Bạn có buồn không?
Ngọn gió của lòng biết ơn thổi mãi trong tâm hồn chúng ta. Những người sống với lòng biết ơn kiên nhẫn hơn người khác, dịu dàng hơn, thận trọng hơn khi nói lời chê trách, mau quên lỗi lầm của người khác và dễ tha thứ. Lòng biết ơn giúp bạn sống vui, nghĩ về người khác tốt đẹp hơn, dù họ khác biệt. Lòng biết ơn làm các mạch máu của bạn nhu hòa, sức nghĩ nhanh hơn, phản ứng mau lẹ, các cơ bắp thư giãn, hô hấp sâu hơn. Người nói lời tốt đẹp đối với người khác không những giúp ích cho họ mà giúp cho chính mình. Một trái tim vui sướng bơm máu hiệu quả hơn, chậm hơn người khác khi cần chậm rãi, mau hơn người khác khi cần mau lẹ, như người cúi đầu xuống khi không có việc gì, ngẩng đầu lên khi bảo vệ niềm tin. Lòng biết ơn giúp người ta phê bình nhưng không phỉ báng, khác biệt nhưng không ngạo mạn. Là cảm giác ngạc nhiên trước cuộc đời, sự cảm kích được sống trong khi người khác không. Bạn ngồi đấy, trước bàn cà phê bên cửa sổ trong tiếng âm nhạc dịu dàng, biết rằng có những người không thể làm được như bạn. Họ ở trong tù. Lòng biết ơn không chỉ có mặt trong thời gian tốt đẹp của bạn. Nó có một sức mạnh làm thay đổi sự khó khăn.
Đêm xuống trên hương thơm Hà Nội. Tôi cất va li vào gầm giường, treo áo khoác lên thành ghế, ra đường. Khách sạn nơi tôi ở gần ngã tư ban ngày ồn ào xe cộ nhưng đêm tối vắng. Tôi về ra mắt cuốn tiểu thuyết Thuyền, nhưng đêm Hà Nội làm tôi ít nghĩ về tiểu thuyết mà nghĩ nhiều hơn về âm nhạc. Đến Hà Nội bao giờ tôi cũng nhớ đến Anh Ngọc. Người mê Anh Ngọc hơn cả tôi là Nguyễn Đình Toàn. Khi còn sống, anh thường hát cho tôi nghe những bài mà ca sĩ hát.
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Kiều trong câu thơ của Quang Dũng là một trong những nàng Kiều thời ấy, vợ của ca sĩ Anh Ngọc. Tôi đi một mình trên phố vắng, nhiều bóng cây che mờ huyền ảo, tôi ngồi xuống một quán cà phê bên đường, tìm một chỗ yên tĩnh, sau lưng tôi vọng ra ca khúc tiền chiến. Sự trống rỗng chiếm đoạt tôi. Sự trống rỗng bao giờ cũng đến trước, làm cho tôi ngơ ngác như lạc đường. Chỉ sau một khoảnh khắc tôi mới nhận ra sự trống rỗng báo hiệu một điều khác: sầu muộn.
Tháng sáu trong tiếng Anh là June, tiếng Pháp là Juin, tiếng Tây Ban Nha là Junio, có nguồn gốc từ Juno, tên của vị nữ thần La Mã chăm sóc về hôn nhân, sinh đẻ, phụ nữ, lễ hội, lòng biết ơn. Tháng sáu, đom đóm bay về. Ngày 20 tháng sáu là ngày hạ chí, dài nhất trong năm. Nhà văn phải yêu ngôn ngữ, yêu những chữ. Nhà văn phải yêu tiếng động của chữ chảy trên mặt giấy, thứ âm nhạc mà chúng tạo ra. Nhà văn phải viết mỗi ngày, phải lắng nghe các chữ, cảm nhận được chúng, chú tâm đến nhịp đập của chữ, đến những bí mật của chúng, nội dung, các tinh thể của chúng. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa cuốn tiểu thuyết của tôi không có thông điệp. Nhưng đó là một thứ thông điệp không được phát biểu trực tiếp. Không phải vì nhà văn tìm cách giấu nó đi, như nhiều người lầm tưởng, để đánh đố độc giả hoặc tránh khỏi kiểm duyệt. Nhà văn không có những tuyên ngôn trực tiếp vì bản chất của văn chương không phải là các tuyên ngôn. Sức mạnh của văn chương nằm ở những giao tiếp sâu xa, dưới văn bản. Và đó là sức mạnh của văn học. Giữa các chữ, bên dưới chúng, cái subtext của Thuyền đầy rẫy chi tiết và thông điệp về lý do của những cuộc ra đi.
Một ngày trước khi tôi rời Canada để bay về Hà Nội, điện thoại reo trong đêm. Quá nửa khuya, một chàng trai ở chung cư gọi điện cho cảnh sát. Dưới đường, một cô gái đứng một mình, liên tục nhắn tin cho anh ta, suốt từ trưa đến tối. Cô là người yêu cũ của anh, nhưng họ đã chia tay. Trong tin nhắn, cô nói rằng nếu anh không xuống, cô sẽ tự tử. Cô nhớ anh, hận anh. Cô nói rằng cô đã chuẩn bị, và nếu anh vẫn từ chối gặp mặt, đêm nay cô sẽ lên cầu, nhảy xuống. Cảnh sát đến. Ba chiếc xe với đèn xanh đỏ nhấp nháy trước chung cư, họ đưa cô lên xe, phỏng vấn hai giờ, lập biên bản, rồi chở cô gái vào khoa cấp cứu. Tôi được gọi tới lúc 2 giờ sáng để làm thủ tục certify tức là nhập viện cưỡng bách.
Hai giờ sáng trong một bài thơ của Tomas Transtromer:
Hai giờ sáng: Ánh trăng. Đoàn tàu bất ngờ dừng lại
Trên cánh đồng. Những ánh đèn của một thị trấn
Lấp lánh cuối chân trời.
Ký ức của chúng ta được giữ lại như thế. Ký ức về một Hà Nội hạnh phúc của những năm 1946-1954 được giữ lại. Ký ức về một miền Nam tự do của những năm sáu mươi. Chúng không mất đi, chỉ lùi xa, như ánh đèn của thị trấn nhỏ nhìn từ cửa sổ đoàn tàu dừng lại dưới ánh trăng. Một tiểu thuyết không chú trọng đến ngôn ngữ: người đọc đọc họ và lập tức hiểu ngay cả ý tưởng trong ấy, đi thẳng vào vấn đề, giải quyết xong, và đi ngủ. Một tiểu thuyết chú trọng đến ngôn ngữ sẽ giữ người đọc lâu hơn, day dứt hơn, bồn chồn hơn và đôi khi làm họ bối rối, khó chịu. Nhà văn quan tâm đến các câu, các dấu, sẽ ở lại lâu với người đọc, như một người khách từ xa tới, im lặng ngồi bên. Họ chú ý đến các chi tiết của đời sống như một người thích một cái bát sẽ nhìn thấy những hoa văn được vẽ trên ấy, không phải chỉ thức ăn nước uống ở bên trong.
Không phải người nào cũng thích một cái bát.
Con người sống để đi tìm hai thứ trên đời: tình yêu và nhân phẩm. Không phải người nào sinh ra đời cũng xứng đáng có được một nhân phẩm cao quý và một tình yêu cao quý. Không phải tất cả: có những kẻ khốn nạn. Điều mà bạn nhận được khi trở về quê hương là điều gì?
Cảm giác thuộc về.
Tôi thuộc về căn nhà tôi ở, mặt đất tôi bước đi, cây khế cùng tuổi với tôi vẫn ra hoa mỗi mùa xuân. Tôi thuộc về ngôi trường bây giờ không còn nữa. Tôi thuộc về một nền giáo dục bây giờ không còn nữa. Những thứ mà tôi thuộc về không còn nữa, nhưng tôi vẫn trở về vì ở nơi tôi trở về lòng tin yêu và sự tử tế vẫn còn, máu vẫn chảy trong huyết quản những người thân thuộc, và quá khứ, dù đã dập vùi tan nát, vẫn còn hé lộ như nhánh cỏ non dưới đá khi bạn nhấc nó lên. Nếu bạn đủ dũng cảm và đủ khiêm tốn, bạn sẽ thuộc về một điều gì cao quý. Khi bạn ngạo mạn hay khi bạn yếu đuối, bạn không thuộc về một điều gì cả. Một tác giả có trách nhiệm với người đọc sẽ biết cắt bớt những thứ thừa ra. Mỗi khi mùa xuân tới, công việc của tôi là chặt bỏ nhiều nhánh cây, chặt mạnh tay, lắc rung thật mạnh cho các lá chết rơi xuống. Viết cũng thế.
Trong các buổi ra mắt sách, cũng như khi đến làm việc với nhà xuất bản, tôi gặp nhiều bạn trẻ, những khuôn mặt mới, và tôi nhìn thấy lòng tin vào văn học ở nơi họ. Khi trái tim mở ra, bạn quên mất chính mình và nhờ thế mà thế giới rót vào bạn không khí của nó, trong lành. Chúng ta vẫn chưa có một nền văn học thực sự phát triển. Sức mạnh của một nền văn học là sự nối kết giữa người và người, sức mạnh ấy làm lay chuyển niềm tin cũ kỹ, các thần tượng mục ruỗng, những định kiến. Sức mạnh của một nền văn học nằm ở tình yêu mà nó mang lại. Chúng ta đang sống một đời sống lo âu, và từ trong đời sống lo âu này, bạn nhìn thấy một người khác, trong một đời sống lo âu khác, và bạn muốn đến với họ, nhưng bạn không đến được. Văn học mang bạn đến. Khi viết, tôi không nghĩ đến một tầng lớp người đọc nào cả. Tuy nhiên khi nhìn lại, tôi nghĩ trong tiềm thức sâu xa tôi viết cho những người tương tự như tôi. Có lẽ vì thế mà tôi bỏ qua những điều tôi nghĩ là không cần thiết. Một người đã sống ở trong nước sau 1975 thì thấy không cần phải nói gì về cái ngột ngạt thời ấy. Có những nhà văn mô tả nhân vật của mình kỹ về hình dáng, y phục, có những nhà văn không quan tâm. Đó là chọn lựa cá nhân. Tôi không nhớ lắm ngoại hình của nhân vật, tôi chỉ quan tâm đến tính cách của họ. Xã hội nào cũng có những người dưới đáy, vất vả, ở nơi tôi đang sống cũng thế. Nhưng đời sống của người Việt rất kỳ lạ, con người giàu có vẫn thiếu một điều gì mà tôi không gọi tên được. Ngày trước, ngay cả trong chiến tranh, cuộc sống bình dị hơn, khuôn mặt người nào cũng thanh thản hơn, con người ăn nói với nhau dịu dàng hơn, cái nghĩa tình làng xóm rất sâu. Kẻ ở thành thị về thôn quê, ngủ trên vỉa hè, thấy quê hương như luồng gió mát. Buổi sáng hoa cau rụng đầy thềm. Người ở làng quê tôi nói về người Sài Gòn, người Hà Nội, với giọng ngưỡng mộ. Bây giờ nhiều người nói về nhau với giọng khinh mạn. Trên đường phố, tôi nghe nhiều tiếng chửi thề, ngạc nhiên là ở phụ nữ trẻ. Về quê, ngồi uống chén rượu với các anh họ của tôi, mà khi xa rồi lại nhớ, người xa xứ nửa đêm xoay nghiêng mình, hỏi vợ:
Em ơi, đã đến mùa nhãn chín chưa?
Lòng còn tưởng lửa lựu bên tường vẫn đỏ, chim đỗ quyên còn hót cuối sông, có biết đâu ngày đã tàn, hoa đã rụng, tấc lòng cố quốc đã tan tác. Trên đường từ Hà Nội vào Thanh Hóa thăm Thái Hạo, và ghé thăm Đỗ Hoàng Diệu, khi chúng tôi đứng ngắm cảnh mặt trời lặn cùng với chiếc cầu vòng bảy sắc giữa những bạn Phạm Xuân Nguyên, Giáng Vân, Hàm Anh, Minh Hà, Nguyễn Phượng, tôi nhìn thấy trên chiếc xe đò chạy ngang có một dòng chữ lạ, chưa bao giờ thấy từ nhiều năm nay, viết:
Xin đừng thò đầu và tay ra ngoài.
Đó là câu phổ biến ghi trên các xe đò miền Nam thời tôi bé. Xuống phi trường Phú Bài, tôi đi thẳng về quê, ở lại một đêm trong căn nhà cũ của cha mẹ tôi. Hôm sau tôi sẽ vào Huế chuẩn bị cho cuộc ra mắt sách sáng ngày 18 tháng 6, ngay sau Hà Nội. Căn nhà im lặng. Tôi đến đó khi trời sắp tối, ánh nắng buổi chiều chiếu một khoảng sáng mờ trước sân. Tôi đứng trên bậc cửa. Tôi chờ nghe tiếng ve kêu. Tháng sáu ve vẫn còn kêu vang trên những ngọn cây. Bây giờ chúng im lặng. Tôi vào nhà, thắp hương trước bàn thờ rồi ra vườn ngồi trò chuyện với anh tôi. Tôi tìm một gói thuốc lá cũ cất trong tủ, rút một điếu châm lửa đặt lên tấm bia mộ mời anh tôi hút. Thời bé anh tôi không bao giờ hút thuốc lá, nhưng khi vào lính, anh ấy cũng hút như những người khác. Tôi đứng nhìn đốm thuốc đỏ rực, nghe mùi thơm của khói thuốc. Tôi im lặng. Anh tôi im lặng. Trong đám cỏ phía sau bia mộ một con dế bắt đầu cất tiếng, nó hót ngập ngừng rồi càng lúc càng cao, lanh lảnh, rồi im bặt. Sự im lặng bao giờ cũng biết cách nhìn thấy thời gian của nó.
Đêm qua, đứng trên sân thượng của khách sạn ở Hà Nội, tôi nhìn thấy những ngôi sao rất sáng, đầy trời, tôi nghe tiếng đóng cửa sổ của nhà hàng xóm. Bên cạnh cuộc hội thảo ở Huế, tôi cũng gặp riêng bạn bè, sáng, trưa, tối. Tôi có dịp ngồi bên những người bạn: Thanh Ngọc, Tịnh Thy, Minh Tự, Vàng Anh, Thái Kim Lan, Hồ Thế Hà, Nguyễn Thị Minh Thái, Võ Thị Kim Thanh, Anh Thư, Từ Dạ Thảo, Trần Huyền Sâm, Phạm Minh Tường, Tô Nhuận Vỹ, những người khác. Tôi ngồi đó, im lặng lắng nghe, lắng nghe giọng Huế, lâu rồi tôi không nghe. Buổi trưa muộn bạn bè đưa tôi về, ánh nắng sáng trắng hắt lên mặt sông Hương đẹp lạ thường. Tôi nhớ câu thơ Hàn Mặc Tử:
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang
Có một niềm an lạc thanh bình đi xuống từ trời, tràn ngập nội tâm của Huế. Tôi bắt đầu nhìn thấy nó. Không cần phải cố gắng gì cả, đôi khi bạn nhìn thấy nội tâm của một thành phố. Tôi nhớ một ngọn đèn ở Đập Đá. Ngọn đèn trên cửa sổ căn gác cao. Tôi muốn về nhà. Nhà tôi ở đâu, tôi không biết. Tôi hỏi đường một bà già bán vé số gần cầu Tràng Tiền. Tôi muốn tìm một quán ăn. Cần phải ăn mới sống được, con ạ. Người đàn bà nói thế, không quay nhìn mặt tôi. Ba ngày sau Huế, ngày 21 tháng 6, ra mắt ở Sài Gòn. Hôm sau nữa, hội thảo Cà phê thứ bảy. Nhưng tôi nghĩ về Thuyền như thế nào?
Tôi nghĩ, động cơ tâm lý của các nhân vật là quan trọng bậc nhất trong tiểu thuyết hôm nay. Từ xưa đến nay mối quan tâm lớn nhất của tiểu thuyết là gì? Cái chết, tình yêu, lịch sử tội ác. Mặt khác, nghệ thuật của tiểu thuyết đương đại chuyển động với tốc độ nhanh, rời bỏ quyết liệt các truyền thống. Điều này dẫn tới các phản ứng khác nhau ở người đọc và ở các nhà phê bình, khiến cho trong khi có nhiều người tiếp nhận dễ dàng thì cũng sẽ có người không thể đọc được Thuyền. Thực ra, văn học không chỉ là việc kể lại sự thật, mà còn tạo ra những hiện thực có thể xảy ra. Giờ đây nhiều tác phẩm còn sáng tạo những hiện thực khó tin, khó xảy ra, kỳ lạ và kỳ quặc. Đời sống trở thành những giả thuyết. Những cái không thể trở thành có thể. Tháng sáu, ngày 4, Thiên An Môn, ngày của hào khí tuổi trẻ Trung Hoa. Ngày 16 tháng 6 năm 1958, thủ tướng dân chủ Imre Nagy bị hành quyết trong sân nhà tù Hungary, hai năm sau cuộc cách mạng. Thanh Tâm Tuyền, từ Sài Gòn, viết:
Hãy cho anh giận bằng ngực em
Bạn có buồn không?
Em nhớ anh, nhớ quay quắt trong lòng. Tất cả những đứa trẻ được sinh ra bởi một người đàn bà, trong một giờ khắc kỳ lạ huyền ảo, không tính được theo thời gian của lịch trên tường. Mỗi người là một khoảnh khắc của quê hương, ngày sinh của tôi là một khoảnh khắc ấy, ở đó mọi thứ thay đổi, những ngày hạn kéo dài không mưa đã kết thúc, hoa cỏ héo khô tươi tốt trở lại, cuộc chiến tranh vừa bắt đầu ở bên kia chân trời, về sau sẽ xóa sạch tất cả, bây giờ thì không. Giặc giã, những cuộc chạy loạn, sự chết, sự sống còn, không ai có thể hiểu được. Con người bị chia ra làm nhiều mảnh, họ trôi dạt như rong rêu trên dòng sông mùa lũ, chạy như muông thú bị bỏ rơi sau đám cháy nhà, chạy về phía cơn mưa cuối hè, hoảng loạn. Để sống còn, chúng ta từ bỏ tất cả, tuổi thơ yêu dấu, lý tưởng vào đời, một nền giáo dục mới tinh khôi, lòng tự trọng và lòng hy vọng mong manh. Rồi chúng ta sẽ bị đánh bại. Sau chín năm chiến tranh, hòa bình vừa được lập lại ở cả hai miền Nam Bắc, người dân trở về từ những vùng tản cư, hào hứng làm lại cuộc sống mới. Dân tộc tìm lại được lòng can đảm, tình thương yêu, niềm vui được sống, được mở đầu, đêm trăng huyền ảo lại chiếu sáng khu vườn. Tôi được nghe chuyện từ bà ngoại của tôi, người sống qua hai thế kỷ, câu chuyện về những người di dân từ nhiều nơi ngoài Bắc vào Trung, dừng lại ở vùng Châu Thuận Châu Hóa, nơi giang sơn cẩm tú, nhiều dòng sông chảy từ núi về, nhiều hồ ao tôm cá, trong một mảnh đất hẹp chứa đựng bao kỳ tích và không khí tự do của những người đầu tiên khai sơn phá thạch, từ những cánh đồng mênh mông đến vùng đất đỏ nổi tiếng trà và tiêu, và huyền sử của Vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương. Truyền thống chống Pháp rồi đây sẽ mang theo nó nhiều người vào mặt trận Việt Minh, và chín năm sau tập kết ra Bắc, hoặc chuyển qua hoạt động bí mật, tiếp tục con đường yêu nước của các chiến sĩ Cần Vương, họ hoàn toàn không hay biết, không thể biết và không muốn biết, về sự chuyển hướng của miền Nam, từ một xứ sở nửa thuộc địa, cởi mở hơn những truyền thống yêu nước ngoài Bắc, trong việc tiếp thu văn hóa phương Tây, sự chuyển hướng dân chủ ấy làm thay đổi bộ mặt của đời sống, do đó các khái niệm chính trị cũ không còn phù hợp với thực tế nữa. Tôi sinh ra sau hòa bình: cũng vậy, một đất nước mới, sinh ra. Một ngày tôi đi qua những bảng cây số đường, Sài Gòn 1200km, Hà Nội 600km, tôi nhìn thấy quê hương mình, thấy sông Hồng cuồn cuộn, sông Đuống của Hoàng Cầm, thấy sông Tiền sông Hậu hoa lục bình tím trôi rào rạt, nghe tiếng hò của cô gái trên sông, nghĩ về năm cửa biển. Làng quê của tôi là một biểu tượng của quê hương, nó không phải là tất cả nhưng nó chứa đựng ở đó những yếu tố của sự vĩ đại và tình yêu. Cùng với sự phát triển thịnh vượng trong những năm đầu tiên ở cả miền Bắc và Nam, sự cạnh tranh hòa bình phi bạo lực, trẻ con đến trường, chợ búa được xây dựng lại trên nền đất cũ, máu chảy thấm đất những năm loạn lạc giờ đây đã khô, nỗi thù hận được nhiều người quên lãng, mặc dù không phải là tất cả.
Tháng sáu là tháng nghỉ hè, mặc dù trước đó trời đã nắng nóng, nhiều người than không thở được. Từ sáng tinh mơ, nước đã trong như lọc, trời đã xanh như ngày đoàn tụ, đó là lúc thời tiết đẹp nhất, trời sắp mưa nhưng hãy còn chậm rãi sau chân trời, người nông dân sau một ngày làm lụng, một đêm ngủ sâu thức dậy, cơ thể và tâm trí khỏe khoắn trở lại. Tháng sáu là tết Đoan Ngọ, ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch, rơi vào đầu tháng sáu dương lịch. Trẻ con được phép xuống sông vì lúc ấy nước sông cạn, cha mẹ tin trẻ con không chết đuối, đó là người ta tin thế. Bày lễ vật trước sân, Ba tôi đứng khấn: Nam mô A Di Đà Phật. Hôm nay tết Đoan Ngọ, chúng con sửa sang lễ vật dâng lên thành hoàng, thổ địa, táo quân, long mạch, chư vị gia tiên nội ngoại. Đoan Ngọ tức là bắt đầu giữa trưa còn gọi là Đoan Dương là lúc khí dương mạnh mẽ nhất. Sau gặt lúa vụ chiêm tức là lúa cấy trên đồng không có nước, việc cúng tạ mùa màng đánh dấu sự kết thúc của nửa năm. Ở miền Trung cúng thịt vịt, cơm nếp, bánh tro. Mẹ tôi trước đó nhiều ngay thường nấu cơm rượu ép thành những viên nhỏ, nhưng tôi mê nhất là món chè kê. Nhà tôi không ăn kê nhưng cũng trồng một vạt kê nhỏ chỉ để cúng vào tết Đoan Ngọ. Chè kê thơm lừng ngon ngọt. Sau khi bọn trẻ xuống tắm sông, mẹ tôi liền đun nước lá thơm có mùi bưởi hay sả để bọn chúng tắm lại lần nữa trong nhà. Tôi đi nhiều nơi gặp nhiều bạn Á Âu đủ cả, nhưng phải thừa nhận rằng ở người Việt việc ăn uống đã được nâng lên thành nghệ thuật, như khế thì nấu cá tràu, mít non nấu với hến, rau muống chấm với nước mắm, xoài xanh ăn với mu ối ớt. Thiếu nữ ở thôn quê sinh hoạt kín đáo không mặc xà lỏn ở trần tắm giếng như tôi, họ đun nước với vỏ bưởi thơm lừng da thịt. Những yêu thích lặt vặt như thế mới nhìn qua tưởng không có nghĩa gì, nhưng ngày nay nghĩ lại, chính chúng làm nên lịch sử của con người, chứ không phải những cuộc chiến tranh.
Viết xong cuốn tiểu thuyết, tôi mừng quá. Từ nay tôi thoát. Không còn phải đi bộ dọc con đường ẩm ướt tối tăm, để suy nghĩ về nhân vật của mình, và từ trong bóng tối mà nhìn ra ánh sáng. Từ nay, tôi thật sung sướng. Tôi nghĩ thế và đi ngủ. Nhưng sáng sớm hôm sau thức giấc, cảm giác an ủi đó không còn nữa. Thì ra viết là một công việc, mang tác phẩm của mình đến với cuộc đời là một công việc khác, cũng gian nan và thú vị không kém. Tiểu thuyết ngay từ trang đầu tiên, hình thành mối quan hệ với người đọc của nó. Người viết tiểu thuyết là một người kể chuyện. Người đọc trước khi nghe được câu chuyện của anh ta thì nghe được giọng nói. Giọng nói ấy có người thích có người không, điều ấy phụ thuộc vào tiếp nhận của từng người, vào khả năng đọc ra phong cách, vốn là trái tim của một cuốn tiểu thuyết.
Sự duyên dáng là nguồn gốc của đời sống. Những kẻ không duyên dáng không có đời sống.
Charm is the source of life. Those who have no charm have no life.
Gilles Deleuze
Phong cách là giọng điệu. Giọng điệu là thái độ của người viết đối với người đọc, là ý thức về mối quan hệ giữa họ với nhau. Giọng điệu có thể vui tươi hay sầu muộn, nghiêm trang hay hài hước, lạnh lùng hay nhiều cảm xúc. Tôi không chọn giọng nói của mình, nhưng tôi chọn cách viết, các từ ngữ, trật tự các chữ và các câu, cách viết câu dài hay ngắn, để nói về sự xúc động và tư tưởng của mình. Những tư tưởng của tôi không xảy ra khi tôi ngồi yên lặng một mình trong phòng vắng vẻ. Triết học của tôi xảy ra khi tôi hành động, khi tôi thở, khi tôi chạy vì bị rượt bắt, khi tôi tủi nhục và khi tôi căm giận. Vì vậy sẽ có người sẽ không hiểu tư tưởng ấy, không biết rằng con người là một thực thể kỳ lạ, họ vừa sống vừa suy nghĩ, vừa chết vừa suy nghĩ, vừa làm tình vừa suy nghĩ.
Tháng sáu, mùa bóng đá. Năm nay, 2026, giải World Cup tổ chức ở Bắc Mỹ. Tôi ngồi gần sát sân cỏ, sân BC Place ở Vancouver, giữa những hàng ghế dày đặc người, nhìn quả bóng lăn đi trong khi thưởng thức niềm vui của người yêu bóng đá, nhìn những cầu thủ Canada và Qatar, ngày 18 tháng 6, Ai Cập và Tân Tây Lan và đủ mọi màu da, tôi bỗng nhớ Duyên Anh, những trang viết về giấc mơ của tuổi thơ Việt Nam, những thằng Vũ, thằng Côn, Chương Còm chạy theo sau quả bóng mùa hè chiến tranh. Đối với tôi, ký ức là một phần của hiện tại, ngay cả trong những giờ phút bận rộn nhất khi tôi hoàn toàn tập trung vào công việc, thì phía sau tâm trí, sau một màn che mỏng, một bộ máy khác hoạt động, của ký ức, chưa bao giờ ngừng nghỉ. Ký ức có làm cho công việc của tôi bớt hiệu quả đi không?
Có. Nhưng phần thưởng của nó lớn. Ký ức như một tấm gương chiếu rọi con đường tôi đi, giúp tôi nhìn thấy tốt và xấu, một thể chế tự do và một thể chế nô lệ. Ký ức không phải chỉ là sự nhớ lại những ngày tôi vượt biển, mà chính là nhìn thấy động lực khiến tôi rời bỏ. Tôi không bao giờ quên rằng kẻ ra đi thường có số phận bi đát, chỉ một vài người thoát được. Khi viết Thuyền, tôi nghĩ tới quê hương mà tôi yêu biết bao, dân tộc mà tôi thương xót biết bao. Quê hương với dân tộc ấy có lẽ rồi sẽ biến mất. Tôi chỉ còn lại người đọc. Những người viết tiểu thuyết trông đợi nhiều ở độc giả của mình: khác với thơ và truyện ngắn, họ cần dành nhiều thời gian hơn, nhiều sự kiên tâm, theo đuổi. Tôi cần ở người đọc của tôi không những thời gian, công sức, sự tập trung, mà còn cần ở họ lòng tin. Lòng tin rằng chúng ta sẽ mang họ đi qua những số phận khác nhau, những câu chuyện, những trang văn nóng rẫy, sự buồn rầu đau đớn, lòng khao khát được sống một cuộc đời có phẩm giá. Tôi có làm được điều đó không, có phụ lòng tin của độc giả không, là nỗi lo lắng lớn nhất. Tôi nhớ những năm 1989, mùa xuân Thiên An Môn, cách mạng nhung Tiệp Khắc. Mỗi ngày đi làm việc về, một công việc cực nhọc trong nhà máy, lấm lem dầu mỡ, tôi ngồi trên sofa dán mắt vào màn hình tivi, nhìn thấy những chàng trai cô gái trẻ tuổi trên quảng trường, nhìn thấy nhân loại hớn hở. Tôi biết rằng đó là một giấc mơ đẹp, của nhân loại và dân tộc ta.
Trong những năm rực rỡ nhất, phía sau một cánh cửa gỗ, một tấm màn bằng vải là những kệ sách, nơi cha tôi để những cuốn sách giáo khoa, các tờ báo và tạp chí, trên cao nhất là các tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn in đẹp, đó là thế giới của tôi. Cái thế giới nghệ thuật ấy nằm lọt giữa một vùng thôn quê sống bằng nghề trồng lúa và làm vườn, cái thế giới ấy làm nên tâm hồn tôi. Đất nước cần tạo ra một cái nôi như thế đối với một đứa trẻ, nơi chúng tập lắng nghe tiếng động của thời tiết, tiếng của trang sách lật, và tiếng nói của các nhân vật từ đó vọng ra, dạy cho chúng biết rằng con người sinh ra không phải để sống trong vòng nô lệ của các thần tượng. Đọc sách là lắng nghe với mắt nhìn, là phán đoán với ký ức. Người ta không chỉ đọc trang giấy, hãy đọc sự đổi chiều của gió, đọc một tảng đá, đọc một dòng sông, đọc máu, đọc nước mắt. Tôi kỳ vọng rằng người đọc của tôi khi đọc Thuyền không chỉ nhìn thấy vết chân của người chạy vì bị săn đuổi mà còn nhìn thấy vì sao họ bỏ chạy, tôi kỳ vọng rằng người đọc của Thuyền nhìn thấy một cánh cửa sắt nặng nề, nơi chúng tôi v ừa thoát ra. Ngày trước, âm thanh xuất hiện trước khi bạn lắng nghe, bây giờ bạn lắng nghe ngay cả khi âm thanh chưa xuất hiện. Ngày trước, mẹ tôi đọc được mà không viết được. Có những nền văn minh ở đó có người chỉ đọc mà không viết. Tiểu thuyết hôm nay cần những người đọc có sức tưởng tượng và làm cho sự đọc trở thành sự lắng nghe, sự va chạm, sự thấu hiểu, phán đoán. Ngày tôi mới đến Canada, một người phụ nữ da trắng lái xe chở tôi đi tìm nhà ở, đi xin việc làm, đi mua áo quần trong những tiệm áo quần rẻ của Salvation Army. Cô bị bệnh tiểu đường rất nặng và phải chích insulin. Cứ bốn giờ cô phải ra xe ngồi chích một mình. Tôi tôn trọng sự riêng tư nên đứng chờ cô ngoài trời, trong tuyết. Tôi nhìn những bông tuyết đóng trên gương xe thành tinh thể xinh đẹp. Khuôn mặt của cô có chút đau đớn, căng thẳng có lẽ do kim chích, sự nhẫn nhục chịu đựng và lòng hòa ái kỳ lạ mà tôi không bao giờ quên. Cô khuyên tôi chỉ có một câu: ask, ask. Tháng sáu là tháng của câu hỏi.
Niềm kính trọng đối với một người là chân thật. Đó có thể là một tình cảm trong sáng, nhưng khi lòng kính trọng ấy vượt qua ranh giới của lý trí để trở thành sự thờ phượng, nó bắt đầu một hình thức nô lệ tinh thần.Tôi không thần tượng bất cứ ai. Tôi không tin có một con người nào đứng cao hơn mọi phán đoán của người khác. Khi con người ngừng đặt câu hỏi, khi họ trao quyền phán xét của mình cho một hình tượng được dựng lên tuyệt đối, vòng vây lại khép kín, dù dưới một tên gọi mới. Tự do không chỉ là giải phóng thân thể. Tự do còn là khả năng nhìn mọi con người như những con người: với tốt đẹp và xấu xa. Chỉ khi ấy chúng ta mới thực sự bước ra khỏi sự phục tùng. Tháng sáu là của thèm muốn, ao ước, nhiệt huyết, ham muốn. Ham muốn tốt đẹp và ham muốn xấu xa, ham muốn xây dựng và ham muốn hủy hoại, cũng như sáng và tối, chúng làm nên thế giới. Từ thuở bé, tôi bao giờ cũng hỏi, tại sao. Tôi nhớ lại đúng như vậy khi tôi chạy qua những xác chết, không buồn rầu, không sợ hãi, tôi chỉ ngạc nhiên như đứa bé đặt câu hỏi. Những câu hỏi ấy theo đuổi tôi. Thật điên rồ. Trong khi ấy thì văn học tới. Văn học chữa cho tôi sự điên rồ ấy, nhưng đôi khi nó còn cũng làm tôi điên rồ hơn nữa.
Bạn có buồn không?
Khi được nhận vào chương trình nội trú, tôi hứng khởi dọn đồ đạc tới chỗ ở, lúc ấy mới nhận ra rằng tất cả những phòng dành cho sinh viên nội trú đều đã hết. Bệnh viện của tôi rất lớn nhưng mỗi phòng đều đã có sinh viên. Tôi than phiền với ông thầy phụ trách chương trình của mình, một bác sĩ thần kinh học nổi tiếng. Ông tháo cặp kiếng cận xuống, lau chùi một chập, rồi chậm rãi trả lời: mi cứ chờ thêm một thời gian nữa, thế nào cũng có đứa tự tử. Quả nhiên bốn tháng sau có một phòng trống, và tôi lập tức dọn vào. Do quá bận rộn với chương trình nội trú, tôi quên bẵng lời nhận xét của ông thầy. Vài tháng sau, khi gần xong năm thứ nhất và sắp chuyển về một đại học khác, tôi nhớ ra chuyện cũ. Nửa đêm ngồi bật dậy sợ hãi toát cả mồ hôi, tôi bật đèn. Một lát sau tôi tắt hết đèn, chỉ để một ngọn rất nhỏ ở chân giường, trong bóng tối mờ mờ ấy của một ngày tháng sáu, tôi trò chuyện với người sinh viên đàn anh, kẻ quyết định kết thúc đời mình, hôm ấy tôi hỏi anh: tại sao? Tôi gởi câu hỏi ấy vào hư vô, lắng nghe tiếng vọng của nó trong gió ngoài tường gạch vôi vàng.
Tôi thuộc về tháng sáu. Tháng sáu là tháng của sự từ chối, của lời từ biệt đau buồn, của sự bỏ đi, của tình yêu nghiệt ngã. Của trở lại.
Chạy đi. Và đừng bao giờ quay nhìn lại em nữa.
Anh có hứa không?
Anh hứa.
Anh hứa cái gì?
Không bao giờ nhìn lại.
Đó là cuộc đối thoại ngắn giữa Jennie, do Lauren Banks thủ vai, và chồng nàng, Bass Reeves, do David Oyelowo, trong phim Lawmen, mô tả cuộc chạy trốn cuống cuồng của chàng trai da đen nô lệ bị chủ nhân đối xử tàn nhẫn và hèn hạ, trong hoàn cảnh Nội Chiến Hoa kỳ, vào năm 1862 ở Arkansas.
Khi một người bị gãy xương, chúng ta bó bột để cố định, làm cho xương không cử động được. Nhờ thế, trong bất động, các tế bào sinh ra, vết thương hàn gắn, và trong thời gian ấy chúng ta nương nhẹ vết thương, trò chuyện với chúng. Một dân tộc sau những gãy đổ cũng cần im lặng, bất động, suy nghĩ, thay vì những tiếng ồn, cờ và quạt, biểu ngữ, tượng đài. Chúng ta cần sự dịu dàng im lặng. Không một con đường nào không có bóng tối. Khi ở trong tối, chúng ta chờ sẽ có lúc gặp lại ánh sáng của mình. Ánh sáng sẽ tới. Trong quan sát của tôi, những buổi ra mắt về Thuyền là những giao tiếp không chỉ giữa tác giả và độc giả, mà còn là giữa độc giả và các nhà phê bình. Nếu ở Hà Nội là trang nhã, thì Huế sâu sắc, và Sài Gòn sôi nổi. Tôi hiều rằng điều ấy không chỉ vì cuốn sách, mà còn vì một điều khác lớn hơn: nhu cầu đối thoại của dân tộc về các vấn đề lịch sử.
Sau cuộc hội thảo, tôi còn ở lại một lúc lâu để ký tặng sách. Tôi mải thưa chuyện, không nhớ là trời sắp tối, đến khi ngẩng đầu lên thì mọi người đã về gần hết. Tôi nhìn thấy một người phụ nữ đứng im lặng trước mặt. Có lẽ cô đứng đó đã lâu, nhưng tôi không biết. Tôi lấy làm ngạc nhiên, và vì ngạc nhiên nên im lặng.
Cô nói:
Em muốn làm bạn với anh.
Tôi nhìn cô, ánh sáng lúc chiều tối chiếu hắt cái bóng của cánh cửa qua ngang mặt, nên nhìn không rõ lắm, chỉ thấy cặp mắt đen, tôi nhìn ra sau vai cô, ngoài cửa sổ mặt trời đã xuống, đêm Sài Gòn bắt đầu.
Đôi khi, quê hương là một người đàn bà.
Nguyễn Đức Tùng
bài đã đăng của Nguyễn Đức Tùng
- ngày và đêm - 11.06.2026
- Tháng Năm - 28.05.2026
- Tháng Tư - 16.04.2026
- Tháng ba - 20.03.2026
- Tháng Hai - 20.02.2026
- Tháng Một - 21.01.2026
- Tháng mười hai - 15.12.2025
- Tháng Mười Một - 20.11.2025
- người đi chân đất - chương 10 - 01.07.2025
- Sữa - 25.06.2025
- người đi chân đất - chương 9 - 24.06.2025
- Năm Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại - 18.06.2025
- người đi chân đất – chương 8 - 09.06.2025
- người đi chân đất–chương 7 - 29.05.2025
- vịnh thái lan - 14.05.2025
- Mẹ Tôi - 09.05.2025
- người đi chân đất – chương 6 - 08.05.2025
- người đi chân đất – chương 5 - 01.05.2025
- người đi chân đất – chương 4 - 15.04.2025
- người đi chân đất – chương 3 - 09.04.2025
- người đi chân đất - 25.03.2025
- MÃO XUYÊN, THƠ QUEER - 13.03.2025
- người đi chân đất: chương 1 - 12.03.2025
- Hai Truyện Cực Ngắn - 17.02.2025
- Stanley Kunitz, nghệ thuật kể chuyện - 04.01.2025
- Mùa thu đọc thơ Đỗ Quang Nghĩa - 22.11.2024
- hình ảnh trong thơ - 07.11.2024
- Nguyễn Viện, đã đến Phía Đông Âm Phủ - 03.10.2024
- tháng tám - 28.08.2024
- người nữ trong truyện nguyễn thị minh ngọc - 22.08.2024
- NGƯỜI KHẤT THỰC - 26.06.2024
- Đỗ Hồng Ngọc, cuộc đời đầy kinh ngạc - 29.05.2024
- tưởng niệm Alice Munro (1931-2024) - 20.05.2024
- Mùa xuân, tuyết tan - 25.03.2024
- mộc tinh - 18.03.2024
- Nghĩ Về Ai Của Đặng Thơ Thơ - 07.03.2024
- Bữa Tiệc - 28.02.2024
- đá - 20.02.2024
- di loan - 24.01.2024
- Nhã Ca, người đàn bà nào cũng đẹp - 10.01.2024
- Những năm tám mươi - 20.12.2023
- Buổi Trưa Nguyễn Đình Toàn - 11.12.2023
- Người thợ rèn - 29.09.2023
- Mùa dâu chín - 05.09.2023
- LÂM THỊ MỸ DẠ, THƠ LÀ CÁI ĐẸP - 10.08.2023
- note III - 20.07.2023
- Notes 2 - 06.07.2023
- Notes - 09.06.2023
- Đôi Giày Bata - 31.05.2023
- NHỮNG ĐỨA CON CỦA CHIẾN TRANH - 19.05.2023
- ĐÁ CÒN TƯỞNG NHỚ - 27.04.2023
- Nguyễn Viện, nghệ thuật tiểu thuyết - 18.04.2023
- NHỮNG NĂM HAI NGÀN - 31.01.2023
- TRÀ XUÂN - 20.01.2023
- LẠC ĐƯỜNG - Thư gởi con trai - 06.01.2023
- Chiquitita - 18.11.2022
- Nhớ Cung Trầm Tưởng - 13.10.2022
- Thanh Thảo, hát giữa gió mưa - 10.10.2022
- Mặt hồ êm ả - 30.08.2022
- GIỚI THIỆU THƠ DẠ THẢO PHƯƠNG - 11.08.2022
- Đọc thơ Nguyễn Hàn Chung - 11.07.2022
- Đọc thơ Hoàng Vũ Thuật - 21.06.2022
- Đinh Thị Như Thúy, đã có sai lầm ở đâu đó - 26.05.2022
- MẸ TÔI - 09.05.2022
- ngón tay - 06.05.2022
- thầy bói - 05.05.2022
- thủy táng - 27.04.2022
- NGƯỜI ĐÁNH MÁY CHỮ - 02.03.2022
- Quán hớt tóc - 26.01.2022
- Nguyễn Hưng Quốc, gây sự với hư không - 20.01.2022
- Cái hộp giấy - 04.01.2022
- CUỐN SÁCH ĐẦU TIÊN - 08.12.2021
- Đọc thơ 34: Đỗ Quyên, cho ta khóc một hệ người - 29.11.2021
- HALLOWEEN - 01.11.2021
- Nguyễn Linh Khiếu, Nếu ta có một nắm đất - 19.10.2021
- NGƯỜI SĂN ĐUỔI CÔ ĐƠN - 28.09.2021
- Một Ngày Không Quên - 13.09.2021
- THƯ GỞI CON TRAI NHÂN NGÀY TỰU TRƯỜNG - 10.09.2021
- Vu Lan nhớ mẹ - 24.08.2021
- Nên tiêm loại vaccine nào? - 20.08.2021
- Nghĩ khi chờ ở biên giới Hoa Kỳ - 19.08.2021
- Bài thơ Afghanistan - 18.08.2021
- Nếu Cần Hãy Hỏi Alexa - 12.07.2021
- Thư gởi con trai nhân Ngày Lễ Cha - 21.06.2021
- Như Quỳnh de Prelle, mùa vĩnh hằng - 01.06.2021
- Vô cùng dịu dàng hoàn toàn nguy hiểm - 28.05.2021
- CÔ MÙI CÒN KHÔNG - 04.05.2021
- Tô Thùy Yên, ngọn gió lạ thường sẽ thổi tới - 26.04.2021
- Nguyễn Viện, Tụng Ca Nhục Cảm - 16.04.2021
- Đọc Truyện "Muối Của Rừng" Của Nguyễn Huy Thiệp - 02.04.2021
- TRẦN MỘNG TÚ, MÌNH EM MỘT NGÔN NGỮ - 23.03.2021
- Nguyễn Đình Toàn, Khi Em Về Trời Xanh Và Gió Mát - 12.03.2021
- XẬP XÒE ÉN LIỆNG - 24.02.2021
- Mười Bài Haiku - 10.02.2021
- Bài Thơ Đồng Tâm - 30.01.2021
- cánh bướm - 21.12.2020
- Trăng màu mận chín - 09.12.2020
- Mao ở Vũ Hán - 24.11.2020
- khi còn bé tôi đọc sách - 11.11.2020
- MA - 03.11.2020