Trang chính » Nguyễn Mộng Giác, Thư Tòa Soạn, Tòa Soạn Email bài này

Đôi lời

Tuần lễ 3/23/09-3/28/09: Chuyên đề Văn học Nguyễn Mộng Giác

chân dung Nguyễn Mộng Giác - nhiếp ảnh Đặng Thơ Thơ

Nguyễn Mộng Giác không còn là một tên tuổi xa lạ với độc giả trong cũng như ngoài nước.

Nguyễn Mộng Giác bắt đầu xuất hiện trên văn đàn miền Nam khá muộn màng so những nhà văn nhà thơ cùng thế hệ, vào lúc đã ngoài 30 tuổi, và vào thời kỳ cuối của chế độ VNCH. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, ông đã khẳng định được tư cách nhà văn của mình bằng một sự đam mê viết lách hiếm có. Trong vòng có bốn năm, ông cho ra đời một tập tiểu luận, một tập truyện ngắn và ba cuốn truyện dài, trong số đó, truyện dài  Đường một chiều đoạt giải thưởng của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam năm 1974.

Sau tháng 4/1975, giữa một hoàn cảnh sống bấp bênh và tuyệt vọng dưới sự cai trị độc đoán của nhà cầm quyền Cộng Sản, Nguyễn Mộng Giác vẫn tiếp tục cầm bút viết mặc dù biết là những gì mình viết ra sẽ không bao giờ được xuất bản. Đến khi vượt biên ra nước ngoài, vừa đến được bến bờ tự do, đợi chờ ngày đi định cư, ông bắt tay ngay vào việc viết. Sang định cư tại Hoa Kỳ, ông lại tiếp tục viết. Sống và viết, đồng thời trông coi một tờ báo thuần túy văn học suốt trong một thời gian dài.

(Hình bìa: Chân dung nhà văn Nguyễn Mộng Giác, chụp bởi Đặng Thơ Thơ)

Nhà phê bình văn học Đặng Tiến nhận xét:

« Nguyễn Mộng Giác có một sức viết, một ý chí lao động nghệ thuật đặc biệt: trong tám năm tha hương, phải làm nhiều nghề vất vả để sinh nhai, ông đã xuất bản năm truyện dài, hai tập truyện ngắn và viết nhiều bài nghiên cứu văn học giá trị. Từ 1985, ông chủ trương tạp chí  Văn học nghệ thuật, từ 1986 đổi tên là Văn học, hiện nay là tờ báo văn nghệ Việt Nam thuộc loại đứng đắn và hay nhất, so với nhiều tạp chí khác cả trong lẫn ngoài nước. Khi viết xong – nghĩa là rảnh nợ Mùa biển động – Nguyễn Mộng Giác có tâm sự: «Từ bảy năm nay, tôi vừa viết vừa lo đánh máy, vừa tự bỏ tiền in mấy bộ truyện dài này, trong khi vẫn phải dành thì giờ cho việc kiếm sống… Xin bạn đọc hiểu cho rằng đây là tim óc tôi, là mồ hôi của tôi, là máu của tôi». Một gương cần mẫn, một tình yêu văn nghệ, một cống hiến cho  tiếng nói dân tộc, ở mức ấy, ở một người Việt lưu vong, đáng cho nhiều người suy nghĩ. (Xem Đặng Tiến: Mùa biển động)

Nhà phê bình văn học Thụy Khuê quả quyết: “Ông là một trong những cột trụ đã xây dựng nên nền văn học Việt Nam hải ngoại.” (Xem Thụy Khuê: Mùa biển động của Nguyễn Mộng Giác).

Dù có đồng ý hay không đồng ý với những nhận xét của Đặng Tiến và Thụy Khuê, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, qua những gì làm được, Nguyễn Mộng Giác cùng với nhiều văn nghệ sĩ lưu vong khác đã góp công góp sức xây dựng nên nền văn học hải ngoại, một thành phần không thể tách rời của văn học Việt Nam.

Mai Quốc Liên, người đã đưa bộ trường thiên Sông Côn mùa lũ đến với độc giả trong nước, cho biết: “Thế là tôi lôi bộ Sông Côn ra đọc, và càng đọc tôi càng bị cuốn hút, cứ ngỡ như gặp lại một cái gì vừa quen vừa lạ, thú vị vô cùng. Tôi là người để tâm tìm hiểu nhiều về thời Quang Trung, về sử sự Tây Sơn, tôi đã dịch nhiều thơ văn Ngô Thì Nhậm. Nhưng thực ra sử sự rất ít. Rất cần có một cuốn Lịch sử Tây Sơn – Quang Trung cho ra trò, một cuốn như thế phải là một công trình sưu tầm, nghiên cứu công phu… từ “điền dã” đến sử liệu và một ngọn bút sâu sắc, thông minh. Hình như ta chưa có một cuốn sách như thế. Còn về tiểu thuyết, kịch bản… thì chưa có cái nào thật xứng tầm với thời đại đó, nó mới là một cái gì nhất thời, làm vội, ngẫu nhiên. Sông Côn mùa lũ là một nỗ lực tổng hợp với một quan niệm mới cả về tiểu thuyết và cả về lịch sử.  (Xem Mai Quốc Liên: “Sông Côn mùa lũ, trường thiên tiểu thuyết của nhà văn Việt kiều Nguyễn Mộng Giác”)

Một lời tâm sự chân thành! Đáng tiếc là trước sau, chỉ có Sông Côn mùa lũ. Và độc giả trong nước chỉ biết Nguyễn Mộng Giác với  Sông Côn mùa lũ. Do chính sách chuyên chế và bưng bít, nhà nước Cộng Sản chỉ cho xuất bản những gì phù hợp với khẩu vị và với ý đồ riêng của họ.  Sông Côn mùa lũ là một trong một con số vô cùng nhỏ nhoi (nói không ngoa, đếm được trên đầu ngón tay!) những tác phẩm hải ngoại được cho xuất bản trong nước. Còn ngoài ra, cả một nền văn học miền Nam và văn học hải ngoại phong phú bị tước đoạt quyền hiện hữu. Quả là một thiệt hại lớn lao cho nền văn học nước nhà!

Một nhà văn nữ được đào tạo từ trong nước, hiện đang sinh sống ở nước ngoài, Lê Minh Hà, viết:  “Văn học giải phóng (theo cách phân định chính thống) có một tác phẩm một thời được say mê, viết về một thời điểm được mô tả trong Mùa biển động. Dòng sông phẳng lặng, của Tô Nhuận Vỹ. Tôi cũng từng mê. Có chút gì đấy, chẳng biết có Huế rặt không, nhưng rất khác lạ ở cuốn sách này. (…) Chúng tôi, những người trẻ sinh ra lớn lên trên miền Bắc, tuổi nhỏ hui hút nơi làng quê sơ tán ngày chiến tranh được nuôi dưỡng bởi những hiện thực như thế này. Không hề biết một hiện thực khác đang xảy ra ngày ấy, ở thành phố ấy. Và bây giờ, nhớ lại, tôi ngờ chính người viết những trang văn một thời được say mê kia cũng không tin có một hiện thực khác hiện thực mà ông mô tả. Chữ không đánh lừa được con người. Chỉ cần một giọt hoang mang thôi, hiện thực không thể nào có lửa để thúc hối người đọc như thế.

Kể, để biết Mùa biển động đã gây một cơn choáng phản vệ trong tôi như thế nào!

Đấy là tôi đã có những thông tin phi chính thống về mùa xuân 1968 tại Huế.” (Xem Lê Minh Hà: Chân dung nhà văn: Nguyễn Mộng Giác)

Lê Minh Hà choáng phản vệ là phải! Vì Mùa biển động đã đưa ra hình ảnh một Tết Mậu Thân ở Huế khác hẳn với những gì mà nhà nước Cộng Sản cho biết trước đó.

Sông Côn mùa lũMùa biển động là hai tác phẩm quan trọng của Nguyễn Mộng Giác. Nhưng sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Mộng Giác không phải chỉ có thế.

*

Cũng như các chuyên đề khác trước đây về Văn học Ấn Độ, về Hoàng Đạo, về Cung Tích Biền…, khi thực hiện chuyên đề Nguyễn Mộng Giác, chúng tôi muốn cung cấp một cái nhìn khái quát về nhà văn Nguyễn Mộng Giác và các tác phẩm của ông, trong khả năng cho phép. Chuyên đề có sự góp mặt của Đặng Tiến, Thụy Khuê và Bùi Vĩnh Phúc, ba cây bút phê bình văn học chuyên nghiệp ở hải ngoại cùng với Mai Quốc Liên và Ban Mai, hai cây bút phê bình văn học trong nước; dịch giả Andrew Lâm dịch truyện ngắn “Thơ Gửi Cho Đám Mây Xa” sang Anh ngữ; các bài viết của các nhà văn nhà thơ Mai Kim Ngọc, Trúc Chi, Trần Mộng Tú, Nam Dao, Nguyễn Chí Kham, Luân Hoán, Lê Minh Hà, Thường Quán, Trần Hữu Thục và Đặng Thơ Thơ và các bài phỏng vấn của Nguyễn Viện, Mặc Lâm, Phạm Phú Minh và Trần Doãn Nho.

Trân trọng kính mời.

Tháng 3/2009

Trần Doãn Nho & Ban Biên Tập Da Màu

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

  • Ngô Việt Dũng/Ngô Nguyên Dũng says:

    Nhà văn Nguyễn Mộng Giác, một bậc đàn anh mà tôi rất quí mến, xét trong phạm vi văn chương thuần tuý, là một trong vài mẫu người vừa có tài vừa có phẩm hạnh. Trong suốt thời gian dài làm chủ bút cho nguyệt san Văn Học, anh luôn luôn tận tuỵ, giữ được chữ tín và hết lòng trân trọng các cộng tác viên. Không một bài viết nào của tôi gởi tới toà soạn mà không được anh trả lời vài hàng chân tình.

    Tôi vẫn chưa nguôi hy vọng, sớm có một bạn trẻ, vừa thấu đáo Việt ngữ lẫn ngoại ngữ, sẽ chuyển dịch bộ trường thiên tiểu thuyết “Mùa biển động” sang tiếng Anh, chẳng hạn, để văn chương Việt nam được góp phần xứng đáng vào văn học thế giới.

    Mong rằng trong tương lai gần, anh Nguyễn Mộng Giác sẽ hoàn tất những dự án văn chương mà anh hằng ấp ủ.

    Ngô Nguyên Dũng.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)