Trang chính » Da Màu và Bạn, Quan Điểm, Tin văn học Email bài này

Đọc Tim O’Brien ở Hà Nội


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 5.04.2010

(Đăng trên phần Book Review của tờ New York Times, Chủ Nhật, April 4, 2010)

 Saigon April 1975

  Sàigòn, 30 tháng 4 năm 1975 (ảnh Jacques Pavlovsky/Sygma, via Corbis)

Lá thư từ Việt Nam 

Tháng trước, vào một ngày xám ngắt buồn tẻ, tiêu biểu của những ngày mùa đông Hà Nội, tôi ghé thăm tiệm sách duy nhất của thành phố nổi tiếng chuyên về ngoại ngữ, the Bookworm (Mọt Sách), để được trò chuyện với một người Việt Nam nào đó thích đọc tác giả Tim O’Brien. “The Things They Carried,” (Những Điều Họ Cưu Mang), tập truyện ngắn bao gồm những truyện ngắn có liên hệ với nhau về chiến tranh Việt Nam của O’Brien đã được khen ngợi rất nhiều, vừa mới tái xuất bản để kỷ niệm hai mươi năm nó chào đời. Tôi muốn tập hợp lại quan điểm của độc giả Việt về tác phẩm của O’Brien, nhưng tôi đã mất rất nhiều ngày dùng điện thoại và gửi e-mail để tìm người Hà Nội đã từng đọc qua tác phẩm này. Cuối cùng, vị quản lý nhà sách Bookworm đã đề nghị tôi nói chuyện với Trần Ngọc Hiếu, giảng viên của trường Đại học Sư phạm Hà Nội [là dịch giả Hải Ngọc và một cộng tác viên của Da Màu – BBT]. Phải khá lâu tôi mới được gặp anh, bởi vì anh là người duy nhất trong thành phố không dùng điện thoại di động. Hiếu, 30, trông trẻ hơn số tuổi, bù lại anh có vẻ chững chạc nhờ cái áo khoác sport coat và cách đối thoại rất cân nhắc với vốn ngữ vựng vô cùng phong phú, thỉnh thoảng anh ngừng lại, xin lỗi vì đã không nói tiếng Anh lưu loát.

“Nhà văn Việt nên học cách kể chuyện chiến tranh như O’Brien,” Hiếu nói. “chế nhạo bằng sự khôi hài, với cách biểu lộ cốt truyện phá trật tự, không theo một cấu trúc lề lối từ A tới B. Một thỏa hiệp vẹn toàn giữa sự thật và ước mơ.”

Lẽ ra, chuyện tìm thấy độc giả Việt có khả năng bàn luận về O’Brien không đến nỗi khó khăn như thế. Tác giả, nói cho cùng, là một nhà văn Hoa Kỳ nổi tiếng về đề tài chiến tranh Việt Nam. Người ta tin rằng tác phẩm của ông – bao gồm “Nếu Tôi Chết Nơi Chiến Tuyến” (If I Die in a Combat Zone, 1973) và “Theo Đuổi Cacciato” (Going After Cacciato, 1978) – phải được nhiều độc giả Việt Nam biết đến. Tuy nhiên sự thật không phải thế. Hầu hết không tác phẩm lớn nào viết về chiến tranh được độc giả Việt chú ý; những tác phẩm lớn này đã không được dịch ra và xuất bản ở Việt Nam. Bạn có thể mua cóp-pi của bản tiếng Anh “Dog Soldiers” (“Đời Lính Chó”) của Robert Stone hay “Tree of Smoke” (“Cột Khói”) của Dennis Johnson, hoặc các tác phẩm kinh điển chuyên về tiểu luận và phê bình của Hoa Kỳ từ những người bán sách dạo tấn công không ngừng du khách ở các khu vực lân cận Hà Nội và Sài Gòn, nhưng cũng như hầu hết tất cả mọi người trên thế giới, rất ít người Việt Nam đọc sách ngoại quốc để giải trí. Chỉ một nhóm nhỏ bao gồm những nhà chuyên môn về văn học, được ưu đãi và có thẩm quyền đã đọc những bản dịch không chính thức của một số tác phẩm Hoa Kỳ trên những trang mạng tiếng Việt ở hải ngoại, như Talawas. Đa số người Việt vẫn còn xa lạ với văn học Hoa Kỳ về chiến tranh Việt Nam.

Ở một mức độ nào đó, sự lạ lẫm này bắt nguồn từ việc kiểm duyệt. Việt Nam hôm nay trên nhiều phương diện đã là một xã hội cởi mở; người Việt có thể lướt mạng (tuy nhiện bạn có thể bị cầm tù nếu viết blog về đề tài chính trị), các chương trình truyền hình ngoại quốc tràn lan vào Việt Nam qua hệ thống vệ tinh và đường dây cáp, những bộ phim lậu được lưu chuyển công khai. Nhưng khi nói về sách in, guồng máy kiểm duyệt cũ của chế độ Cộng sản vẫn còn đó, bất di bất dịch.

Nhưng kiểm duyệt chỉ là một phần của vấn đề. Người Việt dường như rất hững hờ với quan điểm của người ngoại quốc về chiến tranh Việt Nam. Thí dụ như “Người Mỹ Thầm Lặng” của Graham Greene, dù đã được dịch ra, hầu hết người Việt Nam tôi có dịp nói chuyện đều không thích nó. Họ cho rằng nhân vật  người Việt của quyển sách, cô Phượng xinh đẹp, có vẻ thấp hèn với bản tính thụ động của cô. Sự hững hờ này lan truyền cả đến phim ảnh. Bạn có thể mua phim “Apocalypse Now” (“Giờ Khải Huyền”) ở bất cứ tiệm bán DVD nào ở Hà Nội, nhưng ngay cả những người sành điệu phim ảnh mà tôi đã nói chuyện vẫn chưa xem nó. Năm ngoái, một loạt rạp chiếu bóng trong cùng một công ty đầu tiên ở Việt Nam có hệ thống đa thính đường tân tiến đã chiếu hai cuộn phim mà người ta tưởng đã không thể nào thoát mạng lưới kiểm duyệt: “Watchmen,” (“Những Người Canh Giữ”) trong phim này có đoạn chiếu một siêu nhân Hoa Kỳ giúp Nixon thắng chiến tranh Việt Nam, và “Tropic Thunder,” (“Sấm Nhiệt Đới”) một phim khôi hài chế nhạo những phim nặng phần thuyết giải về trách nhiệm Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam như Platoon (“Trung Đội”). Cả hai phim này đều làm khán giả Việt ngáp dài.

Trong trường hợp “Sấm Nhiệt Đới,” người Việt đã không nhận ra hàm ý diễu cợt trong phim. Cuốn phim chủ yếu chế nhạo những biểu tượng quan trọng về chiến tranh Việt Nam trong văn hóa Hoa Kỳ, một câu chuyện tương tự như tiểu thuyết “Heart of Darkness” (“Tâm điểm của Tối Tăm”) của Joseph Conrad: sự thoái hóa của con người ngây thơ vào tình trạng dã man của loài thú, sự tiêu tán của lý trí qua quá trình xáp nhập khốc liệt với một xã hội hoàn toàn xa lạ và bí hiểm.

Người Việt Nam, rõ ràng, là hiện thân của cái xã hội xa lạ và bí hiểm đó. Họ không nghĩ là họ xa lạ, khó hiểu đến thế. Họ cũng không nghĩ là họ im lặng và đầy bí ẩn, như Phương của Greene. Hơn nữa, chính quyền Việt Nam đương nhiệm là hậu thân của phe chiến thắng trong cuộc chiến tranh, một vị thế dù sao cũng tránh cho họ cái kinh nghiệm chua cay của người Mỹ về chuyện sa lầy và bại trận.

Đường lối chính trị của phe chiến thắng được áp dụng triệt để qua các sách giáo khoa và viện bảo tàng lịch sử, đã giới hạn các thể loại truyện có thể được phát triển trong văn học Việt Nam về “cuộc chiến của người Mỹ.”

Như Hiếu đã nói, không phải sự kiểm duyệt làm giới hạn nội dung của các tác phẩm văn học, nhưng chính nó (sự kiểm duyệt) đã thúc đẩy các tác giả, kể cả những người bất phục tùng, chú tâm phá vỡ việc bị cấm đoán không được nói sự thật trong nội dung một cốt truyện hơn là khai phá những nét mới lạ về mặt nghệ thuật.

“Nhà văn Việt Nam vẫn còn chú trọng về việc kể lại những ‘câu chuyện có thật’ mà từ trước không được giảng dạy trong trường lớp, hay những sự thật bí mật,” Hiếu nói. Phần lớn không theo đuổi những thử nghiệm về cấu trúc hay hình thức. “Nếu anh xem phim ‘Đừng Đốt,’ anh sẽ thấy.”

“Đừng Đốt” (xuất bản trên nước Mỹ năm 2007 với tựa đề “Đêm Qua Tôi Mơ Thấy Hòa Bình” (Last Night I Dreamed of Peace”) là một tác phẩm quan trọng gần đây nhất về văn học chiến tranh Việt Nam. Quyển nhật ký của một nữ bác sĩ trẻ tuổi tên Đặng Thùy Trâm chết năm 1970, đã được bán mấy trăm ngàn quyển khi xuất bản ở Việt Nam năm 2005. Người Việt thấy cách viết chân thật, đầy tình cảm của cô Trâm rất xúc động và bất ngờ. Tuy vậy, đa số những nhà phê bình ở Mỹ cho rằng quyển sách này chỉ làm nhàm.

Theo quan điểm của người Mỹ, điều dường như thiếu vắng trong văn học Việt Nam là sự hỗn loạn phi luân  bắt buộc phải hiện hữu trong những câu chuyện về  chiến tranh. Người Mỹ thường chỉ đề xướng những tác phẩm Việt Nam có phần nào đen tối và siêu thực.  Tuyệt tác “Nỗi Buồn Chiến Tranh” của Bảo Ninh xuất bản năm 1991 (ra mắt độc giả Hoa Kỳ năm 1995) bao gồm cảnh tượng những cái chết vô nghĩa và lãng phí trên đường mòn Hồ Chí Minh, trình bày qua cách thức kể chuyện mỉa mai, không theo thứ tự thời gian, gợi nhớ cách viết của O’Brien hay “Catch-22” (Bắt -22) của Joseph Heller. Đối với những người lính Bắc Việt trong quyển tiểu thuyết này, cuộc sống trên núi non rừng rú cũng xa lạ và đáng sợ hãi như thân phận những lính Mỹ trong truyện của O’Brien.

Năm 1997, một phần của quyển “Những Điều Họ Cưu Mang” của Tim O’Brien đã được xuất bản trên tạp chí văn học  Foreign Literature (Văn Học Ngoại Quốc). Nhà xuất bản Nhã Nam sẽ xuất bản toàn thể bản dịch trong năm nay, với dự án in vài ngàn quyển, một tỉ lệ thông thường cho những quyển tiểu thuyết được in ở Việt Nam. Nếu truyện của O’Brien được tiếp nhận với nhiều thành quả hơn những tác phẩm của các nhà văn Anh ngữ khác về chiến tranh Việt Nam, đó là vì ông đã phá vỡ những thành kiến của độc giả, Mỹ cũng như Việt Nam.

Thí dụ, trong một chương rất đáng chú ý ở phần giữa của quyển sách “Những Điều Họ Cưu Mang,” O’Brien nói về một câu chuyện của Rat Kiley (nhân viên cứu thương của tiểu đội và cũng là người kể chuyện không được tin cậy mấy). Trong câu chuyện này, một anh lính không biết bằng cách nào đã tìm cách mang trót lọt cô người yêu tóc vàng xinh đẹp thời trung học vào căn cứ đột kích của anh ta. Cô nàng dần dần quen với chiến trận, gia nhập lực lượng đặc biệt Mũ Xanh và cuối cùng cũng lội trận xuyên rừng đi phục kích cả tuần và khi trở về đeo một xâu chuỗi lưỡi người. Cuối cùng chúng ta chợt nhận ra là chúng ta đang đọc một truyện ngắn có tính cách chế nhạo và phi lý cùng loại với “Tâm Điểm của Tối Tăm.”

Trong một chương trước đó có tên là “Cách Kể Chuyện Thật về Chiến Tranh,” O’Brien nói nếu điều người ta muốn biết chỉ là một câu chuyện có thật sự xảy ra hay không, thì câu chuyện này không có “thật”: “Không có sự thật làm căn bản, nó chỉ là chuyện tầm phào của sự phóng đại, hoàn toàn giả dối như phim ảnh của Hollywood, không có thật cũng như các loại truyện tương tự đều không thật. Tuy nhiên ngay cả trường hợp nó thật sự xảy ra – và có thể nó đã xảy ra, mọi chuyện đều khả thi – thì ngay cả lúc ấy bạn cũng biết nó không thể nào là sự thật, bởi vì một câu chuyện chiến tranh có thật thì không cần dựa vào một thứ sự thật như thế.

Tim O’Brien có ý nói rằng điều mà các quân nhân Mỹ đã khám phá ở Việt Nam, trong bối cảnh đầy những cảnh tượng kinh hoàng, là một tâm trạng hiện sinh đòi hỏi một phương pháp kể chuyện siêu thực. Người Việt Nam rất quan tâm về chủ nghĩa siêu thực. (Thí dụ, nhà văn Haruki Murakami rất nổi tiếng ở đây.) Họ chỉ không thèm chú ý nhiều về chiến tranh.

 

Matt Steinglass là phóng viên của cơ quan tin tức Đức dpa ở Hà Nội, ông ta sống ở nơi này từ năm 2003.

 

 

.

bài đã đăng của Matt Steinglass


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)