đẩy bật đi hay thay thế được cho niềm tin quá khích khác.
Quan điểm này, tuy tương đối thích đáng khi áp dụng cho những xã hội mở hiện nay, cũng không quá cách biệt với quan niệm của những người, trong lúc nền dân chủ vẫn còn xa vời, tuyên bố rằng nếu con người không tôn thờ thượng đế, họ sẽ thờ Hitler hay Stalin. Ngay giữa những xã hội dân chủ, Hoffer cũng tìm thấy một cách biện minh thực tế trong vài trường hợp nhất định cho sự quá khích mà ông lên án. Khi không gì khác hơn là sự tồn tại của xã hội đang bị đe doạ, khi những thiết chế tự do đang trong tình thế bấp bênh, “quốc gia dân chủ phải tự chuyển hoá thành một thứ gì tương tự một giáo hội cực đoan, hay một đảng cách mạng”. Nếu nói như vậy, Hoffer sẽ phải tìm cách điều chỉnh lại nhận định khái quát hoá ban đầu của ông rằng điểm chung giữa mọi đường hướng quá khích quan trọng nhiều hơn là những khác biệt giữa chúng với nhau, rằng lý thuyết và ý tưởng luôn luôn nằm ở vị trí thứ yếu so với sự đam mê và niềm tin xử dụng chúng. Hoffer phải đối diện với thế khó xử sau: hoặc ông phải nhìn nhận rằng sự đối kháng dân chủ chống lại cuộc công kích quá khích của chủ nghĩa toàn trị tự nó cũng phải mang vào một tính cách quá khích, tính cách rồi sẽ chuyển hoá nó thành một thứ chủ nghĩa toàn trị khác, hay ông phải nhìn nhận rằng chính bản tính tin tưởng vào dân chủ phải có ảnh hưởng đến bản chất của niềm đam mê đối với tự do từ cốt lõi của nó. Nếu ông phải chọn vế thứ hai của nan đề như tôi đoán chắc, đó sẽ là một sai lầm khi đồng hoá niềm đam mê đối với tự do và niềm đam mê đối với sự cứu rỗi, hay đối với mong muốn được giải phóng, nói như Dostoevsky, “khỏi cái gánh nặng khủng khiếp của tự do chọn lựa”. Ta có thể gọi tất cả là đam mê, nhưng sự đam mê của một người tin tưởng vào tự do khác biệt về bản chất với sự đam mê của người chạy trốn nó; người đầu đặt mình vào trước ý thức trách nhiệm, và theo đó, vào một đời sống có suy nghĩ. Trách nhiệm đòi hỏi phải tiên liệu các hậu quả, và phản ứng từ hiện tại đối với tương lai nhìn thấy trước, trong khi suy nghĩ lý trí vừa là cội nguồn năng lực, vừa là kẻ xét đoán những giới hạn cho nó.
Ở nhiều đoạn, Hoffer vô tình tạo ấn tượng là chỉ có kẻ sùng tín, kẻ quá khích, mới sẵn sàng chịu từ bỏ sinh mạng vì lý tưởng, chịu đứng vững trước những ngược đãi, chịu đi hết cuộc đời với tiếng nói “Không” vĩnh viễn trên môi. Cá nhân nào không có khả năng “sùng tín”, có tính cách hoài nghi, khoan dung, gắn bó với những thứ “đáng phải vì chúng mà tranh đấu” trong đời thường, được miêu tả như một kẻ “không có ý định tranh đấu”, và vì thế, không thấy lý do gì phải chịu chết hay chịu nguy cơ khi chống lại những kẻ quá khích đang có sức mạnh. Hậu quả là kẻ sùng tín, mặc dù có những điểm không đáng ưa, có vẻ như độc quyền nắm giữ tính cách cao quý, dũng cảm và kiên định. Ngược lại, kẻ ôn hoà, không được nung nấu lên nhờ một niềm tin cao cả vô cùng, nhìn giống như một thứ hương nguyện, hãi sợ thống khổ và chết chóc đến mức quỵ lụy trước đe doạ, luôn sẵn lòng thoả hiệp với cái ác và xét đoán những nạn nhân của quyền lực độc đoán, từ những sự quá đáng do họ gây ra, cũng khắt khe như xét đoán những tên độc tài và bọn đao phủ của chúng.
Không thể chối cãi rằng Hoffer có cơ sở nào đó cho cái nhìn này. Gần đây, với sự xuất hiện của vũ khí nguyên tử, môn phái “sinh tồn bằng mọi giá” đã khoác lên một cái vẻ thánh chiến, với thứ luận lý kêu gọi thà đầu hàng Chủ nghĩa Cộng sản và những điều ác của nó, còn hơn là phải chấp nhận những nguy cơ khi đối đầu với bước tiến công của người Cộng sản. Nhưng ở đây cũng vậy, cần phải chỉnh sửa một chút để trình bày một sự quân bình thích đáng – sự chỉnh sửa mà tôi dám chắc chính Hoffer cũng tán đồng. Chẳng phải chính ông đã nói với chúng ta, dẫn lời Bagehot, rằng “để minh hoạ cho một nguyên tắc, ta phải phóng đại nhiều điểm, và bỏ lướt qua nhiều điểm?” Những chỗ phóng đại và bỏ lướt qua của Hoffer có thể làm người ta tưởng rằng những ai không thuộc loại “kẻ sùng tín” nhiều khả năng sẽ trở thành kẻ đồng phạm miễn cưỡng hoặc nạn nhân đáng thương của những Hitler và Stalin khác nhau trên đời này.
Sự thật đúng là thù hận, lòng kiêu hãnh và ý thức mình thuộc vào những người được chọn lựa đã củng cố sự phản kháng của những nạn nhân bạo lực cả trong thế kỷ này lẫn quá khứ. Tuy nhiên, không phải chỉ có những kẻ quá khích mới chịu đựng nổi sự đày đoạ từ tay những kẻ quá khích khác. Câu hỏi quyết định ở đây không phải là ai sinh tồn được, nhưng là ai đã giữ gìn được toàn bộ phẩm cách của mình. Lịch sử đã cho thấy bao trường hợp minh hoạ những tinh thần cấp tiến và nhân bản đã trung thành với giá trị của mình trước mặt bạo lực quá khích khi nó tiêu diệt họ. Người tự do đã từng đối diện cái chết thay vì phản bội những giá trị đem lại ý nghĩa cho sinh mạng họ. Kẻ quá khích chết vì lý tưởng sẽ sẵn lòng hy sinh cả mình lẫn người khác vì chân lý của anh ta. Sinh mạng người khác đối với anh ta chẳng có giá trị gì hơn của chính anh ta cả. Vì sẵn lòng hy sinh cái cao nhất của mình, anh ta coi những kẻ mà mình giết hại để cứu rỗi cho họ là thấp kém khi họ phản đối hay chống cự lại anh ta.
Con người tự do, ngược lại, không bao giờ quá tin chắc vào chân lý của mình đến mức sẵn sàng hy sinh người khác vì nó. Tự mình, anh ta có thể tự do chọn lựa cái chết thay vì chấp nhận sống với những cái ác nhất định nào đó. Nhưng đây là một lựa chọn anh ta để cho người khác tự làm, trừ trong những trường hợp khi bất kể anh ta hành động thế nào, cũng sẽ có người bị liên lụy vì hậu quả của việc đó. Không có gì trên đời này một kẻ quá khích không dám làm để đạt được mục đích: cứu cánh biện minh cho bất cứ phương tiện nào. Có những thứ trên đời này mà những người không quá khích sẽ từ chối không làm để bảo vệ lý tưởng của mình, kể cả khi phải đổi bằng tính mạng. Khi nào họ còn chưa thay đổi con người mình và khoác lên bộ áo của kẻ đối thủ quá khích, họ vẫn là bất bại trong chiến bại.
Những ai, trước sự đe doạ của chủ nghĩa toàn trị ngày nay, cho rằng sinh tồn bằng bất cứ giá nào là tất cả lý lẽ và mục đích của hiện hữu trên thực tế đã đầu hàng cho những kẻ quá khích không sợ chết. Như một thứ luân lý, quan niệm này thật đáng khinh; như một chiến lược, nó không khôn ngoan chút nào. Nó đáng khinh về luân lý vì những người cổ vũ nó sẽ chịu nuốt trôi bất cứ điều ô nhục nào để sống cuộc đời không xứng đáng với một con người. Nó không khôn ngoan là vì điều duy nhất có thể kiềm chế những kẻ quá khích là nỗi sợ thất bại. Ngay Hitler có lẽ cũng đã duy trì tình trạng hoà bình nếu ông ta đã biết hoặc đã sợ rằng gây chiến đồng nghĩa với sự hủy diệt lý tưởng của ông. Khi những kẻ quá khích không phải sợ thất bại, nhiều khả năng xảy ra nhất là việc giữa cơn điên cuồng, họ sẽ tự hủy diệt mình trong cuộc chiến quá khích với những kẻ quá khích khác. Trong trường hợp đó, những kẻ đã hy sinh phẩm cách của mình để được sống cũng sẽ mất mạng luôn.
Điểm cơ bản của phần phân tích này, mà tôi tin là không đến nỗi thiếu nhất quán với quan điểm chính của Hoffer, là phẩm cách luân lý không phải một độc quyền trong tay những kẻ sùng tín. Những ai yêu cuộc sống phải sẵn sàng liều sinh mạng vì những giá trị làm cho cuộc sống đáng sống và đáng yêu. Những ai muốn hoà bình trong tự do thay vì thứ hoà bình của nô lệ phải luôn sẵn sàng chống trả sự gây chiến bằng giá tính mạng của mình. Ngược lại, sẽ không còn gì thay thế cho các chủ nghĩa chuyên chế của những kẻ sùng tín đấu đá với nhau cho đến khi sự tiêu vong trùm phủ lên toàn nhân loại.
SYDNEY HOOK